|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PÁC NẶM TỈNH BẮC KẠN Bản án số: 18/2024/HS - ST Ngày 12/9/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PÁC NẶM, TỈNH BẮC KẠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Tiến Đại.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lý Hồng Thái.
Ông Hoàng Văn Tuân.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Triệu Giang - Thẩm tra viên Tòa án
nhân dân huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn
tham gia phiên tòa: Ông Vi Văn Luận - Kiểm sát viên.
Trong ngày 12 tháng 9 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 16/2024/HSST ngày 31 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2022/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo.
Chúng Văn B (Tên gọi khác: Chúng Phúc B1), sinh ngày 01/01/1962; Nơi ĐKNKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn N, xã B, huyện P, tỉnh Bắc Kạn; Nghề nghiệp: Lao động tự do, Trình độ học vấn: 09/10; Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): không; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch Việt Nam; con ông Chúng Văn P, sinh năm 1937 và bà Nông Thị L, sinh năm 1936. Đều đã chết.; V là Trương Thị Y, sinh năm 1970; con: Có 03 con, con lớn sinh năm 1990, con nhỏ sinh năm 2003.
Tiền án, tiền sự: Không
Hiện bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú tại thôn N, xã B, huyện P, tỉnh Bắc Kạn. Có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
- Anh Nông Quốc Đ, sinh năm 1989.
- Chị Hoàng Thúy N, sinh năm 1991. Vắng mặt.
- Anh Bế Văn H, sinh năm 1980.
- Anh Chúng Văn Q, sinh năm 1985.
- Ông Chu Văn T, sinh năm 1978.
- Ông Lê Văn T1, sinh năm 1975 .
- Chị Hà Thị T2, sinh năm 1989.
- Anh Nguyễn Đình T3, sinh năm 1983.
- Chị Trương Thị Y, sinh năm 1970.
Đều có địa chỉ: Thôn Đ, xã B, huyện P, tỉnh Bắc Kạn.
Địa chỉ: Thôn K, xã N, huyện P, tỉnh Bắc Kạn.
Địa chỉ: Tiểu khu F, thị trấn C, huyện B, tỉnh Bắc Kạn.
Địa chỉ: Thôn K, xã N, huyện P, tỉnh Bắc Kạn.
Đều có địa chỉ: Thôn N, xã B, huyện P, tỉnh Bắc Kạn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 25/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P, tỉnh Bắc Kạn nhận được đơn tố giác của quần chúng nhân dân về việc Chúng Văn B có hành vi cho nhiều người trên địa bàn huyện P vay tiền và thu lãi cao.
Ngày 27/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P tiến hành khám xét khẩn cấp người, nhà ở và công trình liên quan đối Chúng Văn B, tại thôn N, xã B, huyện P. Thu giữ của Chúng Văn B các đồ vật, tài liệu gồm: 01 điện thoại di động, số tiền 1.600.000 đồng, 01 căn cước công dân, 08 giấy vay tiền, 02 giấy xác nhận tiền gửi online, 01 chứng chỉ tiền gửi ghi danh của Chúng Văn B, là các tài liệu, vật chứng liên quan đến hành vi phạm tội của Chúng Văn B.
Quá trình giải quyết vụ án đã xác định được: Chúng Văn B không có đăng ký kinh doanh trong lĩnh vực cho vay tín dụng, nhưng từ tháng 11/2022 đến ngày 27/12/2023, Chúng Văn B đã cho 07 người vay tiền theo hình thức vay tín chấp (không có tài sản đảm bảo) tổng số tiền cho vay là 205.000.000 đồng, lãi suất từ 3.000 đ/1.000.000 đồng/1 ngày đến 5.000 đồng/ 1.000.000 đồng/ 1 ngày, tương ứng với mức lãi suất từ 108% đến 180%/năm, gấp từ 5,4 lần đến 9 lần mức lãi suất cao nhất quy định của Bộ luật Dân sự là 20%/năm. Khi giao dịch, B và người vay thỏa thuận về số tiền vay, thời hạn vay, lãi suất cho vay, thỏa thuận về việc thu lãi trước trên tổng số tiền gốc mà B cho vay. Đối với người thân, quen
biết thì B chỉ thỏa thuận bằng miệng rồi cho vay, không viết giấy vay tiền, không yêu cầu thế chấp tài sản, đối với người không quen biết thì B yêu cầu viết giấy vay tiền hoặc thế chấp tài sản. Tùy từng trường hợp, B sẽ cắt lãi trước từ tiền gốc của khoản vay hoặc thu lãi theo thời hạn thỏa thuận. Trường hợp, người vay tiền không trả được tiền gốc trong thời hạn theo thỏa thuận, thì B và người vay thỏa thuận gia hạn thời hạn vay và B sẽ thu lãi suất theo tháng hoặc theo thời hạn đã gia hạn, mức lãi suất thu tương ứng với lãi suất mà các bên đã thỏa thuận khi vay (1 tháng tương ứng 30 ngày). Cụ thể như sau:
Lần thứ nhất: Tháng 11/2022, Chúng Văn B đã thoả thuận bằng miệng và cho Nông Quốc Đ, sinh năm 1989, trú tại thôn Đ, xã B, huyện P vay số tiền 20.000.000 đồng, thời hạn vay 01 tháng, lãi suất 3000đ/ 1triệu /1ngày bằng 1.800.000đ/tháng, tương ứng mức lãi suất là 108%/năm, gấp 5,4 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự.
