|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH SÓC TRĂNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 18/2024/HS-ST Ngày 10 - 5 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH SÓC TRĂNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Thành Đạt.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Ngư.
Ông Lê Văn Danh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nông Văn Nguyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Phúc - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 5 năm 2024, tại Nhà văn hóa thuộc Trụ sở Ủy ban nhân dân xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai lưu động vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 13/2024/TLST-HS ngày 21 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 20/2024/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 4 năm 2024, đối với các bị cáo:
- Danh Minh D, sinh ngày 01-01-1988, tại tỉnh Sóc Trăng; Nơi cư trú: Ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Dân tộc: Khmer (Khơ me); Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Danh K (không rõ năm sinh) và bà Lý Thị L (không rõ năm sinh); Vợ tên Danh Thị P, sinh năm 1993 và có 02 con, lớn sinh năm 2016, nhỏ sinh năm 2018; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Vào ngày 15-02-2024, bị Công an huyện C, tỉnh Sóc Trăng quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 3.000.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản, chưa nộp phạt; Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam từ ngày 17-01-2024 cho đến nay.
- Trần H, sinh ngày 09-9-2001, tại tỉnh Sóc Trăng; Nơi cư trú: Ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 5/12; Dân tộc: Khmer (Khơ me); Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần L1, sinh năm 1970 và bà Lý Thị T, sinh năm 1969; C sống như vợ chồng với Trần Thị Lan P1, sinh năm 2007 và có 01 con, sinh năm 2021; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Vào ngày 06-7-2023, bị Công an xã P, huyện C, tỉnh Sóc Trăng quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, chưa nộp phạt; Ngày 17-8-2023, bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 24 tháng (đang bị tạm đình chỉ thi hành do bị bắt tạm giam); Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam từ ngày 16-01-2024 cho đến nay.
(Các bị cáo có mặt tại phiên tòa)
- - Người bào chữa cho bị cáo Trần H: Ông Nguyễn Văn N – Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh S. Địa chỉ: Số A, Đường H, Phường F, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. (Có mặt)
- - Bị hại: Công ty TNHH Một Thành Viên Q1. Địa chỉ trụ sở: Đường N, Khu công nghiệp A, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. Người đại diện theo pháp luật: Ông Đỗ Ngọc Q, chức vụ: Chủ tịch Công ty K1 Giám đốc. (Vắng mặt)
- - Người đại diện hợp pháp của Bị hại: Bà Huỳnh Ngọc H1, sinh năm 1974. Địa chỉ: Số A, Khu dân cư T, Khóm B, Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (đại diện theo ủy quyền, văn bản ủy quyền ngày 10-5-2024) (Có mặt)
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Ông Huỳnh Thế A, sinh năm 1979. Địa chỉ: Số E, Đỗ Xuân H2, phường P, Quận I, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)
- Ông Danh P2, sinh năm 1995. Nơi cư trú: Ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. Chổ ở: Nhà tạm giữ Công an huyện C, tỉnh Sóc Trăng. (Có mặt)
- - Người làm chứng: Ông Tô Thanh Đ, sinh năm 1988. Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Sóc Trăng. (Vắng mặt)
- - Người phiên dịch tiếng Khmer: Ông Lâm Ngọc H3 – Nhân viên Đài truyền thanh huyện C, tỉnh Sóc Trăng. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 21 giờ, ngày 21-7-2023, bị cáo Danh Minh D đem theo kìm cộng lực, dao, đèn pin, điều khiển xe mô tô biển số 60K6-9567 đến nhà bị cáo Trần H, rủ bị cáo H cùng đi cắt trộm dây điện bán lấy tiền chia nhau tiêu xài, bị cáo H đồng ý. Sau đó, bị cáo D điều khiển xe mô tô biển số 60K6-9567 chở bị cáo H đến gần Khu công nghiệp A, giấu xe mô tô vào bụi cây, lấy các dụng cụ đã đem theo trước đó đột nhập vào kho Ngọc T1 thuộc Công ty TNHH MTV Q1 tại ấp P, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. Tiếp đó, bị cáo D trèo lên vách tôn, dùng kìm cộng lực cắt một đoạn dây điện dài 27,2m, vỏ bằng nhựa màu đen, ký hiệu 0385M XLPE/CU 400mm2, lõi bằng kim loại màu vàng đồng, loại 60 sợi nhỏ, đường tròn lõi 09cm. Bị cáo H đứng ở phía dưới kéo dây điện gom lại. Sau đó, bị cáo D trèo xuống, dùng kìm công lực cắt đoạn dây điện vừa trộm được thành hai đoạn, cùng với bị cáo H dùng dao tách vỏ nhựa bên ngoài dây điện ra để lấy lõi bằng đồng bên trong, lấy các lõi đồng cuộn lại bỏ vào 02 bao tải, đem giấu, rồi về nhà. Đến khoảng 11 giờ ngày 22-7-2023, bị cáo D điều khiển xe mô tô biển số 60K6-9567 chở bị cáo H đến kho Ngọc Thu thuộc Công ty TNHH MTV Q1 lấy 02 bao tải đựng lõi dây điện bằng đồng thì phát hiện và trình báo đến Công an xã A.
