Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC KẠN

Bản án số: 18/2024/HS - ST

Ngày: 12/6/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC KẠN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Quang Huy.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đoàn Việt Hưng;

Bà Đặng Thị Xuân.

- Thư ký phiên tòa: Bà Triệu Thị Yến, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Ông Mai Duy Định, Kiểm sát viên.

Ngày 12/6/2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 16/2024/TLST-HS, ngày 20/3/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:16/2024/QĐXXST-HS ngày 19/4/2024 đối với bị cáo:

Đào Thị Ngọc M - Tên gọi khác: Không có; Sinh ngày 12 tháng 12 năm 1993, tại: tỉnh Bắc Kạn. Nơi thường trú: Tổ F, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn; Nơi ở hiện tại: tổ I, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn. Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nữ; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12. Con ông Đào Văn Q, sinh năm 1963 và bà Vũ Thị C, sinh năm 1961. Bị cáo có chồng là Nguyễn Tiến V, sinh năm 1991 và có 03 con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2022. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16/12/2023 đến ngày 22/12/2023. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Triệu Thị Thu T, sinh năm 1986, trú tại: Tổ G, phường S, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn; (Vắng mặt tại phiên tòa)
  2. Nông Triệu Thùy L, sinh năm 1989, trú tại: Tổ G, phường P, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn; (Vắng mặt tại phiên tòa)
  3. Hoàng Thị Hồng M1, sinh năm 1991, trú tại: Tổ A, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn; (Vắng mặt tại phiên tòa)
  4. Nguyễn Hoàng Y, sinh năm 1987, trú tại: Tổ A, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn; (Vắng mặt tại phiên tòa)
  5. Bàn Thị Thu H, sinh năm 1983, trú tại: Thôn B, xã D, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn; (Vắng mặt tại phiên tòa)
  6. Nguyễn Thị H1, sinh năm 1989, trú tại: Tổ N, thị trấn Y, huyện N, tỉnh Bắc Kạn; (Vắng mặt tại phiên tòa)
  7. Luân Thị Q1, sinh năm 1978, trú tại: Tổ D, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn; (Vắng mặt tại phiên tòa)
  8. Nguyễn Thị B, sinh năm 1982, trú tại: Tổ D, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn. (Vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 15/12/2023, Phòng C2 Công an tỉnh B nhận được tin báo của quần chúng nhân dân về việc tại quán C3 thuộc tổ I, phường Đ, thành phố B do Đào Thị Ngọc M làm chủ có biểu hiện cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự. Hồi 13 giờ 10 phút cùng ngày, tổ công tác của Phòng C2 phối hợp với chính quyền địa phương tiến hành kiểm tra tạiquán cắt tóc Mai V phát hiện Đào Thị Ngọc M đang nhận tiền trả nợ của bà Nguyễn Hoàng Y. Ngoài ra tổ công tác còn phát hiện nhiều tạm giữ nhiều đồ vật, tài liệu, tài sản có liên quan đến hoạt động cho vay tiền có tính lãi suất.

Kết thúc điều tra đã làm rõ hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự (cho vay với lãi suất gấp 05 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự (20%/năm) trở lên) của Đào Thị Ngọc M với nhiều cá nhân, cụ thể như sau:

  1. Triệu Thị Thu T: Ngày 15/12/2022, T vay của Đào Thị Ngọc M số tiền 5.000.000₫ (năm triệu đồng) và thỏa thuận trả tiền lãi theo tháng, mỗi tháng 750.000đ (bảy trăm năm mươi nghìn đồng) tương đương lãi suất 180% (một trăm tám mươi phần trăm)/năm. T trả lãi được 05 (năm) tháng từ tháng 01/2023 đến tháng 5/2023 thì trả hết tiền nợ gốc. Tổng tiền lãi T đã trả cho M là: 3.750.000₫ (ba triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng). Khoản vay này, M thu lợi bất chính số tiền 3.333.333đ (ba triệu, ba trăm ba mươi ba nghìn, ba trăm ba mươi ba đồng).
  2. Nông Triệu Thùy Linh: Ngày 31/7/2023, L vay của M số tiền 8.000.000₫ (tám triệu đồng) và thỏa thuận trả tiền lãi theo tháng, mỗi tháng 1.200.000đ (một triệu, hai trăm nghìn đồng) tương đương lãi suất 180% (một trăm tám mươi phần trăm)/năm. Trong 04 (bốn) tháng, từ tháng 8/2023 đến tháng 11/2023 L trả lãi cho M theo thỏa thuận tuy nhiên có một tháng nợ 400.000đ (bốn trăm nghìn đồng); tiền nợ gốc thì bà L chưa trả. Tổng tiền lãi bà L đã trả cho M là: 4.400.000đ (bốn triệu, bốn trăm nghìn đồng). Khoản vay này, M thu lợi bất chính số tiền 3.866.667đ (ba triệu, tám trăm sáu mươi sáu nghìn, sáu trăm sáu mươi bảy đồng).
  3. Hoàng Thị Hồng M1: Ngày 15/3/2023, M1 vay của M số tiền 10.000.000đ (mười triệu đồng) thỏa thuận trả tiền lãi theo tháng, mỗi tháng 1.500.000₫ (một triệu, năm trăm nghìn đồng) tương đương lãi suất 180% (một trăm tám mươi phần trăm)/năm. Từ tháng 4/2023 đến tháng 11/2023 M1 đã trả được 08 (tám) tháng tiền lãi cho M với tổng số tiền là 12.000.000đ (mười hai triệu đồng), chưa trả tiền nợ gốc. Đối với khoản vay này, M thu lợi bất chính số tiền: 10.666.667đ (mười triệu, sáu trăm sáu mươi sáu nghìn, sáu trăm sáu mươi bảy đồng).
  4. Nguyễn Hoàng Y: Ngày 12/01/2021, Y vay của M số tiền10.000.000₫ (mười triệu đồng) và thỏa thuận trả tiền lãi theo tháng, mỗi tháng 1.500.000₫ (một triệu, năm trăm nghìn đồng) tương đương lãi suất 180% (một trăm tám mươi phần trăm)/năm. Trong 34 (ba mươi tư) tháng từ tháng 02/2021 đến tháng 11/2023, Y trả 48.500.000đ (bốn mươi tám triệu, năm trăm nghìn đồng) tiền lãi và còn nợ tiền lãi 2.500.000đ (hai triệu, năm trăm nghìn đồng). Ngày 23/11/2023, M và Y chốt nợ cả gốc và lãi là 12.500.000đ (mười hai triệu, năm trăm nghìn đồng) để Y trả dần, không tiếp tục thu lãi. Ngày 15/12/2023, Y tiếp tục trả 1.500.000₫ (một triệu, năm trăm nghìn đồng) và còn nợ 11.000.000đ (mười một triệu đồng). Khoản vay này, M thu lợi bất chính 45.333.333đ (bốn mươi năm triệu, ba trăm ba mươi ba nghìn, ba trăm ba mươi ba đồng).
  5. Tại thời điểm ngày 15/12/2023, do hai bên đã chốt nợ với nhau nên việc Y trả số tiền 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng) không xác định được là tiền nợ gốc hay tiền nợ lãi. Tuy nhiên, xét thấy Đào Thị Ngọc M đã dừng thu lãi từ ngày 23/11/2023 nên tính số tiền này trừ vào khoản nợ gốc mà không tính vào phần thu lợi bất chính đã hưởng của M.

