|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN SƠN TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số:18/2024/HSST |
|
|
Ngày 11/7/2024. |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN SƠN, TỈNH PHÚ THỌ
1. Tại điểm cầu trung tâm:
- - Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Văn Chí.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đức Nghị và ông Nguyễn Văn Thìn.
- - Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Hiếu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thị Thu Hiền - Kiểm sát viên.
2. Có mặt tại điểm cầu thành phần Nhà tạm giam Công an huyện T:
- - Đại diện Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ: Ông Đỗ Hải L – Thư ký Tòa án.
Ngày 11 tháng 7 năm 2024, Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ mở phiên tòa trực tuyến tại 02 điểm cầu gồm: Điểm cầu trung tâm, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ; 01 điểm cầu thành phần, tại Nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Phú Thọ để xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 14/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 6 năm 2024 đối với Bị cáo:
- Họ và tên: Hoàng Đình H (tên gọi khác: Không);
- Sinh ngày 01 tháng 4 năm 1994; tại: Huyện V, tỉnh Yên Bái.
- Hộ khẩu thường trú: Thôn H, xã T, huyện V, tỉnh Yên Bái.
- Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam
- Con ông: Hoàng Đình H1, sinh năm 1972;
- Con bà: Nguyễn Thị N, sinh năm 1973.
- Vợ, con: Chưa.
- Tiền sự: Không.
Tiền án có 02 tiền án:
- - Ngày 24/6/2015 bị Tòa án nhân dân huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái xử 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 27/2015/HSST ngày 24/6/2015 đến ngày 16/12/2015 chấp hành xon hình phạt tù.
- - Ngày 21/9/2016 bị Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Băc Ninh xử 05 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” theo bản án sô 227/2016/HSST ngày 21/9/2016. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội thuộc trường hợp “Tái phạm” do chưa được xóa án tích, đến ngày 09/11/2020 chấp hành xon hình phạt tù.
Nhân thân (án tích, đã bị xử phạt vi phạm hành chính, đã xử lý kỷ luật): Ngày 21/01/20214 Hoàng Đình H bị Công an huyện V, tỉnh Yên Bái xử phạt vi phạm hành chính 3.500.000đ về hành vi “Cố ý làm hư hỏng tài sản”
Bị bắt tạm giữ từ ngày 23/02/2024, hiện đang bị tạm giam tại nhà Tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Phú Thọ (Có mặt tại phiên tòa).
- -Người bị hại: Chị Trần Thị Thu H2, sinh năm 1998. Địa chỉ: Khu V, xã K, huyện T, tỉnh Phú Thọ (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- -Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Hoàng Thị H3, sinh năm 1996. Địa chỉ: Thôn T, xã N, huyện V, tỉnh Yên Bái (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
1. Về hành vi phạm tội của Bị cáo:
Khoảng 12 giờ ngày 01/6/2021 Hoàng Đình H, sinh năm 1994, trú quán thôn H, xã T, huyện V, tỉnh Yên Bái đi từ quán K ở xã M, huyện V, tỉnh Hưng Yên (nơi Hoàng Đình H làm việc) về nhà ở của H ở xã T, huyện V, tỉnh Yên Bái. Hoàng Đình H điều khiển xe máy nhãn hiệu Yamaha, loại xe Exciter màu xanh trắng, xe không gắn biển kiểm soát, không có gương chiếu hậu, không có yếm nhựa phía trước và không có chắn bùn phía sau, xe H mượn tại quán K nơi H làm việc để về nhà. Quá trình di chuyển H đi theo hướng từ tỉnh Hưng Yên đến xã T, huyện V, tỉnh Yên Bái dọc theo Quốc lộ C. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày H gặp anh trai của H là Hoàng Đình Đ, sinh năm 1993, trú quán tại thôn H, xã T, huyện V, tỉnh Yên Bái đi từ tỉnh Thái Bình về quê, cả hai gặp nhau tại xã M, huyện T, tỉnh Phú Thọ và vào uống nước tại quán nước của anh Phùng Thế V, sinh năm 1985, trú quán tại khu C, xã M, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Sau khi uống nước xong, H tiếp tục di chuyển dọc theo Quốc lộ C khi đến địa phận khu C, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ thì phát hiện chị Trần Thị Thu H2, sinh năm 1998, trú quán tại khu V, xã K, huyện T, tỉnh Phú Thọ đi xe máy một mình cùng chiều phía trước H, H quan sát thấy trong hốc để đồ bên trái xe của chị H2 có để 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu vàng, hốc để đồ không có nắp bảo vệ, điện thoại lộ ra ngoài nên H đã nảy sinh ý định cướp giật lấy chiếc điện thoại của chị H2. H đi sau xe của chị H2 để quan sát, khi thấy đoạn đường ít nhà dân và phía trước có 01 xe ô tô nên H đã đi áp sát gần với chị H2 dùng tay phải giật lấy chiếc điện thoại trong hốc để đồ xe của chị H2, sau khi lấy được chiếc điện thoại trên H để chiếc điện thoại lên kẹp giữ hai đùi, rồi dùng tay phải vặn ga bỏ chạy theo hướng từ huyện T, tỉnh Phú Thọ đi huyện V, tỉnh Yên Bái, đi được một đoạn H dùng tay trái bỏ chiếc điện thoại vào trong túi quần bên trái rồi đi về nhà ở của mình.