- Tại Bản kết luận định giá tài sản số 42/KL-HĐĐG ngày 04-12-2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thuộc Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Sóc Trăng kết luận: Tại thời điểm ngày 21 tháng 7 năm 2023, 27,2m dây điện vỏ bằng nhựa màu đen, ký hiệu 0385M XLPE/CU 400mm2, có lõi bằng kim loại màu vàng đồng, loại 60 sợi nhỏ, đường tròn lõi 09cm, đơn giá 1.600.000 đồng/mét, số lượng 27,2m, nguyên giá 43.520.000 đồng, tỷ lệ chất lượng còn lại 35%, giá trị còn lại 15.232.000 đồng.
- Về vật chứng của vụ án: Cơ quan điều tra Công an huyện C quyết định tạm giữ:
Tạm giữ của bị cáo D: 01 (một) xe mô tô biển số 60K6-9567, loại xe Dream II, màu trắng đen, số máy 10419233, số khung 11040205; 01 (một) đèn pin nhãn hiệu Made in China, loại đèn đội đầu, màu vàng đen, kích thước 6cm x 7,5cm; 27,2m lõi dây điện bằng kim loại, màu vàng đồng, loại lõi 60 sợi nhỏ, đường tròn lõi 09cm, tổng trọng lượng 111kg; 18,5kg vỏ dây điện màu đen, trắng ký hiệu 0385M XLPE/CU 400mm2, hình tròn, đường kính 2,5cm, được cắt thành nhiều đoạn; 01 (một) cây dao, loại dao dùng trong sinh hoạt hàng ngày, có tổng chiều dài 31cm, cán dao bằng kim loại, chiều dài 10cm, lưỡi dao bằng kim loại, chiều dài 21cm, có một bề sắc bén, mũi dao bằng, trên lưỡi dao có một khoen tròn và 01 cây kìm cộng lực bằng kim loại (loại kìm cắt sắt), có tổng chiều dài 60cm, lưỡi kìm bằng kim loại, màu xám, cán kìm bằng kim loại, dài 46cm, được sơn màu xanh, hai đầu của cán kìm được bọc nhựa màu đen.
Tạm giữ của bị cáo H: 01 (một) cây dao, loại dao dùng trong sinh hoạt hàng ngày, có tổng chiều dài 30,5cm, cán dao bằng kim loại, chiều dài 9,5cm, trên cán dao có một sợi vải được quấn nhiều vòng, màu đen, lưỡi dao bằng kim loại chiều dài 21cm, có một bề sắc bén, mũi dao bằng, trên lưỡi dao có một khoen tròn.
Tại giai đoạn điều tra, Cơ quan điều tra Công an huyện C quyết định xử lý vật chứng: Trả lại cho Công ty TNHH MTV Q1 27,2m lõi dây điện bằng kim loại, màu vàng đồng, loại lõi 60 sợi nhỏ, đường tròn lõi 09cm, tổng trọng lượng 111kg; 18,5kg vỏ dây điện màu đen, trắng ký hiệu 0385M XLPE/CU 400mm2, hình tròn, đường kính 2,5cm, được cắt thành nhiều đoạn. Các vật chứng còn lại, Cơ quan điều tra Công an huyện C tạm giữ để xử lý theo quy định của pháp luật.