  6. Bàn Thị Thu H: Ngày 06/8/2022, H vay của M số tiền 10.000.000đ (mười triệu đồng) và thỏa thuận trả tiền lãi theo tháng, mỗi tháng 1.500.000đ (một triệu, năm trăm nghìn đồng) tương đương lãi suất 180% (một trăm tám mươi phần trăm)/năm. H trả cho M 05 (năm) tháng tiền lãi từ tháng 9/2022 đến tháng 01/2023 với tổng số tiền là 5.500.000đ (năm triệu, năm trăm nghìn đồng) và còn nợ lãi 2.000.000đ (hai triệu đồng), sau đó H dừng trả lãi và chưa trả số tiền nợ gốc. Khoản vay này, M thu lợi bất chính số tiền: 4.666.667đ (bốn triệu, sáu trăm sáu mươi sáu nghìn, sáu trăm sáu mươi bảy đồng).

Tổng cộng, xác định Đào Thị Ngọc M đã hưởng lợi bất chính của 05 (năm) cá nhân trên với tổng số tiền là 67.866.667đ (sáu mươi bảy triệu tám trăm sáu mươi sáu nghìn sáu trăm sáu mươi bảy đồng).

Việc tính số tiền thu lợi bất chính (theo lãi tháng) thực hiện theo công thức:

Tiền thu lợi bất chính = Số tiền lãi thỏa thuận hàng tháng x số tháng thu được lãi - (20% x Số tiền vay x Số tháng thu được lãi)/12.

Quá trình điều tra, bị cáo Đào Thị Ngọc M thành khẩn khai nhận hành vi của bản thân, lời khai bị can là phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Tại Bản cáo trạng số: 16/CT-VKSBK-P1 ngày 19/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn đã truy tố Đào Thị Ngọc M2 tội: “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự năm 2015, điều luật có nội dung:

“1. Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhấtquy định trong Bộ luật dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

...

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo như bản Cáo trạng, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX): Áp dụng khoản 1 Điều 201; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự. Phạt tiền bị cáo Đào Thị Ngọc M từ 50.000.000₫ đến 70.000.000₫ để sung vào ngân sách Nhà nước. Về hình phạt bổ sung: Không đề nghị. Về biện pháp tư pháp: Tịch thu sung ngân sách Nhà nước các khoản tiền gốc; bị cáo phải trả lại các khoản tiền thu lợi bất chính cho người đi vay; bị cáo phải nộp lại ngân sách Nhà nước khoản tiền lãi 20%. Về vật chứng, án phí xử lý theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, thừa nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn truy tố bị cáo về tội danh và điều luật là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt chobị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án và căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:

  1. Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của những người tiến hành tố tụng Điều tra viên, Kiểm sát viên. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định của pháp luật.
  2. Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên tòa, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, có căn cứ để khẳng định:

    Trong khoảng thời gian từ ngày 12/01/2021đến ngày 15/12/2023, Đào Thị Ngọc M đã cho 05 (năm) cá nhân gồm Triệu Thị Thu T, Nông Triệu Thùy L, Hoàng Thị Hồng M1, Nguyễn Hoàng Y và Bàn Thị Thu H vay tiền với lãi suất 180% (một trăm tám mươi phần trăm)/năm, thu lợi bất chính tổng số tiền 67.866.667₫ (sáu mươi bảy triệu tám trăm sáu mươi sáu nghìn sáu trăm sáu mươi bảy đồng) sau khi đã trừ đi 20% mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự.

    Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” quy định tại khoản 1 Điều 201 BLHS. Việc cáo trạng truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

  3. Hành vi của các bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm pháp luật, đã xâm phạm trực tiếp đến các quy định của Nhà nước về trật tự quản lý kinh tế và hoạt động cho vay tín dụng, gây mất trật tự an toàn xã hội, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự ở địa phương. Do đó, cần xử lý nghiêm bị cáo mới đủ sức răn đe và phòng ngừa tội phạm nói chung.
  4. Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo: Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự.

    Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

    Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm bị cáo đã tự nguyện trả lại số tiền thu lợi bất chính cho những người liên quan và được những người liên quan xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, đó là “tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả”, “người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, “phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”. Ngoài ra, bị cáo có ông ngoại là ông Vũ Văn C1 được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng Nhất. Do đó, bị cáo còn được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

    Trên cơ sở xem xét toàn diện nhân thân, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm, tính chất hành vi phạm tội của bị cáo. HĐXX thấy rằng, các bị cáo có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng, động cơ mục đích phạm tội là vì vụ lợi. Căn cứ nguyên tắc xử lý đối với người phạm tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự quy định tại Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, thì xem xét áp dụng nghiêm khắc hình phạt tiền là hình phạt chính. Do đó, để đảm bảo tuân thủ nguyên tắc và nhằm thu hồi các khoản tiền vi phạm về cho Ngân sách Nhà nước, HĐXX thấy cần thiết áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính đối với bị cáo.

  5. Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 3 Điều 201 Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”. Xét thấy, do đã áp dụng hình phạt chính là phạt tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Tuy nhiên xét thấy hoạt động kinh doanh dịch vụ cầm đồ thường phát sinh tội phạm “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”. Do vậy, cần áp dụng hình phạt bổ sung là cấm bị cáo kinh doanh dịch vụ cầm đồ trong thời hạn nhất định.
  6. Về trách nhiệm dân sự: Những người có lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án đều không đề nghị giải quyết, do vậy HĐXX không xem xét.
  7. Về biện pháp tư pháp:
    • Đối với số tiền gốc của khoản vay, xác định đây là phương tiện phạm tội nên cần tịch thu, nộp vào Ngân sách Nhà nước. Do đó, khoản tiền gốc đã được người liên quan trả cho bị cáo thì bị cáo phải có trách nhiệm nộp vào ngân sách, còn khoản tiền gốc người liên quan chưa trả cho bị cáo thì cần buộc những người liên quan phải có trách nhiệm nộp vào ngân sách Nhà nước. Cụ thể: Bị cáo Đào Thị Ngọc M nộp số tiền 5.000.000đ (năm triệu đồng), là khoản tiền gốc do bà Triệu Thị Thu T đã trả cho bị cáo; Nông Triệu Thùy L nộp số tiền 8.000.000₫ (tám triệu đồng); Hoàng Thị Hồng M1 nộp số tiền 10.000.000đ (mười triệu đồng); Nguyễn Hoàng Y nộp số tiền 11.000.000đ (mười một triệu đồng); Bàn Thị Thu H nộp số tiền 10.000.000đ (mười triệu đồng);
    • Đối với khoản tiền bị cáo đã thu lợi bất chính, xác định những người vay đều vay tiền với mục đích hợp pháp. Do đó, cần buộc bị cáo phải có trách nhiệm trả lại khoản thu lợi bất chính cho những người liên quan. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án, bị cáo đã tự nguyện trả lại số tiền thu lợi bất chính cho những người liên quan, cụ thể: Đã trả cho Triệu Thị Thu T số tiền 3.350.000₫ (ba triệu ba trăm năm mươi nghìn đồng); Trả cho Nông Triệu Thùy L số tiền 3.866.000đ (ba triệu, tám trăm sáu mươi sáu nghìn đồng); Trả cho Hoàng Thị Hồng M1 số tiền 10.670.000đ (mười triệu, sáu trăm bảy mươi nghìn đồng); Trả cho Bàn Thị Thu H số tiền 4.667.000đ (bốn triệu, sáu trăm sáu mươi bảy nghìn đồng). Những người liên quan nêu trên đều đã có văn bản xác nhận đã nhận đủ số tiền và không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do vậy, HĐXX không xem xét.

      Buộc bị cáo phải có trách nhiệm trả lại khoản thu lợi bất chính cho bà Nguyễn Hoàng Y với số tiền là 45.333.333đ (bốn mươi năm triệu, ba trăm ba mươi ba nghìn, ba trăm ba mươi ba đồng).