Sau khi thỏa thuận, B chuyển khoản số tiền 20.000.000 đồng vào số tài khoản 860.220.501.1657 của Đ mở tại Ngân hàng N3 Chi nhánh huyện P (sau đây gọi tắt là Ngân hàng Nông nghiệp huyện P). Lần vay này, B không thu lãi trước của Đ, sau đó hằng tháng Đ trả tiền lãi cho B bằng hình thức trả bằng tiền mặt hoặc chuyển tiền qua số tài khoản 026.728.490.075 của B mở tại Ngân hàng Thương mại cổ phần B2 chi nhánh huyện P (sau đây gọi tắt là Ngân hàng L1), mỗi tháng 1.800.000 đồng. Từ tháng 12/2022 đến tháng 12/2023, B đã thu của anh Đ 13 tháng tiền lãi, mỗi tháng 1.800.000đ x 13 tháng = 23.400.000 đồng.
Theo quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì mức lãi cao nhất B được hưởng đối với khoản vay này là 4.000.000 đồng/năm, bằng 333.000đ/tháng x 13 tháng = 4.329.000 đồng.
Số tiền B thu lợi bất chính từ việc cho anh Đ vay tiền là: 23.400.000₫ – 4.329.000đ = 19.071.000đ. Nông Quốc Đ chưa trả được tiền gốc của khoản vay này cho B.
Lần thứ hai: Ngày 06/02/2023, Chúng Văn B đã thoả thuận bằng miệng và cho Hoàng Thúy N, sinh năm 1991, trú tại thôn Đ, xã B, huyện P vay số tiền 40.000.000 đồng, thời hạn 01 tháng, lãi suất là 4000đ/1triệu/1ngày, bằng 4.800.000đ/1 tháng, tương ứng mức lãi suất 144%/năm, gấp 7,2 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự. Sau đó B cắt tiền lãi của N trước 4.800.000 đồng của tháng đầu tiên từ số tiền gốc đã thỏa thuận vay, rồi chuyển tiền gốc còn lại cho N bằng hình thức chuyển khoản từ tài khoản của B số tiền là 35.200.000 đồng đến số tài khoản 001.108.749.999 của N mở tại Ngân hàng L1.
Sau 01 tháng, N không trả được tiền gốc cho B theo thoả thuận ban đầu nên N xin giảm tiền lãi từ 4.800.000 đồng/ tháng xuống còn 3.000.000đ/ tháng/tổng số tiền vay 40.000.000 đồng, tương đương 2.500đ/1 triệu/1 ngày thì được B đồng ý, từ tháng 3,4,5,6,7,8 đến tháng 9/2023 hằng tháng N trả tiền lãi theo thoả thuận bằng hình thức chuyển khoản đến số tài khoản 026.728.490.075 của B mở tại Ngân hàng L2 Pác Nặm.
Đến tháng 9/2023, N tiếp tục thoả thuận và xin B giảm lãi xuống 2.500.000đ/1 tháng thì được B đồng ý, sau đó N đã chuyển số tiền này cho B. Các tháng 10,11,12 năm 2023, N trình bày với B là không còn khả năng trả lãi và đề nghị trả dần tiền gốc thì được B đồng ý. Chị N chưa trả được tiền gốc của khoản vay này cho B.
Như vây, tổng số tiền lãi B đã thu của N trong tháng 02/2023 là: 4.800.000 đồng. Theo quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì mức lãi cao nhất B được hưởng đối với khoản vay này là 8.000.000 đồng/năm, bằng 666.000đ/tháng.
Số tiền B thu lợi bất chính từ việc cho chị N vay tiền là: 4.800.000₫ – 666.000₫ = 4.134.000₫.
Lần thứ ba: Ngày 25/5/2023, Chúng Văn B đã thoả thuận bằng miệng và cho Bế Văn H, sinh năm 1980, trú tại thôn Đ, xã B, huyện P vay số tiền 20.000.000 đồng, thời hạn 01 tháng, lãi suất 3000đ/ 1 triệu/ 1 ngày bằng 1.800.000đ/ 1 tháng, tương ứng mức lãi suất 108%/năm, gấp 5,4 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự.
Sau đó, B cắt tiền lãi của H trước 1.800.000 đồng của tháng đầu tiên từ số tiền gốc đã thỏa thuận vay, rồi chuyển tiền gốc còn lại cho H bằng hình thức chuyển khoản từ tài khoản của B số tiền là 18.200.000 đồng đến số tài khoản 860.220.500.2735 của H mở tại Ngân hàng Nông nghiệp huyện P.
Sau 01 tháng, H chưa trả được tiền gốc cho B và đề nghị được trả tiền lãi các tháng tiếp theo, sau đó hằng tháng H trả tiền lãi theo thoả thuận ban đầu bằng hình thức đưa tiền mặt hoặc chuyển khoản đến số tài khoản 026.728.490.075 của B mở tại Ngân hàng L1.
Từ tháng 5/2023 đến ngày 27/12/2023, B đã thu tiền lãi của H 08 tháng x 1.800.000đ/1 tháng = 14.400.000 đồng.
Theo quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì mức lãi cao nhất B được hưởng đối với khoản vay này là 4.000.000 đồng/ năm, bằng 333.000đ/ tháng x 8 tháng = 2.664.000 đồng.