- Về trách nhiệm dân sự: Công ty TNHH MTV Q1 yêu cầu các bị cáo D, H bồi thường thiệt hại về tài sản số tiền 43.520.000 đồng.
- Tại Cáo trạng số: 16/CT-VKS-CT ngày 20-3-2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành truy tố các bị cáo D, H tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Tại phiên tòa sơ thẩm: Kiểm sát viên giữ nguyên Cáo trạng truy tố đối với các bị cáo D, H. Phát biểu luận tội, Kiểm sát viên đề nghị:
Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố các bị cáo D, H phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng Khoản 1 Điều 173, điểm i, s Khoản 1, 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 50, Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với các bị cáo D, H; xử phạt bị cáo D từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù đến 02 (hai) năm tù; xử phạt bị cáo H từ 01 (một) năm tù đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 584, 585, 587 và 589 của Bộ luật dân sự năm 2015, ghi nhận sự thỏa thuận giữa người đại diện hợp pháp của Công ty TNHH MTV Q1 và bị cáo D, H về việc bị cáo D, H mỗi bị cáo phải bồi thường thiệt hại về tài sản cho Công ty TNHH MTV Q1 số tiền 7.616.000 đồng.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm a Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) đèn pin nhãn hiệu Made in China, loại đèn đội đầu, màu vàng đen, kích thước 6cm x 7,5cm; 01 (một) cây dao, loại dao dùng trong sinh hoạt hàng ngày, có tổng chiều dài 31cm, cán dao bằng kim loại, chiều dài 10cm, lưỡi dao bằng kim loại, chiều dài 21cm, có một bề sắc bén, mũi dao bằng, trên lưỡi dao có một khoen tròn; 01 (một) cây kìm cộng lực bằng kim loại (loại kìm cắt sắt), có tổng chiều dài 60cm, lưỡi kìm bằng kim loại, màu xám, cán kìm bằng kim loại, dài 46cm, được sơn màu xanh, hai đầu của cán kìm được bọc nhựa màu đen; 01 (một) cây dao, loại dao dùng trong sinh hoạt hàng ngày, có tổng chiều dài 30,5cm, cán dao bằng kim loại, chiều dài 9,5cm, trên cán dao có một sợi vải được quấn nhiều vòng, màu đen, lưỡi dao bằng kim loại chiều dài 21cm, có một bề sắc bén, mũi dao bằng, trên lưỡi dao có một khoen tròn. Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 (một) xe mô tô biển số 60K6-9567, loại xe Dream II, màu trắng đen, số máy 10419233, số khung 11040205.
Bị cáo D thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố; thống nhất với luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Trình bày tranh luận, bị cáo D xin giảm nhẹ hình phạt, đồng ý cùng bị cáo H mỗi bị cáo bồi thường thiệt hại về tài sản cho Công ty TNHH MTV Q1 số tiền 7.616.000 đồng. Lời nói sau cùng, bị cáo D xin lỗi bị hại, xin được giảm nhẹ hình phạt.
Người bào chữa cho bị cáo H thống nhất Cáo trạng truy tố bị cáo H tội “Trộm cắp tài sản”; thống nhất tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng cho bị cáo H. Người bào chữa cho bị cáo H đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tình tiết bị cáo H bị rủ rê, lôi kéo phạm tội, được người đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, hoàn cảnh kinh tế khó khăn, phải nuôi con nhỏ, xử phạt bị cáo H mức hình phạt 09 (chín) tháng tù.
Bị cáo H thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố; thống nhất với luận tội của đại diện Viện kiểm sát; thống nhất luận cứ bào chữa của người bào chữa. Trình bày tranh luận, bị cáo H xin giảm nhẹ hình phạt, đồng ý cùng bị cáo D mỗi bị cáo bồi thường thiệt hại về tài sản cho Công ty TNHH MTV Q1 số tiền 7.616.000 đồng. Lời nói sau cùng, bị cáo H xin giảm nhẹ hình phạt.