    • Đối với khoản tiền lãi 20% theo quy định là 6.283.333đ (sáu triệu hai trăm tám mươi ba nghìn ba trăm ba mươi ba đồng), cần buộc bị cáo phải có trách nhiệm nộp vào ngân sách Nhà nước vì đây là khoản tiền phát sinh từ hành vi phạm tội.
  8. Về xử lý vật chứng: Vật chứng vụ án kèm theo gồm:
    • Đối với 01 (một) phong bì được niêm phong ký hiệu “TM” có số tiền: 3.530.000đ (ba triệu năm trăm ba mươi nghìn đồng) tạm giữ của bị cáo Đào Thị Ngọc M. Quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định được như sau: Trong tổng số tiền trên, có 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng) là tiền do chị Nguyễn Hoàng Y trả cho bị cáo M vào ngày 15/12/2023; xét thấy, bị cáo đã dừng thu lãi từ ngày 23/11/2023 nên số tiền này được tính trừ vào khoản tiền nợ gốc của chị Y mà không tính vào phần thu lợi bất chính đã được hưởng của bị cáo M; Do vậy, cần tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng). Số tiền còn lại là 2.030.000đ (hai triệu không trăm ba mươi nghìn đồng), xác định được là tiền của bị cáo do kinh doanh làm tóc mà có, không liên quan đến hành vi phạm tội, cần trả lại cho bị cáo, tuy nhiên cần tạm giữ lại để đảm bảo thi hành án cho bị cáo.
    • Đối với 01 (một) phong bì được niêm phong ký hiệu “A1” có 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng mặt sau màu trắng có chữ “iPhone” đã qua sử dụng, gắn 01 thẻ SIM. Quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định được là điện thoại của bị cáo sử dụng để liên lạc với những người cho vay, do đó xét thấy cần tịch thu hóa giá sung quỹ Nhà nước đối với 01 điện thoại trên và tịch thu tiêu hủy đối với 01 thẻ SIM trong điện thoại.

    Các đồ vật, tài liệu hiện đang lưu theo hồ sơ vụ án cần tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án, gồm: 01 (một) giấy vay tiền đề ngày 12/01/2021, người cho vay là Đào Thị Ngọc M, người vay là Nguyễn Hoàng Y. Số tiền vay là 10.000.000đ; 01 (một) giấy cam kết đề ngày 23/11/2023, bà Nguyễn Hoàng Y sẽ trả số tiền 12.500.000 cho bà Đào Thị Ngọc M trước ngày 04/02/2024; 01 (một) giấy vay tiền đề ngày 06/8/2022 Người cho vay là Đào Thị Ngọc M, người vay là Bàn Thị Thu H, số tiền vay 10.000.000đ; 01 (một) giấy vay tiền đề ngày 28/5/2020 Người cho vay là Đào Thị Ngọc M, người vay là Luân Thị Q1, số tiền vay 10.000.000đ; 01 (một) giấy vay tiền đề ngày 16/7/2020 Người cho vay là Đào Thị Ngọc M, người vay là Luân Thị Q1, số tiền vay 10.000.000đ; 01 (một) giấy vay tiền đề ngày 13/10/2020 Người cho vay là Đào Thị Ngọc M, người vay là Luân Thị Q1, số tiền vay 5.000.000đ; 01 (một) giấy vay tiền đề ngày 05/5/2021 Người cho vay là Đào Thị Ngọc M, người vay là Nguyễn Thị H1, số tiền vay 15.000.000đ; 01 (một) giấy vay tiền, người cho vay là Đào Thị Ngọc M, người vay là Nông Triệu Thùy L. Số tiền vay 8.000.000đ. hứa trả trước ngày 31/11/2023; 01 (một) giấy bán xe, Nông Triệu Thùy L bán cho Đào Thị Ngọc M loại xe Vision với số tiền 8.000.000đ; 01 (một) giấy vay tiền, người cho vay là Đào Thị Ngọc M, người vay là Hoàng Thị Hồng M1. Số tiền vay 10.000.000đ; 01 (một) giấy bán xe Honda Lead BKS: 97B1-38936. Người bán Hoàng Thị Hồng M1 bán cho Đào Thị Ngọc M; 01 (một) giấy vay tiền đề ngày 09/6/2021, người vay là Nguyễn Thị B, người cho là vay bà M; 02 (hai) quyển sổ bìa màu xanh.