Số tiền B thu lợi bất chính từ việc cho H vay khoản tiền này là: 14.400.000 đồng – 2.664.000 đồng = 11.736.000 đồng. Anh H chưa trả được tiền gốc 20.000.000 đồng của khoản vay này cho B.
- Ngày 27/7/2023, do cần tiền H tiếp tục thỏa thuận bằng miện và vay thêm của B số tiền là 10.000.000 đồng, theo thoả thuận mức tiền lãi như ban đầu là 3000đ/1 triệu/1 ngày. Sau đó, B đã cắt lãi của H trước 900.000 đồng của tháng đầu tiên từ số tiền gốc đã thỏa thuận vay, rồi chuyển tiền gốc còn lại cho H bằng hình thức chuyển khoản từ tài khoản của B số tiền là 9.100.000 đồng đến số tài khoản 860.220.500.2735 của H mở tại Ngân hàng Nông Nghiệp huyện P.
Từ ngày 27/7/2023 đến ngày 21/11/2023, B đã thu tiền lãi của H 04 tháng x 900.000đ/1 tháng = 3.600.000 đồng.
Theo quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì mức lãi cao nhất B được hưởng đối với khoản vay này là 2.000.000 đồng/năm, bằng 167.000đ/tháng x 4 tháng = 668.000 đồng.
Số tiền B thu lợi bất chính từ việc cho H vay khoản tiền này là: 3.600.000 đồng – 668.000 đồng = 2.932.000 đồng. Anh H đã trả được tiền gốc 10.000.000 đồng của khoản vay này cho B.
Như vậy, tổng số tiền lãi B đã thu lợi bất chính từ 02 khoản tiền mà H đã vay vào ngày 25/5/2023 và ngày 27/7/2023 là: 11.736.000đ + 2.932.000đ = 14.668.000 đồng.
Lần thứ tư: Đầu tháng 6/2023, Chúng Văn B đã thoả thuận bằng miệng và cho Chu Văn T, sinh năm 1978, trú tại thôn K, xã N, huyện P vay số tiền 15.000.000 đồng, thời hạn 01 tháng, lãi suất 5000đ/1 triệu/1 ngày bằng 2.250.000đ/1 tháng, tương ứng mức lãi suất 180%/năm, gấp 9 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự.
Sau đó, B đã cắt lãi của Thụ trước 2.250.000 đồng của tháng đầu tiên từ số tiền gốc đã thỏa thuận vay, rồi chuyển tiền gốc còn lại cho T bằng hình thức đưa tiền mặt số tiền 12.750.000 đồng.
Sau khi hết thời hạn vay là 01 tháng theo thỏa thuận, do T chưa có tiền gốc để trả nên B đã tự nguyện giảm tiền lãi cho T từ 2.250.000đ/tháng xuống còn 1.500.000đ/1 tháng, tương đương mức lãi suất 3.340đ/1 triệu/1 tháng đối với khoản vay 15.000.000₫ Thụ đã vay của B, hàng tháng Thụ trả tiền lãi theo thoả thuận bằng hình thức trả tiền mặt hoặc nhờ người khác chuyển khoản đến số tài khoản 026.728.490.075 của B mở tại Ngân hàng L1.
Từ tháng 6/2023 đến tháng 12/2023, B đã thu của T 7 tháng tiền lãi với tổng số tiền 11.250.000 đồng, trong đó tháng 6/2023 thu 2.250.000 đồng, các tháng 7,8,9,10,11,12/2023, B thu của T mỗi tháng 1.500.000₫ x 06 tháng = 9.000.000 đồng.
Theo quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì mức lãi cao nhất B được hưởng đối với khoản vay này là 3.000.000 đồng/năm, bằng 250.000đ/tháng x 7 tháng = 1.750.000 đồng.
Như vậy, tổng số tiền B thu lợi bất chính từ việc cho T vay khoản tiền này là: 11.250.000 đồng – 1.750.000 đồng = 9.500.000 đồng. Chu Văn T chưa trả được tiền gốc của khoản vay này cho B.
Lần thứ năm: Ngày 21/6/2023, Chúng Văn B cho Lê Văn T1, sinh năm 1975, trú tại Tiểu khu F, thị trấn C, huyện B, tỉnh Bắc Kạn vay số tiền 20.000.000 đồng, B yêu cầu T1 viết 01 giấy vay tiền do B giữ. Sau đó, thỏa thuận thời hạn vay là 01 tháng, lãi suất 5000đ/1triệu/1ngày, tương đương 150.000đ/1 ngày, bằng 3.000.000đ/1 tháng, tương ứng mức lãi suất 180%/năm, gấp 9 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự.
Sau đó, B đã cắt tiền lãi của T1 trước 3.000.000 đồng của tháng đầu tiên từ số tiền gốc đã thỏa thuận vay, rồi chuyển tiền gốc còn lại cho T1 bằng hình thức chuyển khoản từ tài khoản của B số tiền là 17.000.000 đồng đến số tài khoản 860.223.603.6368 của T1 mở tại Ngân hàng N.