Người đại diện hợp pháp của bị hại đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo D, H; yêu cầu các bị cáo D, H bồi thường thiệt hại về tài sản cho Công ty TNHH MTV Q1 số tiền 15.232.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra, truy tố, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm những người tham gia tố tụng không có ý kiến hay khiếu nại nên các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa sơ thẩm, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Huỳnh Thế A; người làm chứng ông Tô Thanh Đ vắng mặt. Các bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại và người bào chữa yêu cầu tiếp tục xét xử. Kiểm sát viên đề nghị vẫn tiến hành xét xử theo quy định tại Khoản 1 Điều 292, Khoản 1 Điều 293 và Điều 308 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Hội đồng xét xử xét thấy, những người tham gia tố tụng này đã được triệu tập tham gia phiên tòa, vắng mặt không có lý do và đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, việc họ vắng mặt không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án. Căn cứ vào Khoản 1 Điều 292, Khoản 1 Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[3] Xét hành vi phạm tội của các bị cáo D, H, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo D, H thừa nhận Cáo trạng truy tố các bị cáo tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là đúng hành vi phạm tội, không oan sai; thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội đã thực hiện. Lời khai nhận tội này phù hợp với lời khai của các bị cáo tại giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên tòa sơ thẩm; phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng; phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận định giá tài sản và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ căn cứ để Hội đồng xét xử xác định:
[4] Vào khoảng 23 giờ 30 phút, ngày 21-11-2023, các bị cáo D, H lén lút đột nhập vào kho Ngọc T1 thuộc Công ty TNHH MTV Q1 tại Khu công nghiệp A, ấp P, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng dùng kìm cộng lực cắt 27,2m dây diện, vỏ bằng nhựa màu đen, ký hiệu 0385M XLPE/CU 400mm2, lõi bằng kim loại màu vàng đồng, loại 60 sợi nhỏ, đường tròn lõi 09cm rồi đem giấu. Đến khoảng 11 giờ ngày 22-11-2023, các bị cáo D, H quay lại kho Ngọc T1 để lấy tài sản đi bán thì bị phát hiện, trình báo đến Công an xã A.
[5] Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 42/KL-HĐĐG ngày 04-12-2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự, thuộc Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Sóc Trăng kết luận: Tại thời điểm ngày 21 tháng 7 năm 2023, 27,2m dây điện, vỏ bằng nhựa màu đen, ký hiệu 0385M XLPE/CU 400mm2, lõi bằng kim loại màu vàng đồng, loại 60 sợi nhỏ, đường tròn lõi 09cm, giá trị còn lại 15.232.000 đồng.
[6] Tại Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;
b) ...”.
[7] Đối chiếu với quy định viện dẫn, Hội đồng xét xử xét thấy, các bị cáo D, H là người đã thành niên, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Các bị cáo nhận thức được hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật. Thế nhưng chỉ vì muốn có tiền tiêu xài, các bị cáo D, H đã cùng nhau lén lút đột nhập vào kho Ngọc T1 thuộc Công ty TNHH MTV Q1 cắt lấy 27,2m dây điện có giá trị còn lại 15.232.000 đồng. Do đó, hành vi của các bị cáo D, H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[8] Như vậy, Cáo trạng số: 16/CT-VKS-CT ngày 20-3-2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành truy tố các bị cáo D, H tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
[9] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản được Bộ luật hình sự bảo vệ, ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự tại địa phương nên cần phải xử phạt các bị cáo thật nghiêm, áp dụng hình phạt tù có thời hạn để các bị cáo có thời gian cải tạo, lao động, học tập để biết cách xử sự có chừng mực; biết tôn trọng, chấp hành Hiến pháp và pháp luật.