Sau khi cướp giật được chiếc điện thoại của chị H2 thì Hoàng Đình H quay về quán karaoke để tiếp tục làm việc, khoảng 01 tuần sau do dịch C quán dừng hoạt động nên H đã trả lại chiếc xe mô tô trên cho quán và nghỉ việc, sau đó H đi đến địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc tìm việc làm và đã mang chiếc điện thoại cướp giật được của chị H2 đến cửa hàng Đ1 thuộc thôn M, xã K, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc do anh Ngô Văn M, sinh năm 1991, trú quán thôn G, xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc làm chủ để bán lấy tiền tiêu sài cá nhân hết.
2. Các vấn đề khác của vụ án.
Ngày 03/6/2021 Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện T đã yêu cầu hội đồng định giá định giá chiếc điện thoại trên. Tại bản kết luận định giá tài sản số 14/KL-ĐGTS, ngày 02/07/2021 của Hội đồng định giá thường xuyên huyện T kết luận giá trị chiếc điện thoại Hoàng Đình H cướp giật được của Trần Thị Thu H2 là: 5.500.000đ.
Ngày 02/8/2021 Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện T ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự số 26 đối với vụ “Cướp giật tài sản” xảy ra ngày 01/6/2021 tại khu C, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
Ngày 23/02/2024, Hoàng Đình H đến Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện T đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi cướp giật tài sản của mình xảy ra ngày 01/06/2021 tại Khu C, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Cùng ngày cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện T ra Quyết định phục hồi điều tra vụ án hình sự “Cướp giật tài sản” xảy ra ngày 01/06/2021 tại khu C, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ để tiếp tục điều tra, làm rõ.
Ngày 27/02/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện T ra Quyết định khởi tố Bị cáo đối với Hoàng Đình H về tội “Cướp giật tài sản” quy định tại khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự đồng thời ra Lệnh tạm giam đối với Hoàng Đình H.
Về dân sự:
Ngày 14/4/2024 chị Hoàng Thị H3 là em gái của Bị cáo đã bồi thường số tiền 10.000.000đ cho chị Trần Thị Thu H2, sau khi nhận tiền bồi thường chị H2 không yêu cầu Bị cáo H phải bồi thường thêm khoản nào khác.
Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha, loại xe Exciter màu xanh trắng, xe không gắn biển kiểm soát, không có gương chiếu hậu. H dùng khi thực hiện hành vi cướp giật tài sản ngày 01/06/2021 tại khu C, T, huyện T, tỉnh Phú Thọ là do H mượn của quán K tại xã M, huyện V, tỉnh Hưng Yên. Sau khi thực hiện hành vi cướp giật tài sản H đã trả lại chiếc xe trên cho quán hát. Quá trình điều tra xác định chiếc xe là của anh Đỗ Văn T, sinh năm 2003, trú quán thôn T, xã B, huyện K, tỉnh Hưng Yên. Quá trình điều tra xác định Đỗ Văn T mua chiếc xe trên vào đầu năm 2020 của một người ở tỉnh Thanh Hóa, anh T không biết tên và không làm giấy tờ mua bán, đến khoảng giữa năm 2020 anh Đỗ Văn T có đi hát tại quán K thuộc xã M, huyện V, tỉnh Hưng Yên nơi Hoàng Đình H làm việc, sau khi hát xong do không đủ tiền để trả tiền hát nên anh T để lại chiếc xe máy tại quán hát làm tin sau sẽ đến thanh toán và lấy lại xe. Sau một thời gian anh T không đến trả tiền hát, quán đã dừng hoạt động và đã thanh lý chiếc xe trên. Việc Hoàng Đình H dùng chiếc xe trên và thực hiện hành vi phạm tội anh T không biết. Do đó, không có căn cứ để xử lý anh Đỗ Văn T.
3. Về trích dẫn Cáo trạng của Viện kiểm sát:
Tại Bản cáo trạng số:17/CT-VKSTS ngày 16/6/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ đã truy tố bị cáo Hoàng Đình H về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d,i khoản 2 Điều 171 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên Quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về trách nhiệm hình sự:
Áp dụng điểm d,i khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự. Tuyên bố Bị cáo Hoàng Đình H phạm tội “Cướp giật tài sản”. Xử phạt Bị cáo Hoàng Đình H từ 06 (sáu) năm đến 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 23/02/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với Bị cáo Hoàng Đình H.
Về trách nhiệm dân sự:
Căn cứ khoản 1 Điều 584, khoản 1 Điều 585 của Bộ luật dân sự. Xác nhận ngày 14/4/2024 chị Hoàng Thị H3 là em gái cảu Bị cáo Hoàng Đình H đã bồi thường trị giá chiếc điện thoại cho chị Trần Thị Thu H2 số tiền 10.000.000đ.
Về xử lý vật chứng:
Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha, loại xe Exciter màu xanh trắng, xe không gắn biển kiểm soát, không có gương chiếu hậu. H dùng khi thực hiện hành vi cướp giật tài sản ngày 01/06/2021 tại khu C, T, huyện T, tỉnh Phú Thọ là do H mượn của quán K tại xã M, huyện V, tỉnh Hưng Yên nơi H làm việc. Quá trình điều tra xác định chiếc xe là của anh Đỗ Văn T, sinh năm 2003, trú quán thôn T, xã B, huyện K, tỉnh Hưng Yên. Giữa năm 2020 T có đi hát tại quán karaoke nơi Bị cáo H làm việc, sau khi hát xong do không đủ tiền để trả tiền hát nên anh T để lại chiếc xe máy tại quán hát. Sau một thời gian anh T không đến trả tiền hát, quán đã đã thanh lý chiếc xe trên.
4. Bị cáo nói lời sau cùng:
Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt, cho Bị cáo mức án thấp nhất để Bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, tỉnh Phú Thọ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa Bị cáo, Bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng.
[2] Những chứng cứ xác định có tội.
Tại phiên toà hôm nay Bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Bản Cáo trạng đã nêu, thừa nhận nội dung Cáo trạng truy tố là đúng, không oan sai. Lời khai nhận của Bị cáo thống nhất, phù hợp với với lời khai của Bị hại cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy đã đủ cơ sở kết luận: Khoảng 17 giờ 10 phút ngày 01/6/2021 tại khu C, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ Hoàng Đình H trú tại Thôn H, xã T, huyện V, tỉnh Yên Bái điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Exciter màu xanh trắng, xe không gắn biển kiểm soát, không có gương chiếu hậu, không có yếm nhựa phĩa trước và không có chăn bùn phía sau, cướp giật 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 7 Plus mầu vàng của chị Trần Thị Thu H2, sinh năm 1998 trú tại khu V, xã K, huyện T, tỉnh Phú Thọ đang để tại hốc để đồ xe phía dưới bên tay trái. Trị giá chiếc điện thoại mà H chiếm đoạt của chị H2 là 5.500.000đ (năm triệu năm trăm nghìn đồng) Bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là trái pháp luật, nguy hiểm cho xã hội nhưng vì mục đích muốn chiếm đoạt tài sản của người khác nên vẫn cố ý thực hiện. Như vậy, có đủ cơ sở xác định hành vi của Bị cáo Hoàng Đình H đã phạm vào tội “Cướp giật tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm d, i khoản 2 Điều 171 của Bộ luật hình sự.
Điểm d, i khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự quy định:
“2. Phạm tội một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm."
- d, D thủ đoạn nguy hiểm;
- i, Tái phạm nguy hiểm.