Sau khi hết thời hạn vay 01 tháng, T1 không trả được tiền gốc cho B nên các bên đã thỏa thuận T1 sẽ tiếp tục trả tiền lãi là 3.000.000 đồng/ tháng cho B đến khi thanh toán hết nợ gốc. Sau đó hằng tháng T1 trả tiền lãi cho B bằng hình thức chuyển khoản đến số tài khoản 026.728.490.075 của B mở tại Ngân hàng L1.
Từ ngày 21/6/2023 đến ngày 27/12/2023, B đã thu của T1 07 tháng tiền lãi, với tổng số tiền 3.000.000₫ x 7 tháng = 21.000.000 đồng.
Theo quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì mức lãi cao nhất B được hưởng đối với khoản vay này là 4.000.000 đồng/năm, bằng 333.000đ/tháng x 7 tháng = 2.331.000 đồng.
Như vậy, số tiền B thu lợi bất chính từ việc cho T1 vay khoản tiền này là: 21.000.000 đồng – 2.331.000 đồng = 18.669.000 đồng. Lê Văn T1 chưa trả được tiền gốc của khoản vay này cho B.
Lần thứ sáu: Ngày 22/8/2023, Chúng Văn B đã thoả thuận bằng miệng và cho Nguyễn Đình T3, sinh năm 1983, trú tại thôn N, xã B, huyện P, tỉnh Bắc Kạn vay số tiền 50.000.000 đồng, thời hạn vay 10 ngày, lãi suất 3000đ/1triệu/1ngày,
bằng 1.800.000đ/ 1 tháng, tương ứng mức lãi suất 108%/năm, gấp 5,4 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự.
Sau đó, B đã cắt 10 ngày tiền lãi với số tiền 1.500.000đ từ số tiền gốc đã thỏa thuận vay, rồi chuyển tiền gốc còn lại cho T3 bằng hình thức chuyển khoản từ tài khoản của B số tiền là 48.500.000 đồng đến số tài khoản 860.221.502.3102 của T3 mở tại Ngân hàng N.
Sau 10 ngày, T3 chưa trả được tiền gốc cho B nên xin gia hạn thêm 10 ngày với số tiền lãi là 1.500.000 đồng thì được B đồng ý. Đến ngày 12/9/2023, T3 mang theo tiền mặt đến nhà để trả cho B tổng số tiền là 51.500.000 đồng, gồm 50.000.000 đồng tiền gốc và 1.500.000 đồng tiền lãi của 10 ngày tiếp theo.
Trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày 22/8/2023, B đã thu của T3 3.000.000 đồng tiền lãi của khoản vay 50.000.000 đồng (3.000 đồng x 50 x 20 ngày = 3.000.000 đồng).
Theo quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì mức lãi cao nhất B được hưởng đối với khoản vay này là 10.000.000 đồng/năm, bằng 833.000đ/tháng, tương đương 27.700 đồng/ ngày x 20 ngày = 554.000 đồng.
Như vậy, số tiền B thu lợi bất chính từ việc cho T3 vay khoản tiền này là 2.446.000 đồng (3.000.000 đồng – 554.000 đồng = 2.446.000 đồng).
Lần thứ bảy: Ngày 20/12/2023, Chúng Văn B cho Hà Thị T2, sinh năm 1989, trú tại thôn K, xã N, huyện P, tỉnh Bắc Kạn vay số tiền 30.000.000 đồng, T2 cầm cố 01 sổ tiết kiệm mang tên Hà Thị T2 và tự viết 01 giấy vay tiền đề ngày 20/12/2023. B và T2 thỏa thuận thời hạn vay là 20 ngày từ ngày 20/12/2023 đến ngày 10/01/2024, lãi suất 5000đ/1triệu/1ngày tương đương 3.000.000đ/ 20 ngày, tương ứng mức lãi suất 180%/năm, gấp 9 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự.
Sau đó, B cắt trước tiền lãi 20 ngày của T2 với số tiền 3.000.000 đồng từ số tiền gốc đã thỏa thuận vay, rồi chuyển tiền gốc còn lại cho T2 bằng hình thức chuyển khoản từ tài khoản của B số tiền là 27.000.000 đồng đến số tài khoản 027.793.140.004 của T2 mở tại Ngân hàng L1.
Ngày 27/12/2023, hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự của Chúng Văn B bị Cơ quan điều tra phát hiện và ngăn chặn. Do đó, xác định thời hạn của khoản vay này là 07 ngày, từ ngày 20/12/2023 đến ngày 27/12/2023.
Như vậy, B đã thu của T2 1.050.000 đồng tiền lãi của khoản vay 30.000.000 đồng (5.000 đồng x 30 x 7 ngày = 1.050.000 đồng).
Theo quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì mức lãi cao nhất B được hưởng đối với khoản vay này là 6.000.000 đồng/năm, bằng 500.000đ/tháng, tương đương 16.600 đồng/ ngày x 07 ngày = 116.000 đồng.
Như vậy, số tiền B thu lợi bất chính từ việc cho T2 vay khoản tiền này là: 1.050.000 đồng – 116.000 đồng = 934.000 đồng. Hà Thị T2 đã trả tiền gốc của khoản vay này cho B.
Ngày 27/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P ra Lệnh phong tỏa tài khoản số 49/LPT-CSĐT, phong tỏa số tiền 220.000.000 đồng của Chúng Văn B trong 02 tài khoản loại tiền gửi tiết kiệm online, số tài khoản 026.728.190.107 và số tài khoản 026.728.190.094 mở tại Ngân hàng Thương mại cổ phần B2 chi nhánh huyện P.