  9. Các nội dung khác của vụ án:
    • + Đối với khoản vay của Nguyễn Thị H1, sinh năm 1989, trú tại tổ N, thị trấn Y, huyện N, tỉnh Bắc Kạn: vào ngày 05/5/2021, H1 vay với M 15.000.000₫ (mười năm triệu đồng), thỏa thuận trả lãi theo tháng, mỗi tháng 2.250.000đ (hai triệu, hai trăm năm mươi nghìn đồng) tương đương lãi suất 180% (một trăm tám mươi phần trăm)/năm. Sau khi vay, H1 trả được 08 (tám) tháng tiền lãi từ tháng 06/2021 đến tháng 01/2022 với tổng số tiền là 18.000.000đ (mười tám triệu đồng). Sau đó, H1 không tiếp tục trả lãi nên đến tháng 11/2022, M và H1 chốt nợ với nhau, H1 chỉ phải trả tiền nợ gốc cho M và không cần tiếp tục trả lãi. Ngày 29/11/2022, H1 trả cho M số tiền nợ gốc là 10.000.000đ (mười triệu đồng) và còn nợ M 5.000.000₫ (năm triệu đồng). Xét thấy trong 08 (tám) tháng thu được tiền lãi theo thỏa thuận, Đào Thị Ngọc M đã thu lợi bất chính 16.000.000đ (mười sáu triệu đồng), tuy nhiên hai bên đã tự thỏa thuận không tiếp tục thu lãi, từ thời điểm trả lãi cuối cùng của bà H1 (ngày 31/01/2022) đến thời điểm phát hiện vi phạm của M (ngày 15/12/2023) là trên 01 năm, đã hết thời hiệu xử lý vi phạm hành chính. Căn cứ Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Cơ quan điều tra không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Đào Thị Ngọc M theo khoản vay này, đồng thời yêu cầu M và H1 thỏa thuận với nhau để đảm bảo khoản vay được thực hiện đúng quy định của pháp luật.
    • + Đối với khoản vay của Luân Thị Q1, sinh năm 1981, trú tại tổ D, phường N, thành phố B: cuối năm 2020, Q1 vay với M 25.000.000đ (hai mươi năm triệu đồng), thỏa thuận trả lãi theo tháng, mỗi tháng 2.250.000đ (hai triệu, hai trăm năm mươi nghìn đồng) tương đương lãi suất 108% (một trăm linh tám phần trăm)/năm. Sau khi vay, Q1 không trả được tiền lãi như đã thỏa thuận với M; trong 15 (mười năm) tháng từ tháng 11/2020 đến tháng 01/2022, H1 trả được cho M tổng số tiền lãi là 31.420.000₫ (ba mươi mốt triệu, bốn trăm hai mươi nghìn đồng) tiền lãi. Sau đó, Q1 không tiếp tục trả được lãi nên hai bên đã thỏa thuận chốt nợ với nhau là Q1 phải trả cho M 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng) tiền nợ gốc, Q1 đã thực hiện việc trả nợ theo thỏa thuận vào ngày 31/5/2023. Xét thấy trong 15 (mười năm) tháng thu được tiền lãi, M đã thu lợi bất chính 27.670.000₫ (hai mươi bảy