[10] Khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo không có sự câu kết chặt chẽ, không có sự bàn bạc, phân công nhiệm vụ cho từng người nên là đồng phạm giản đơn, vai trò của từng bị cáo như sau: Đối với bị cáo D: Bị cáo giữ vai trò chính trong vụ án. Bị cáo là người khởi xướng, rủ rê bị cáo H; chuẩn bị công cụ, phương tiện là xe mô tô biển số 60K6-9567, kìm cộng lực, dao, đèn pin; dùng kìm công lực cắt dây điện và cùng bị cáo H dùng dao tách vỏ dây điện để lấy lõi kim loại bằng đồng nhằm mục đích bán lấy tiền chia nhau. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi phạm tội của mình, mức hình phạt nghiêm khắc hơn so với bị cáo H. Đối với bị cáo H: Bị cáo đồng phạm với vai trò là người thực hành trong vụ án. Bị cáo H chuẩn bị công cụ là cây dao, dùng dao tách phần vỏ dây điện để lấy lõi kim loại bằng đồng bỏ vào bao, cùng bị cáo D mang dây điện từ kho Ngọc T1 ra ngoài nhằm mục đích bán lấy tiền chia nhau. Do đó, bị cáo H phải chịu trách nhiệm tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội đã gây ra, nhẹ hơn so với bị cáo D.
[11] Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét toàn diện về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo như sau: Bị cáo D, H đều có nhân thân xấu và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa sơ thẩm các bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; đều là người dân tộc thiểu số (dân tộc Khmer), trình độ học vấn thấp, nhận thức pháp luật còn hạn chế nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình quy định tại điểm i, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) khi quyết định hình phạt.
[12] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện hợp pháp của Công ty TNHH MTV Q1 yêu cầu các bị cáo D, H bồi thường thiệt hại về tài sản số tiền 15.232.000 đồng. Các bị cáo D, H đồng ý mỗi bị cáo bồi thường thiệt hại về tài sản cho Công ty TNHH MTV Q1 số tiền 7.616.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy, các bị cáo và người đại diện hợp pháp của Công ty TNHH MTV Q1 đã thỏa thuận được với nhau về bồi thường thiệt hại về tài sản, thỏa thuận này là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội nên được ghi nhận.
[13] Về xử lý vật chứng: Đối với vật chứng là 01 (một) đèn pin nhãn hiệu Made in China, loại đèn đội đầu, màu vàng đen, kích thước 6cm x 7,5cm; 01 (một) cây dao, loại dao dùng trong sinh hoạt hàng ngày, có tổng chiều dài 31cm, cán dao bằng kim loại, chiều dài 10cm, lưỡi dao bằng kim loại, chiều dài 21cm, có một bề sắc bén, mũi dao bằng, trên lưỡi dao có một khoen tròn; 01 (một) cây kìm cộng lực bằng kim loại (loại kìm cắt sắt), có tổng chiều dài 60cm, lưỡi kìm bằng kim loại, màu xám, cán kìm bằng kim loại, dài 46cm, được sơn màu xanh, hai đầu của cán kìm được bọc nhựa màu đen; 01 (một) cây dao, loại dao dùng trong sinh hoạt hàng ngày, có tổng chiều dài 30,5cm, cán dao bằng kim loại, chiều dài 9,5cm, trên cán dao có một sợi vải được quấn nhiều vòng, màu đen, lưỡi dao bằng kim loại chiều dài 21cm, có một bề sắc bén, mũi dao bằng, trên lưỡi dao có một khoen tròn là công cụ các bị cáo D, H dùng vào việc phạm tội nên tịch thu tiêu hủy. Đối với vật chứng là 01 (một) xe mô tô biển số 60K6-9567, loại xe Dream II, màu trắng đen, số máy 10419233, số khung 11040205 là phương tiện bị cáo D dùng vào việc phạm tội nên tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước.
[14] Kiểm sát viên đề nghị áp dụng pháp luật về tội danh, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trách nhiệm dân sự, mức hình phạt, xử lý vật chứng là có căn cứ, phù hợp với quy định pháp luật. Hội đồng xét xử xét thấy, xử phạt các bị cáo D, H mức hình phạt khởi điểm mà Kiểm sát viên đề nghị mới tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội mà các bị cáo đã gây ra; đủ sức trấn áp răn đe và phòng ngừa tội phạm chung.