Vật chứng, tài sản tạm giữ của vụ án bao gồm:
01 (một) giấy vay tiền do Lê văn T4 viết ngày 21/6/2023 và 01 (một) giấy vay tiền do Hà Thị T2 viết ngày 20/12/2023, đã được đưa vào trong hồ sơ vụ án.
Quá trình giải quyết, Cơ quan điều tra đã tạm giữ các đồ vật, tài sản nhưng không liên quan đến vụ án, đã trả cho chủ sở hữu gồm:
- Trả cho bà Trương Thị Y, sinh năm 1970, trú tại thôn N, xã B, huyện P, tỉnh Bắc Kạn: Số tiền 1.600.000 đồng.
- Trả cho Lường Văn N1, sinh năm 1991, trú tại xã Đ, huyện C, tỉnh Bắc Kạn: 01 (một) căn cước công dân số [...] mang tên Lường Văn N1.
- Trả cho Hà Thị T2, sinh năm 1989, trú tại Thôn K, xã N, huyện P, tỉnh Bắc Kạn: 01 (một) giấy xác nhận tiền gửi tiết kiệm online mang tên Hà Thị T2.
- Trả cho Chúng Văn B, sinh năm 1962, trú tại thôn N, xã B, huyện P, tỉnh Bắc Kạn: 01 chiếc ví da màu đen đã qua sử dụng; 01 giấy vay tiền do Lường Văn N1, sinh năm 1991, trú tại xã Đ, huyện C, tỉnh Bắc Kạn viết ngày 12/7/2022; 03 giấy vay tiền do Lê Hồng Q1, sinh năm 1981, trú tại thôn N, xã B, huyện P, tỉnh Bắc Kạn viết các ngày 09/4/2022; 06/02/2022; 15/5/2022; 01 giấy vay tiền do Lê Đình P1 sinh năm 1968, trú tại thôn N, xã B, huyện P, tỉnh Bắc Kạn viết ngày 25/7/2022; 02 giấy xác nhận tiền gửi tiết kiệm online mang tên Chúng Văn B; 01 chứng chỉ tiền gửi ghi danh mang tên Chúng Văn B.
- Trả lại cho Chúng Văn Q, sinh năm 1985, trú tại thôn Đ, xã B, huyện P, tỉnh Bắc Kạn: 01 chiếc điện thoại di động Iphone 15 Pro M.
- 01 giấy vay tiền do Đặng Thị N2, sinh năm 1977, trú tại Tổ E, phường P, TP B, tỉnh Bắc Kạn, viết ngày 03/11/2022, Cơ quan CSĐT chuyển cho Công an huyện P để xem xét xử lý hành chính theo quy định của pháp luật.
Quá trình giải quyết vụ án, bị cáo Chúng Văn B thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân. Ngày 08/7/2024, Chúng Văn B tự nguyện nộp số tiền 50.000.000 đồng vào Chi cục Thi hành án dân sự huyện Pác Nặm để khắc phục hậu quả.
Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án.
Tại bản cáo trạng số 16/CT-VKSPN ngày 31/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Pác Nặm, đã truy tố bị cáo Chúng Văn B về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 1 Điều 201 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Pác Nặm trong phần luận tội đã giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử Tuyên bố bị cáo Chúng Văn B phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
- Về trách nhiệm hình sự:
Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 201; Điều 50; điểm b, s khoản 1 Điều 51;
Điều 36 của Bộ luật Hình sự.
Đề nghị xử phạt bị cáo Chúng Văn B từ 18 (Mười tám) đến 24 (Hai mươi tư) tháng cải tạo không giam giữ.
Phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo từ 40.000.000đ đến 50.000.000₫
- Về biện pháp tư pháp:
Buộc bị cáo phải nộp vào ngân sách nhà nước số tiền bị cáo dùng để cho vay lãi nặng 205.000.000đ. Tuy nhiên hiện nay còn số tiền 115.000.000₫ của những người vay chưa trả cho bị cáo số tiền gốc đã vay với bị cáo nên cần buộc những người này phải nộp số tiền đó và ngân sách nhà nước. Cụ thể:
- Buộc anh Nông Quốc Đ, sinh năm 1989, trú tại thôn Đ, xã B, huyện P nộp số tiền 20.000.000 đồng.
- Buộc chị Hoàng Thúy N, sinh năm 1991, trú tại thôn Đ, xã B, huyện P nộp số tiền 40.000.000 đồng.
- Buộc ông Bế Văn H, sinh năm 1980, trú tại thôn Đ, xã B, huyện P nộp số tiền 20.000.000 đồng.
- Buộc ông Chu Văn T, sinh năm 1978, trú tại thôn K, xã N, huyện P nộp số tiền 15.000.000 đồng.
- Buộc ông Lê Văn T1, sinh năm 1975, trú tại Tiểu khu F, thị trấn C, huyện B, tỉnh Bắc Kạn nộp số tiền 20.000.000 đồng.
Số tiền còn lại buộc bị cáo phải có nghĩa vụ nộp vào ngân sách nhà nước là 90.000.000₫ (Chín mươi triệu đồng).
Buộc bị cáo nộp lại số tiền lãi tương ứng với mức 20%/năm theo quy định của Bộ luật dân sự là 13.078.000đ.