triệu, sáu trăm bảy mươi nghìn đồng), tuy nhiên hai bên đã tự thỏa thuận không tiếp tục thu lãi, từ thời điểm trả lãi cuối cùng (ngày 26/01/2022) đến thời điểm phát hiện vi phạm của M (ngày 15/12/2023) là trên 01 năm, đã hết thời hiệu xử lý vi phạm hành chính. Căn cứ Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Cơ quan điều tra không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Đào Thị Ngọc M theo khoản vay này đồng thời yêu cầu M và Q1 thỏa thuận với nhau để đảm bảo khoản vay được thực hiện đúng quy định của pháp luật.
    • + Đối với khoản vay của Nguyễn Thị B, sinh năm 1982, trú tại tổ D, phường N, thành phố B (hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B trong vụ án do CQCSĐT Công an thành phố B khởi tố): ngày 09/6/2021, B vay của M số tiền 197.000.000đ (một trăm chín mươi bảy triệu đồng) và thỏa thuận trả tiền lãi hàng tháng là 17.700.000 (mười bảy triệu, bảy trăm nghìn đồng) tương đương lãi suất 108% (một trăm linh tám phần trăm)/năm. Trong 11 (mười một) tháng từ tháng 07/2021 đến tháng 05/2022, B không trả được lãi theo thỏa thuận ban đầu mà chỉ trả được tổng số tiền là 63.000.000đ (sáu mươi ba triệu đồng) cho M. Sau đó, B không tiếp trả được tiền lãi cho M nữa và đến tháng 11/2022, hai bên đã thỏa thuận với nhau là sẽ chỉ trả nợ gốc và chuyển số tiền lãi đã trả trừ vào tiền nợ gốc; từ đó, B còn phải trả cho M là 134.000.000₫ (một trăm ba mươi tư triệu đồng). Đến nay, bà B còn nợ M 78.000.000đ (bảy mươi tám triệu đồng) tiền nợ gốc. Xét thấy trong 11 (mười một) tháng thu được tiền lãi, M đã thu lợi bất chính 26.883.333₫ (hai mươi sáu triệu, tám trăm tám mươi ba nghìn, ba trăm ba mươi ba đồng), tuy nhiên hai bên đã tự thỏa thuận không tiếp tục thu lãi, từ thời điểm trả lãi cuối cùng của B (ngày 17/5/2022) đến thời điểm phát hiện vi phạm của M (ngày 15/12/2023) là trên 01 năm, đã hết thời hiệu xử lý vi phạm hành chính. Căn cứ Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Cơ quan điều tra không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với M theo khoản vay này. Do hai bên đã thỏa thuận chuyển tiền lãi đã trả trừ vào tiền nợ gốc nên Cơ quan điều tra không đề nghị hai bên thỏa thuận lại.
  10. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Tuyên bố bị cáo Đào Thị Ngọc M phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.