-Xét tính chất vụ án là rất nghiêm trọng: Hành vi của Bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến sức khỏe, quyền sở hữu về tài sản của con người là khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ. Mặt khác, hành vi của Bị cáo làm mất an ninh, trật tự tại địa phương, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Do đó, cần xử lý Bị cáo nghiêm khắc nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong xã hội.
-Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã 02 có tiền án.
-Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào theo quy định của Bộ luật hình sự.
-Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay Bị cáo thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải; Bị cáo đã tác động tích cực đến gia đình để bồi thường, khắc phục thiệt hại cho người Bị hại. Sau khi xảy ra vụ án, Bị cáo đã đến Cơ quan công an đầu thú. Vì vậy, Bị cáo được hưởng 02 (hai) tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Từ các nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử thấy: Hành vi phạm tội của Bị cáo là rất nghiêm trọng, chỉ vì mục đích nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác, Bị cáo đã bất chấp hậu quả xấu gây ra cho xã hội, cố ý thực hiện tội phạm. Do vậy, cần áp dụng khoản 1 Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt Bị cáo hình phạt tù có thời hạn trên mức khởi điểm theo đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 171 Bộ luật hình sự thì "Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000đ đến 100.000.000đồng. Xét thấy, Bị cáo là lao động tự do, không có tài sản gì có giá trị nênmiễn hình phạt bổ sung đối với Bị cáo là phù hợp.
[3] Về trách nhiệm dân sự:
Quá trình điều tra, Bị cáo H đã tác động chị Hoàng Thị H3 là em gái của Bị cáo để bồi thường tài sản cho chị Trần Thị Thu H2 ngày 14/4/2024 H3 đã bồi thường cho chị H2 đã số tiền 10.000.000đ cần xác nhận là phù hợp.
Đối với số tiền 10.000.000đ chị Trần Thị Thu H2 là em gái Bị cáo không yêu cầu Bị cáo có trách nhiệm trả lại số tiền này nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Về xử lý vật chứng:
Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha, loại xe Exciter màu xanh trắng, xe không gắn biển kiểm soát, không có gương chiếu hậu. H dùng khi thực hiện hành vi cướp giật tài sản ngày 01/06/2021 tại khu C, T, huyện T, tỉnh Phú Thọ là do H mượn của quán K tại xã M, huyện V, tỉnh Hưng Yên nơi H làm việc. Quá trình điều tra xác định chiếc xe là của anh Đỗ Văn T, sinh năm 2003, trú quán thôn T, xã B, huyện K, tỉnh Hưng Yên. Giữa năm 2020 T có đi hát tại quán karaoke nơi Bị cáo H làm việc, sau khi hát xong do không đủ tiền để trả tiền hát nên anh T để lại chiếc xe máy tại quán hát. Sau một thời gian anh T không đến trả tiền hát, quán đã đã thanh lý chiếc xe trên.
[5] Đề nghị của Kiểm sát viên, Bị hại tại phiên tòa là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6] Về án phí:
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[7] Về quyền kháng cáo:
Bị cáo, Bị hại, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ kết tội, tội danh:
Căn cứ điểm d,i khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Tuyên bố Bị cáo Hoàng Đình H phạm tội “Cướp giật tài sản”.
2. Trách nhiệm hình sự, hình phạt:
Xử phạt bị cáo Hoàng Đình H 06 (sáu) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 23/02/2024.
- Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với Bị cáo Hoàng Đình H.
3. Về trách nhiệm dân sự:
Căn cứ khoản 1 Điều 584, khoản 1 Điều 585 của Bộ luật dân sự. Xác nhận ngày 14/4/2024 chị Hoàng Thị H3 là em gái Bị cáo Hoàng Đinh H4 bồi thường thay cho Bị cáo trị giá chiếc Điện thoại cho chị Trần Thị Thu H2 số tiền 10.000.000đ (mười triệu đồng).
4. Về xử lý vật chứng:
Áp dụng điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 của BLHS; điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự .
5. Về án phí:
Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Danh mục án phí lệ phí ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.
Buộc Hoàng Đình H phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo:
Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự Bị cáo, Bị hại, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Văn Chí |
Bản án số 18/2024/HSST ngày 11/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN SƠN, TỈNH PHÚ THỌ về hình sự sơ thẩm (cướp giật tài sản)
- Số bản án: 18/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Cướp giật tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN SƠN, TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hưng cướp giật điện thoại chị H