Buộc bị cáo phải trả lại cho người vay là những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khoản tiền lãi vượt quá mức lãi suất 20%/năm cụ thể:
- Trả lại cho anh Nông Quốc Đ 19.071.000₫
- Trả lại cho chị Hoàng Thúy N 4.134.000₫
- Trả lại cho ông Bế Văn H 14.668.000₫
- Trả lại cho ông Chu Văn T 9.500.000₫
- Trả lại cho ông Lê Văn T1 18.669.000₫
- Trả lại cho ông Nguyễn Đình T3 2.446.000₫
- Trả lại cho chị Hà Thị T2 934.000₫
- Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
01 (một) giấy vay tiền do Lê văn T4 viết ngày 21/6/2023 và 01 (một) giấy vay tiền do Hà Thị T2 viết ngày 20/12/2023, là tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, do vậy sẽ được lưu trong hồ sơ vụ án.
Các vật chứng khác đã được xử lý tại Cơ quan điều tra.
Tiếp tục tạm giữ số tiền bị cáo đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Pác Nặm và tiếp tục phong tỏa số tiền 220.000.000 đồng của Chúng Văn B trong 02 tài khoản loại tiền gửi tiết kiệm online, số tài khoản 026.728.190.107 và số tài khoản 026.728.190.094 mở tại Ngân hàng Thương mại cổ phần B2 chi nhánh huyện P để đảm bảo thi hành án.
- Án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016 ngày 30/12/2016 của UBTVQH. Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
* Bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, không có ý kiến tranh luận gì với quyết định truy tố và luận tội của Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã nhận thấy mình đã vi phạm pháp luật và mong muốn Hội đồng xét xử xem xét cho được hưởng sự khoan hồng của pháp luật để được hưởng mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện P, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Như vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa bị cáo Chúng Văn B đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân như Cáo trạng đã truy tố, phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra cũng như lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và toàn bộ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định: Trong khoảng thời gian từ tháng 11 năm 2022 đến ngày 27 tháng 12 năm 2023, tại thôn N, xã B, huyện P, tỉnh Bắc Kạn, Chúng Văn B đã cho 07 người vay tổng số tiền là 205.000.000 đồng, lãi suất từ 3000 đồng/ 1.000.000 đồng/ 1 ngày đến 5000 đồng/ 1.000.000 đồng/ 1 ngày tương ứng với mức lãi suất từ 108%/năm đến 180%/năm, gấp từ 5,4 lần đến 9 lần của mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, thu lợi bất chính tổng số tiền 69.422.000 đồng.
Từ đó có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo cho vay với lãi suất gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất là 20%/năm theo quy định của Bộ luật dân sự, thu lợi bất chính từ ba mươi triệu đồng trở lên đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 1 Điều 201 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Điều 201 Bộ luật hình sự quy định:
1. Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.
3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
[3] Đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước trong lĩnh vực tài chính, Ngân hàng, hành vi
đó làm cho người vay tiền lâm vào hoàn cảnh khó khăn, gây bất bình cho quần chúng nhân dân, ảnh hưởng xấu đến công tác đấu tranh phòng chống tệ nạn xã hội, bị cáo là người có đầy đủ năng lực pháp luật hình sự, ý thức được hành vi cho vay lãi nặng pháp luật nghiêm cấm nhưng do hám lợi và coi thường pháp luật nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội, do đó hành vi của bị cáo cần phải được xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật để nhằm răn đe giáo dục và phòng ngừa chung.
[4] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không thuộc diện hộ nghèo, có tài sản và có khả năng thi hành hình phạt bổ sung là phạt tiền nên áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp.
[5] Xét về nhân thân: Bị cáo sinh ra tại Bắc Kạn, được gia đình nuôi ăn học hết lớp 9 thì nghỉ học ở nhà lao động tự do; năm 1981 có hành vi cướp tài sản bị Tòa án nhân dân tỉnh Bao Bằng xử phạt 05 năm tù; năm 1997 có hành vi cướp tài sản bị Tòa án nhân dân tối cao xử phạt 06 năm tù; năm 2004 có hành vi tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy bị Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn xử phạt 08 năm tù; ngày 12/3/2024 bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P, tỉnh Bắc Kạn khởi tố về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”
[6] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tự nguyện nộp số tiền 50.000.000đ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Pắc Nặm nhằm khắc phục hậu quả, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Về tình tình tăng nặng: Không có.
[7] Về biện pháp tư pháp:
* Đối với số tiền gốc mà bị cáo dùng để cho vay lãi nặng là 205.000.000 đồng là phương tiện phạm tội nên cần truy thu để nộp ngân sách Nhà nước. Tuy nhiên có những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án đã vay tiền của bị cáo nhưng hiện chưa trả gốc cho bị cáo với số tiền 115.000.000đ, nên cần buộc những người này phải nộp số tiền đó và ngân sách nhà nước. Cụ thể:
- Buộc anh Nông Quốc Đ, sinh năm 1989, trú tại thôn Đ, xã B, huyện P nộp số tiền 20.000.000 đồng.
- Buộc chị Hoàng Thúy N, sinh năm 1991, trú tại thôn Đ, xã B, huyện P nộp số tiền 40.000.000 đồng.
- Buộc ông Bế Văn H, sinh năm 1980, trú tại thôn Đ, xã B, huyện P nộp số tiền 20.000.000 đồng.
- Buộc ông Chu Văn T, sinh năm 1978, trú tại thôn K, xã N, huyện P nộp số tiền 15.000.000 đồng.
- Buộc ông Lê Văn T1, sinh năm 1975, trú tại Tiểu khu F, thị trấn C, huyện B, tỉnh Bắc Kạn nộp số tiền 20.000.000 đồng.
Số tiền còn lại buộc bị cáo phải có nghĩa vụ nộp vào ngân sách nhà nước là 90.000.000đ (Chín mươi triệu động).
* Đối với số tiền lãi tương ứng với mức lãi suất 20%/năm theo quy định của Bộ luật dân sự là 13.078.000 đồng mà bị cáo đã thu lời tuy không bị tính xác định trách nhiệm hình sự nhưng là khoản tiền phát sinh từ tội phạm nên buộc bị cáo phải nộp vào ngân sách Nhà nước. Cụ thể.
- Tiền lãi tương ứng với mức lãi suất 20%/năm thu được của Nông Quốc Đ là 4.329.000₫.
- Tiền lãi tương ứng với mức lãi suất 20%/năm thu được của Hoàng Thúy N là 660.000₫.
- Tiền lãi tương ứng với mức lãi suất 20%/năm thu được của Bế Văn H là 3.332.000₫.
- Tiền lãi tương ứng với mức lãi suất 20%/năm thu được của Chu Văn T là 1.750.000₫.
- Tiền lãi tương ứng với mức lãi suất 20%/năm thu được của Lê Văn T1 là 2.331.000₫.
- Tiền lãi tương ứng với mức lãi suất 20%/năm thu được của Nguyễn Đình T3 là 554.000₫.
- Tiền lãi tương ứng với mức lãi suất 20%/năm thu được của Hà Thị T2 là 116.000₫.
* Đối với khoản tiền lãi vượt quá mức lãi suất 20%/năm là khoản tiền mà bị cáo thu lợi bất chính của người vay nên buộc bị cáo phải trả lại cho người vay là những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan với tổng số tiền là 69.422.000₫ cụ thể:
- Trả lại cho anh Nông Quốc Đ 19.071.000₫
- Trả lại cho chị Hoàng Thúy N 4.134.000₫
- Trả lại cho ông Bế Văn H 14.668.000₫
- Trả lại cho ông Chu Văn T 9.500.000₫
- Trả lại cho ông Lê Văn T1 18.669.000₫
- Trả lại cho ông Nguyễn Đình T3 2.446.000₫
- Trả lại cho chị Hà Thị T2 934.000₫
[8] Về xử lý vật chứng:
01 (một) giấy vay tiền do Lê văn T4 viết ngày 21/6/2023 và 01 (một) giấy vay tiền do Hà Thị T2 viết ngày 20/12/2023, là tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, do vậy sẽ được lưu trong hồ sơ vụ án.
Các vật chứng khác đã được xử lý tại Cơ quan điều tra.
Việc xử lý vật chứng của Cơ quan điều tra phù hợp với quy định tại Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Tiếp tục tạm giữ số tiền 50.000.000₫ bị cáo đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Pác Nặm và tiếp tục phong tỏa số tiền 220.000.000 đồng của Chúng Văn B trong 02 tài khoản loại tiền gửi tiết kiệm online, số tài khoản 026.728.190.107 và số tài khoản 026.728.190.094 mở tại Ngân hàng Thương mại cổ phần B2 chi nhánh huyện P để đảm bảo thi hành án.
[9] Đánh giá về quan điểm truy tố, đề nghị của Viện kiểm sát là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử. Tuy nhiên về mức hình phạt chính và hình phạt bổ sung, Hội đồng xét xử thấy không cần thiết phải áp dụng mức hình phạt như Đại diện Viện kiểm sát đề nghị vì bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, cần cho bị cáo được hưởng mức án thấp hơn để đảm bảo sự khoan hồng của pháp luật mà vẫn đảm bảo giáo dục bị cáo.
[10] Các nội dung khác.
Đối với Chúng Văn Q, là người đã cho Chúng Văn B mượn chiếc điện thoại Iphone 15 Pro Max để sử dụng liên lạc, sau đó B đã sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nhưng Q không biết, do vậy không đề cập xử lý đối với Chúng Văn Q là phù hợp.
Đối với việc Chúng Văn B cho Lê Hồng Q1 vay 130.000.000 đồng, cho Lường Văn N1 vay 50.000.000 đồng và cho Lê Đình P1 vay 30.000.000 đồng, kết quả điều tra xác định, khi cho vay B không thu lãi suất của những người này nên không đề cập xử lý là phù hợp.
Ngày 03/11/2023, Chúng Văn B cho Đặng Thị N2, sinh năm 1977, trú tại Tổ E, phường P, TP B, tỉnh Bắc Kạn vay số tiền 20.000.000 đồng khi cho vay B không yêu cầu tiền lãi nhưng N2 đã tự nguyện trả lãi cho B với mức lãi suất 2.500đ/1 triệu/1 ngày, tương ứng mức lãi suất 91%/năm và cho Hoàng Thúy N vay số tiền 40.000.000 đồng, nhưng sau đó B và N đã thoả thuận lãi suất các tháng từ tháng 3/2023 đến tháng 9/2023 là 2.500đ/1 triệu/1 ngày, tương ứng mức lãi suất 91%/năm. Kết quả điều tra xác định, mức lãi suất của các khoản vay này đã vượt quá mức lãi suất 20% nhưng chưa vượt quá 05 lần của mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P đã chuyển hồ sơ đến Công an huyện P để xem xét xử lý vi phạm hành chính là phù hợp.
[11] Về án phí: Bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống ở xã có điều
kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và bị cáo có đơn xin miễn án phí. Do vậy cần miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo là phù hợp với quy định tại Điều 12, Điều 14, Điều 15 Nghị quyết số 326/2016 của UBTVQH quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 201; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự;
1. Tuyên bố bị cáo Chúng Văn B phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
2. Về hình phạt:
Xử phạt bị cáo Chúng Văn B 12 (Mười hai) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã B, huyện P, tỉnh Bắc Kạn được giao giám sát, giáo dục nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Giao bị cáo Chúng Văn B; tên gọi khác: Chúng Phúc B1 cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện P, tỉnh Bắc Kạn giám sát và giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ.
Không khấu trừ thu nhập của bị cáo.
Phạt bổ sung bị cáo số tiền 30.000.000đ ( Ba mươi triệu đồng).
3. Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46; Điều 47; Điều 48 của Bộ luật Hình sự;
3.1. Buộc bị cáo Chúng Văn B nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền gốc cho vay lãi nặng là: 90.000.000₫ (Chín mươi triệu đồng).
3.2. Buộc bị cáo Chúng Văn B nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền 13.078.000₫ (Mười ba triệu không trăm bảy mươi tám nghìn đồng) tiền lãi tương ứng với mức lãi suất 20%/năm theo quy định của Bộ luật dân sự.
3.3. Buộc bị cáo Chúng Văn B trả lại khoản tiền lãi vượt quá mức lãi suất 20%/năm cho những người có quyền lợi nghĩa liên quan với tổng số tiền là 69.422.000đ cụ thể:
- Trả lại cho anh Nông Quốc Đ, sinh năm 1989 số tiền 19.071.000đ.
- Trả lại cho chị Hoàng Thúy N, sinh năm 1991 số tiền 4.134.000đ.
- Trả lại cho ông Bế Văn H, sinh năm 1980 số tiền 14.668.000đ.
- Trả lại cho ông Chu Văn T, sinh năm 1978. Địa chỉ: Thôn K, xã N, huyện P, tỉnh Bắc Kạn số tiền 9.500.000₫.
- Trả lại cho ông Lê Văn T1, sinh năm 1975. Địa chỉ: Tiểu khu F, thị trấn C, huyện B, tỉnh Bắc Kạn số tiền18.669.000đ.
- Trả lại cho ông Nguyễn Đình T3,sinh năm 1983. Địa chỉ: Thôn N, xã B, huyện P, tỉnh Bắc Kạn số tiền2.446.000₫
- Trả lại cho chị Hà Thị T2, sinh năm 1989. Địa chỉ: Thôn K, xã N, huyện P, tỉnh Bắc Kạn số tiền 934.000₫
Đều có địa chỉ: Thôn Đ, xã B, huyện P, tỉnh Bắc Kạn.
3.4. Buộc những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án còn nợ số tiền gốc của bị cáo phải nộp số tiền còn nợ vào Ngân sách Nhà nước tổng số tiền 115.000.000đ, cụ thể:
- Buộc anh Nông Quốc Đ, sinh năm 1989, trú tại thôn Đ, xã B, huyện P nộp số tiền 20.000.000 đồng.
- Buộc chị Hoàng Thúy N, sinh năm 1991, trú tại thôn Đ, xã B, huyện P nộp số tiền 40.000.000 đồng.
- Buộc ông Bế Văn H, sinh năm 1980, trú tại thôn Đ, xã B, huyện P nộp số tiền 20.000.000 đồng.
- Buộc ông Chu Văn T, sinh năm 1978, trú tại thôn K, xã N, huyện P nộp số tiền 15.000.000 đồng.
- Buộc ông Lê Văn T1, sinh năm 1975, trú tại Tiểu khu F, thị trấn C, huyện B, tỉnh Bắc Kạn nộp số tiền 20.000.000 đồng.
3.5. Tiếp tụng tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho bị cáo số tiền 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng) bị cáo đã nộp theo biên lai thu số 0001959 ngày 08/7/2024 tại Chị cục Thi hành án dân sự huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn.
Tiếp tục phong tỏa số tiền 220.000.000 đồng của Chúng Văn B trong 02 tài khoản loại tiền gửi tiết kiệm online, số tài khoản 026.728.190.107 và số tài khoản 026.728.190.094 mở tại Ngân hàng Thương mại cổ phần B2 chi nhánh huyện P để đảm bảo thi hành án cho bị cáo.
Việc thi hành án được thực hiện theo Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015
“Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.
Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015”
4. Về xử lý vật chứng: Không có.
5. Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Trường hợp Bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
6. Án xử công khai sơ thẩm. Bị cáo, có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa, vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt, niêm yết hợp lệ. /.
|
Nơi nhân:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Tiến Đại |
Bản án số 18/2024/HS - ST ngày 12/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PÁC NẶM, TỈNH BẮC KẠN về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Số bản án: 18/2024/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PÁC NẶM, TỈNH BẮC KẠN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: B cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