[15] Người bào chữa cho bị cáo H, đề nghị xử phạt bị cáo H mức hình phạt 09 (chín) tháng tù là chưa nghiêm khắc, chưa đủ sức trấn áp răn đe và phòng ngừa tội phạm chung nên không được chấp nhận.
[16] Về án phí sơ thẩm: Các bị cáo D, H là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm; phải bồi thường thiệt hại về tài sản cho bị hại nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo H là người dân tộc thiểu số (dân tộc Khmer), cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thuộc trường hợp được miễn nộp án phí nên xem xét, giải quyết cho bị cáo H được miễn nộp toàn bộ án phí phải chịu.
[17] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 1 Điều 173, điểm i, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 50, Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Danh Minh D và bị cáo Trần Hiên .
- - Điểm a Khoản 1 Điều 47, Khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm a Khoản 2 Điều 106, Khoản 2 Điều 136, Khoản 1 Điều 292, Khoản 1 Điều 293, Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
- - Khoản 2 Điều 468, Điều 584, Điều 585, Điều 587 và Điều 589 của Bộ luật dân sự năm 2015.
- - Điểm đ Khoản 1 Điều 12, điểm a, c Khoản 1 Điều 23, Khoản 8 Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Tuyên bố: Các bị cáo Danh Minh D, Trần H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Tuyên xử:
- Xử phạt bị cáo Danh Minh D 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17-01-2024.
- Xử phạt bị cáo Trần H 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16-01-2024.
- Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa các bị cáo Danh Minh D, Trần H và người đại diện hợp pháp của Công ty TNHH MTV Q1 về việc các bị cáo Danh Minh D, Trần H mỗi bị cáo bồi thường thiệt hại về tài sản cho Công ty TNHH MTV Q1 số tiền 7.616.000 đồng. Khi bản án có hiệu lực pháp luật, người có quyền yêu cầu thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, người có nghĩa vụ thi hành án còn phải chịu tiền lãi do chậm thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 cho đến khi thi hành án xong.
- Về xử lý vật chứng: Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước: 01 (một) xe mô tô biển số 60K6-9567, loại xe Dream II, màu trắng đen, số máy 10419233, số khung 11040205. Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) đèn pin nhãn hiệu Made in China, loại đèn đội đầu, màu vàng đen, kích thước 6cm x 7,5cm; 01 (một) cây dao, loại dao dùng trong sinh hoạt hàng ngày, có tổng chiều dài 31cm, cán dao bằng kim loại, chiều dài 10cm, lưỡi dao bằng kim loại, chiều dài 21cm, có một bề sắc bén, mũi dao bằng, trên lưỡi dao có một khoen tròn; 01 (một) cây kìm cộng lực bằng kim loại (loại kìm cắt sắt), có tổng chiều dài 60cm, lưỡi kìm bằng kim loại, màu xám, cán kìm bằng kim loại, dài 46cm, được sơn màu xanh, hai đầu của cán kìm được bọc nhựa màu đen; 01 (một) cây dao, loại dao dùng trong sinh hoạt hàng ngày, có tổng chiều dài 30,5cm, cán dao bằng kim loại, chiều dài 9,5cm, trên cán dao có một sợi vải được quấn nhiều vòng, màu đen, lưỡi dao bằng kim loại chiều dài 21cm, có một bề sắc bén, mũi dao bằng, trên lưỡi dao có một khoen tròn.
- Về án phí sơ thẩm: Bị cáo Danh Minh D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm số tiền 200.000 đồng và án phí dân sự sơ thẩm số tiền 380.800 đồng. Bị cáo Trần H thuộc trường hợp được miễn nộp toàn bộ án phí sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Cao Thành Đạt |
Bản án số 18/2024/HS-ST ngày 10/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH SÓC TRĂNG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 18/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bộ bị cáo Danh Minh D, Trần H phạm tội "Trộm cắp tài sản". Xử phạt bị cáo D 01 năm 06 tháng tù; xử phạt bị cáo Trần H 01 năm tù.