    Áp dụng khoản 1 Điều 201; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự. Phạt tiền bị cáo Đào Thị Ngọc M 60.000.000₫ (Sáu mươi triệu đồng) để sung vào ngân sách Nhà nước.

  2. Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 3 Điều 201 Bộ luật Hình sự. Cấm bị cáo Đào Thị Ngọc M kinh doanh dịch vụ cầm đồ trong thời hạn 02 (hai) năm, kể từ ngày bản án hình sự sơ thẩm có hiệu lực pháp luật.
  3. Các biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46 BLHS
    1. Buộc bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải nộp lại ngân sách Nhà nước số tiền gốc của các khoản vay, cụ thể: Bị cáo Đào Thị Ngọc M phải có trách nhiệm nộp số tiền 5.000.000₫ (năm triệu đồng); Bà Nông Triệu Thùy L phải nộp số tiền 8.000.000đ (tám triệu đồng); Bà Hoàng Thị Hồng M1 phải nộp số tiền 10.000.000đ (mười triệu đồng); Bà Nguyễn Hoàng Y phải nộp số tiền 11.000.000đ (mười một triệu đồng); Bà Bàn Thị Thu H phải nộp số tiền 10.000.000đ (mười triệu đồng).
    2. Buộc bị cáo Đào Thị Ngọc M phải có trách nhiệm trả lại khoản thu lợi bất chính cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Hoàng Y với số tiền là 45.333.333đ (bốn mươi năm triệu, ba trăm ba mươi ba nghìn, ba trăm ba mươi ba đồng).
    3. Buộc bị cáo phải có trách nhiệm nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền lãi suất 20% theo mức quy định là 6.283.333đ (sáu triệu hai trăm tám mươi ba nghìn ba trăm ba mươi ba đồng).
  4. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
    • Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng); Tạm giữ số tiền 2.030.000đ (hai triệu không trăm ba mươi nghìn đồng) để đảm bảo thi hành án cho bị cáo Đào Thị Ngọc M (đựng trong phong bì được niêm phong ký hiệu “TM”).
    • Tịch thu hóa giá sung quỹ Nhà nước đối với 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng mặt sau màu trắng có chữ “iPhone” đã qua sử dụng và tịch thu tiêu hủy đối với 01 thẻ SIM trong điện thoại của bị cáo Đào Thị Ngọc M (được niêm phong trong phong bì ký hiệu “A1”)
    • Tình trạng vật chứng theo như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an tỉnh B và Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Kạn).
    • Các đồ vật, tài liệu hiện đang lưu theo hồ sơ vụ án cần tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án, gồm: 01 (một) giấy vay tiền đề ngày 12/01/2021, người cho vay là Đào Thị Ngọc M, người vay là Nguyễn Hoàng Y, số tiền vay là 10.000.000đ; 01 (một) giấy cam kết đề ngày 23/11/2023, bà Nguyễn Hoàng Y sẽ trả số tiền 12.500.000 cho bà Đào Thị Ngọc M trước ngày 04/02/2024; 01 (một) giấy vay tiền đề ngày 06/8/2022 Người cho vay là Đào Thị Ngọc M, người vay là Bàn Thị Thu H, số tiền vay 10.000.000đ; 01 (một) giấy vay tiền đề ngày 28/5/2020 Người cho vay là Đào Thị Ngọc M, người vay là Luân Thị Q1, số tiền vay 10.000.000đ; 01 (một) giấy vay tiền đề ngày 16/7/2020 Người cho vay là Đào Thị Ngọc M, người vay là Luân Thị Q1, số tiền vay 10.000.000đ; 01 (một) giấy vay tiền đề ngày 13/10/2020 Người cho vay là Đào Thị Ngọc M, người vay là Luân Thị Q1, số tiền vay 5.000.000đ; 01 (một) giấy vay tiền đề ngày 05/5/2021 Người cho vay là Đào Thị Ngọc M, người vay là Nguyễn Thị H1, số tiền vay 15.000.000đ; 01 (một) giấy vay tiền, người cho vay là Đào Thị Ngọc M, người vay là Nông Triệu Thùy L. Số tiền vay 8.000.000đ. hứa trả trước ngày 31/11/2023; 01 (một) giấy bán xe, Nông Triệu Thùy L bán cho Đào Thị Ngọc M loại xe Vision với số tiền 8.000.000đ; 01 (một) giấy vay tiền, người cho vay là Đào Thị Ngọc M, người vay là Hoàng Thị Hồng M1. Số tiền vay 10.000.000đ; 01 (một) giấy bán xe Honda Lead BKS: 97B1-38936. Người bán Hoàng Thị Hồng M1 bán cho Đào Thị Ngọc M; 01 (một) giấy vay tiền đề ngày 09/6/2021, người vay là Nguyễn Thị B, người cho là vay bà M; 02 (hai) quyển sổ bìa màu xanh.
  5. Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

    Buộc bị cáo Đào Thị Ngọc M phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  6. Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - Vụ GĐKT 1 – TANDTC;
  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh;
  • - Phòng Hồ sơ CA tỉnh;
  • - Cơ quan CSĐT CA tỉnh;
  • - Cục THADS tỉnh;
  • - THAHS;
  • - Sở Tư pháp tỉnh;
  • - Bị cáo;
  • - Người có QLNVLQ;
  • - Lưu: Hồ sơ, HСТР.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hà Quang Huy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 18/2024/HS - ST ngày 12/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC KẠN về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

  • Số bản án: 18/2024/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC KẠN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đào Thị Ngọc M phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger