TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN TỈNH BÌNH PHƯỚC Bản án số: 18/2024/DSST Ngày 09 – 7 – 2024 V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất". | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Thu Thủy
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Thượng Quang Minh
2. Ông Trần Nhị Hường
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Lan – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Sơn– Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản xét xử sơ thẩm, công khai vụ án dân sự thụ lý số 90/2022/TLST-DS ngày 06 tháng 7 năm 2022 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 57/2023/QĐST-DS ngày 31/8/2023, Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 14/2023/QĐST-DS ngày 19/9/2023 và Thông báo mở lại phiên tòa số 04/TB-TA ngày 07/5/2024 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Phạm Thị N, sinh năm 1961; Địa chỉ: Tổ C, ấp B, xã M, huyện H, tỉnh Bình Phước. Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Kim K, sinh năm 1968; Địa chỉ: Tổ E, khu phố E, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Phước. (Có mặt)
- - Bị đơn:
- + Bà Lê Thị Ngọc Đ, sinh năm 1973; Địa chỉ: Tổ B, ấp B, xã M, huyện H, tỉnh Bình Phước.
- + Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1971; Địa chỉ: Tổ C, ấp B, xã M, huyện H, tỉnh Bình Phước.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Lê Thị Ngọc Đ và bà Nguyễn Thị B: Bà Phạm Thị Cẩm B1, sinh năm 1988; Địa chỉ: Ấp A, xã M, huyện H, tỉnh Bình Phước (Có mặt)
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Lê Văn P, sinh năm 1985; Địa chỉ: Tổ B, ấp B, xã M, huyện H, tỉnh Bình Phước (Có yêu cầu vắng mặt)
- Ủy ban nhân dân huyện H, tỉnh Bình Phước. Người đại diện theo pháp luật: Ông Vũ Xuân T - Chủ tịch UBND huyện H. Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Hồng H – Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường huyện H. (Theo Văn bản ủy quyền số 1323/UBND-NC ngày 29/7/2021) (Có yêu cầu vắng mặt)
- Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B. Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Văn H1 – Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Ông Huỳnh D – Giám đốc Chi nhánh VPĐKĐĐ huyện H. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Ông Nguyễn Kim K - Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Phạm Thị N trình bày:
Thửa đất số 133 tờ bản đồ số 23 (nay là thửa 43 tờ bản đồ số 26) tại ấp B xã M, huyện H, tỉnh Bình Phước có nguồn gốc do chồng bà N là ông Nguyễn Mạnh T1 (Đã mất năm 2015) khai hoang từ năm 1976. Khi cấp sổ lần đầu năm 2000 đất đứng tên hộ ông Nguyễn Mạnh T1. Sau khi ông T1 mất thì gia đình thống nhất giao quyền sử dụng đất thửa 133 cho một mình bà N đứng tên và bà N được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CI 206437, số vào sổ CS 03823 ngày 06/9/2017. Tháng 10/2021 bà N tiến hành đo đạc lại đất thì phát hiện đất của bà không đủ so với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp, trong đó một phần đã bị bà Nguyễn Thị B và bà Lê Thị Ngọc Đ lấn chiếm. Do vậy, bà N làm đơn khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị B trả lại 800m² đất thuộc thửa đất 133, yêu cầu bà Lê Thị Ngọc Đ trả lại 200m² đất thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất 133 mà hai bà trên đang sử dụng.
Sau khi có kết quả đo đạc do Công ty TNHH MTV Đ1 thực hiện thì bà N đã có đơn sửa đổi bổ sung yêu cầu khởi kiện, cụ thể là yêu cầu bà B trả lại phần đất đã lấn chiếm là 608,6m2, yêu cầu bà Đ trả lại phần đất đã lấn chiếm là 293,5m2.
Bà Phạm Thị Cẩm B1 - Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn Nguyễn Thị B trình bày:
Thửa đất 124 (nay là thửa 54 tờ bản đồ 26) có nguồn gốc là do gia đình bà B khai phá từ năm 1976, được nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 2000. Bà B được mẹ tặng cho thửa đất trên và được nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 16/11/2005 đối với thửa đất 124, tờ 23, đất tọa lạc tại ấp B, xã M, huyện H, tỉnh Bình Phước. Năm 2005 khi làm thủ tục tặng cho thì bà B có yêu cầu đo đạc lại đất, cán bộ đo đạc đến thực địa, yêu cầu các chủ giáp ranh xác định ranh giới, khi thấy không có tranh chấp thì họ cấp đất cho bà B theo đúng như sổ đỏ đã cấp năm 2000, không tiến hành đo lại. Phần ranh của bà N vào năm 2005 do ông T1, chồng bà N ký giáp ranh. Ranh giới giữa hai thửa đất 133 và 134 ổn định và trước đây không có tranh chấp gì. Thời điểm bà N bán phần đất mặt cho người làm công trình thì ông T1 cũng chỉ móc tới phần ranh giới giữa hai bên.
Đối với yêu cầu của bà N đòi bà B trả phần đất có diện tích 608,6m2 thì bà B không chấp nhận. Bà B có đơn phản tố yêu cầu công nhận quyền sử dụng của bà đối với 608,6m2 đất thuộc thửa 133 (nay là thửa 43) tờ bản đồ 23 tại ấp B, xã M, huyện H, tỉnh Bình Phước. Đồng thời, bà Nguyễn Thị B có quyền đăng ký biến động phần đất 608,6m trên vào thửa 124 (nay là thửa 54) tờ bản đồ 32 tại ấp B, xã M đứng tên bà Nguyễn Thị B.
Bà Phạm Thị Cẩm B1 - Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn Lê Thị Ngọc Đ trình bày:
Nguồn gốc thửa đất 134 (nay là thửa 161 tờ bản đồ 27) do gia đình bà Đ khai phá và sử dụng ổn định từ năm 1976. Năm 2007 khi cấp sổ chính quy thửa 134 bị cơ quan nhà nước cấp nhầm cho ông T1, chồng bà N. Vì vậy, năm 2008 ông T1 giao sổ cho cha của bà Đ là ông M đi tách riêng thửa 134. Sau khi ông M mất thì năm 2020 gia đình kê khai thừa kế cho mẹ của bà Đ là bà Nguyễn Thị G đứng tên. Đến năm 2021 bà Nguyễn Thị G tặng cho con là bà Đ thửa đất trên. Quá trình thực hiện các thủ tục kê khai thừa kế chỉ căn cứ trích lục hồ sơ theo sổ đỏ đã được cấp để sang tên, không đi đo đạc trên thực tế. Từ khi khai phá đến nay phần ranh đất phía tây của thửa 134 với thửa 133 của bà N không có gì thay đổi, trước khi bà N khởi kiện vụ án này thì không có tranh chấp. Đối với phần ranh phía bắc, vào năm 2015 bà N cho rằng ông M (ba của bà N) trồng hàng xây xương rồng làm ranh giới lấn sang thửa 133 của bà nên kiện ông M ra xã, khi xã đến giải quyết thì ông M đồng ý dời hàng rào về phía trong đất ông M (theo sơ đồ đo đạc là ông Mạnh dời hàng rào về 2,81m), đồng thời hai bên thống nhất cắm
mốc ranh giới giữa thửa 133, 134 và ông M làm hàng rào lưới B40 theo ranh giới từ năm 2015 đến nay.
Do bà Đ không lấn chiếm đất nên không đồng ý trả lại 293,5m2 đất theo yêu cầu của bà N. Đồng thời, bà Đ có đơn phản tố yêu cầu Tòa án công nhận quyền sử dụng của bà Lê Thị Ngọc Đ đối với 239,5m đất thuộc thửa 133 (nay là thửa 43) tờ bản đồ 23 tại ấp B, xã M, huyện H, tỉnh Bình Phước. Đồng thời xác định cho bà Lê Thị Ngọc Đ có quyền đăng ký biến động phần đất 239,5m' trên vào thửa 134 (nay là thửa 161) tờ bản đồ 32 tại ấp B, xã M, huyện H, tỉnh Bình Phước đứng tên bà Lê Thị Ngọc Đ.
Đối với phần đất 106,6m2 đất thuộc sổ đỏ của bà Đ mà bà N đang sử dụng thì bà Đ không tranh chấp, bà Đ đồng ý công nhận theo đúng hiện trạng sử dụng của các bên.
Tại bản trình bày ý kiến ngày 25/8/2023 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn P trình bày:
Ông Lê Văn P là chủ sử dụng thửa đất 43 (nay là thửa 44), giáp ranh với thửa đất đất 124, nay là thửa 54 của bà Nguyễn Thị B. Giữa đất của ông P và bà B có hàng xà cừ làm ranh giới. Ông P xác định ông và bà B không có tranh chấp, đề nghị Tòa án căn cứ vào ranh đất thực tế của hai thửa đất để giải quyết vụ án.
Tại văn bản số 268/PTNMT ngày 08/4/2024 người đại diện theo ủy quyền của Ủy ban nhân dân huyện H có ý kiến như sau:
Qua kiểm tra hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho thấy trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với các thửa đất số 134 và 124 tờ bản đồ số 23 tọa lạc tại ấp B, xã M, huyện H, tỉnh Bình Phước là đúng theo quy định của pháp luật tại thời điểm cấp giấy chứng nhận. Khi thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với các trường hợp chuyển nhượng quyền sử dụng đất, Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất huyện B (nay là Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện H) căn cứ Bản đồ địa chính chính quy xã M năm 2000 và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp để làm cơ sở trình UBND huyện B (cũ) cấp giấy chứng nhận. Việc đo đạc, kiểm tra hiện trạng ranh giới thửa đất ngoài thực địa chỉ được thực hiện đối với các trường hợp thực hiện thủ tục tách thửa hoặc đăng ký biến động ranh giới thửa đất theo hiện trạng sử dụng.
Tại văn bản số 2910/STNMT-VPĐKĐĐ ngày 09/11/2023 Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B có ý kiến như sau:
Việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sau đây gọi tắt là GCN) số CI 206437, số vào số CS 03823 ngày 06/9/2017 đối với thửa đất số 13, tờ bản đồ số 23, diện tích 11931,0m² tọa lạc tại ấp B, xã M, huyện H, tỉnh Bình Phước cho bà Phạm Thị N được thực hiện đúng trình tự thủ tục.
Đối với GCN có số phát hành DC 073939, số vào sổ cấp GCN: CS 04947, thửa đất số 134 tờ bản đồ số 23 diện tích 2345,0m² tọa lạc tại ấp B, xã M, huyện H, tỉnh Bình Phước do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 15/12/2021 cho bà Lê Thị Ngọc Đ được thực hiện đúng quy định.
Khi thực hiện đăng ký biến động thay đổi tên chủ sử dụng đất thông qua việc kê khai thừa kế quyền sử dụng đất thửa 133 năm 2017 và thửa đất 134 năm 2021 thì do thừa kế nguyên thửa nên Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Hớn Quản căn cứ vào hồ sơ địa chính và bản đồ địa chính năm 2000 thực hiện trích lục bản đồ địa chính để thực hiện đăng ký biến động mà không đo đạc kiểm tra hiện trạng sử dụng đất nên không phát hiện hàng rào, ranh giới sử dụng đất thực tế của các bên không giống với GCN.
Trường hợp có cơ sở để xác định ranh giới sử dụng đất thực tế của các bên là phù hợp và Tòa án kiến nghị thu hồi các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp để cấp lại theo đúng hiện trạng sử dụng thì sau khi bản án có hiệu lực, Sở T sẽ xem xét cấp đổi GCN cho các bên liên quan theo quy định của pháp luật.
* Tranh luận:
- + Đại diện nguyên đơn tranh luận: Về thời gian khai phá thửa 133, do bà N không nhớ nên khai nhầm lẫn tại đơn khởi kiện bà N khai thời gian khai phá là năm 1985 và và quá trình hòa giải là năm 1989, thực tế đất của gia đình bà N khai phá năm 1976. Năm 2000 hộ ông T1 được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu, đến năm 2008 sang nhượng lại cho ông M một phần đất là thửa 134, diện tích đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp là hoàn toàn chính xác. Gia đình ông T1, bà N đã sử dụng đất ổn định từ khi khai phá đất đến nay. Việc diện tích đất hiện nay bị thiếu so với giấy chứng nhận được cấp là do bị lấn chiếm. Do năm 2015 bà N chưa yêu cầu giải quyết phần ranh phía tây nên nay bà N yêu cầu bà Đ trả lại phần đất đã lấn chiếm là 293,5m2. Bà N đồng ý trả cho bà Đ giá trị cây trồng và tài sản bà Đ đã tạo lập trên phần đất này theo giá hội đồng định giá đã quyết định trong biên bản định giá tài sản. Đối với phần đất bà B lấn chiếm, do năm 2010 ông T1 bán đất bề mặt cho người ta làm đường, khi còn lại phần đất 608,6m2 thì họ không mua nữa nên ông T1 để lại. Trước đây phần đất này hai bên có tranh chấp, cãi nhau nhưng không yêu cầu chính quyền địa phương giải quyết nên không có chứng cứ về việc tranh chấp. Bà N giữ
nguyên yêu cầu đòi bà B trả lại phần đất đã lấn chiếm là 608,6m2. Bà N đồng ý trả cho bà B giá trị cây trồng và tài sản bà B đã tạo lập trên phần đất này theo giá hội đồng định giá đã quyết định trong biên bản định giá tài sản. Nguyên đơn không chấp nhận yêu cầu phản tố của bà B và bà Đ.
- + Đại diện bị đơn Lê Thị Ngọc Đ tranh luận: Về nguồn gốc thửa đất 134 của bà Đ do cha của bà Đ là ông M khai phá từ năm 1976, đến năm 2000 nhà nước cấp nhầm phần đất trên vào sổ đỏ của ông T1 chồng bà N nên đến năm 2008 ông M mới làm thủ tục tách sổ ra, chứ không phải ông M nhận chuyển nhượng đất của ông T1. Ranh giới đất của nhà bà Đ và bà N là ranh từ khi khai phá và không có tranh chấp. Đến năm 2015 bà N tranh chấp với ông M và sau khi xã hòa giải bà N và ông M đã thống nhất tất cả các ranh giới tiếp giáp của hai thửa đất và ông M làm hàng rào kiên cố như hiện nay bà Đ đang sử dụng. Do vậy, ranh giới hàng rào hiện nay không phải do bà Đ tự làm mà do ông M và bà N đã thống nhất từ năm 2015. Vì vậy, bà Đ không chấp nhận yêu cầu đòi đất của bà N. Bà Đ giữ nguyên yêu cầu phản tố yêu cầu công nhận phần đất 293,5m2 là thuộc quyền sử dụng của bà Đ.
- + Đại diện bị đơn Nguyễn Thị B tranh luận: Nguồn gốc đất của bà B và ông T1 chồng bà N cùng là đất khai phá. Khi ông T1 còn sử dụng đất thì hai bên chưa bao giờ có tranh chấp, năm 2010 ông T1 bán đất mặt thì đã móc đến sát phần ranh đất với thửa 124 của bà B. Nguyên đơn cho rằng ông T1 chừa lại phần đất 608,6m2 là không có căn cứ vì từ trước đến nay phần đất 608,6m2 chỉ có gia đình bà B sử dụng, trên đất có những cây trồng đã hơn 30 năm tuổi. Vì vậy, bà B không chấp nhận yêu cầu đòi đất của bà N. Bà B giữ nguyên yêu cầu phản tố yêu cầu công nhận phần đất 608,6m2 là thuộc quyền sử dụng của bà B.
Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa:
Về tố tụng: Thẩm phán đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự về việc thu thập chứng cứ, giải quyết vụ án từ khi, nhận đơn, thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử mở phiên toà. Tại phiên toà hôm nay, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án:
- + Đối với yêu cầu khởi kiện của bà N về việc yêu cầu Toà án buộc bà Đ trả lại 293,5m² đất đã lấn chiếm: Xét thấy các bên trình bày thống nhất nguồn gốc của hai thửa đất 133 và 134 là do ông T1- chồng bà N, ông M- cha của bà Đ đã khai phá và sử dụng. Bà N và bà Đ sau khi nhận thừa kế và tặng cho cũng sử dụng theo ranh giới cũ. Ranh giới hiện tại giữa nhà bà N và cha của bà Đ là ranh giới các bên đã thống nhất vào năm 2015 trước sự chứng kiến của cán bộ ủy ban nhân dân xã M. Vì vậy, tuy ranh giới theo
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà N và bà Đ có sự chênh lệch so với ranh giới thực tế nhưng ranh thực tế là do các bên tự thống nhất thoả thuận xác định vị trí nên các bên có nghĩa vụ tôn trọng ranh giới và thực hiện việc đăng ký biến động quyền sử dụng đất theo hiện trạng sử dụng theo quy định tại Điều 175, Điều 176 Bộ luật dân sự năm 2015. Vì vậy, bà N khởi kiện yêu cầu bà Đ trả lại 293,5m2 đất là không có căn cứ. đề nghị HĐXX không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà N.
- + Đối với yêu cầu khởi kiện của bà N về việc yêu cầu Toà án buộc bà B trả lại 608,6 m² đất đã lấn chiếm cho bà N: Nguồn gốc của hai thửa đất 133 và 124 là do ông T1 ông T1- chồng bà N, bà H2- mẹ của bà B đã khai phá và sử dụng. Sau khi được nhận thừa kế thì bà N vẫn sử dụng theo diện tích, ranh giới trước đây ông T1 sử dụng. Bà N và bà B sau khi nhận thừa kế và tặng cho cũng sử dụng theo ranh giới cũ. Tại biên bản xém xét thẩm định tại chỗ của Toà án cũng như lời khai của các đương sự xác định theo ranh thực tế thì thửa đất mà bà N đang quản lý, sử dụng thấp hơn với thửa đất bà B quản lý, sử dụng khoảng 5m. diện tích đất tranh chấp này từ gia đình bà B quản lý, sử dụng và trồng cây ổn định trên 30 năm mà không có tranh chấp gì với ông T1. Bên cạnh đó, ông T1, bà N cũng chỉ canh tác trên phần đất bà N hiện tại đang sử dụng. Do vậy, quan điểm của bà N cho rằng ông T1 múc đất bán và san lấp mặt bằng toàn bộ thửa đất nhưng lại chừa 608,6 m² trên cao không san bằng là không phù hợp, nên cần xác định vị trí chênh lệch về chiều cao của hai thửa đất là ranh giới do bà B và ông T1, bà N đã xác định. Như vậy, đây là trường hợp có sự chênh lệch diện tích giữa số liệu đo đạc thực tế với số liệu ghi trên Giấy chứng nhận đã cấp mà ranh giới thửa đất đang sử dụng không thay đổi so với ranh giới thửa đất tại thời điểm được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên cần phải công nhận ranh thực tế các bên đang sử dụng. Vì vậy, bà N khởi kiện yêu cầu bà B trả lại 608,6m² là không có căn cứ nên đề nghị HĐXX không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà N.
- + Đối với yêu cầu phản tố của bị đơn: Từ những nhận định trên, có cơ sở xác định yêu cầu phản tố của bà Đ và bà B là có cơ sở, do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận, công nhận 293,5m² đất đang tranh chấp thuộc quyền sử dụng của bà Đ; công nhận 608,6m² đất đang tranh chấp thuộc quyền sử dụng của bà B.
Án phí, chi phí tố tụng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
- - Nguyên đơn khởi kiện đòi bị đơn trả lại đất nên quan hệ pháp luật của vụ án là Tranh chấp quyền sử dụng đất theo quy định tại khoản 9 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- - Các thửa đất có tranh chấp tọa lạc tại xã M, huyện H, tỉnh Bình Phước, căn cứ khoản 1 Điều 35 và điểm c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước.
- - Bà Phạm Thị N có đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện sau khi có kết quả đo đạc là phù hợp, xác định chính xác diện tích đất có tranh chấp trên thực tế, không vượt quá yêu cầu khởi kiện ban đầu nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2] Về nguồn gốc quyền sử dụng đất của các thửa đất có tranh chấp trong vụ án: Về thời gian khai phá thửa đất 133, bà N khai có khi là năm 1985, có khi là năm 1989 và tại phiên tòa thì người đại diện theo ủy quyền của bà N khai năm 1976. Tuy các lời khai không thống nhất nhưng đối chiếu với lời khai cảu các đương sự khác cũng xác định được thửa đất 133 có nguồn gốc là đất khai phá. Xét lời khai của các đương sự phù hợp với hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thể hiện nguồn gốc các thửa đất số 133 (nay là thửa 43), thửa đất 124 (nay là thửa 54, thửa đất 134 (nay là thửa 161) đều là đất do các hộ gia đình khai phá, đến năm 2000 được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị N và và yêu cầu phản tố của bà Nguyễn Thị B, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Bà Phạm Thị N khởi kiện yêu cầu bà B trả lại 608,6m2 đất vì bà lý do phần đất trên thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 133 của bà N. Ngoài ra, bà cho rằng khi ông T1 chồng bà bán đất bề mặt thửa đất 133 thì vẫn còn để lại 608,6m2. Tuy nhiên, hiện trạng sử dụng đất thể hiện phần đất của bà N và bà B hiện nay có sự tách biệt rõ ràng, phần đất của bà B có chỗ cao hơn nền đất của bà N 05m. Theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ thể hiện tại phần đất 608,6m2 có 08 cây điều trên 30 năm tuổi do gia đình bà B trồng. Điều này cho thấy lời khai của bà B về việc gia đình bà đã quản lý, sử dụng phần đất trên từ khi khai phá và vị trí chênh lệch về chiều cao của hai thửa đất là ranh giới do bà B và ông T1 đã xác định là có cơ sở.
Theo văn bản trình bày ý kiến của Sở T và Ủy ban nhân dân huyện H thể hiện khi giải quyết các hồ sơ thừa kế, tặng cho nguyên thửa thì cơ quan có thẩm quyền chỉ căn cứ vào hồ sơ địa chính để thực hiện đăng ký biến động mà không đo đạc kiểm tra hiện trạng sử dụng đất. Vì vậy, khi bà B nhận tặng cho thửa đất 124 vào năm 2005 và bà N nhận thừa kế thửa đất 133 vào năm 2017 thì cơ quan
có thẩm quyền không đo đạc nên không biết được sự thay đổi về ranh giới đất. Do có sự chênh lệch diện tích giữa số liệu đo đạc thực tế với số liệu ghi trên Giấy chứng nhận đã cấp mà ranh giới thửa đất đang sử dụng không thay đổi so với ranh giới thửa đất tại thời điểm được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên cần phải công nhận ranh thực tế các bên đang sử dụng. Tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của bà N cho rằng trước khi khởi kiện vụ án này thì gia đình bà N và bà B đã nhiều lần có tranh chấp phần đất này nhưng không đưa ra được chứng cứ chứng minh.
Từ những nhận định trên có thể thấy trình bày của bà B cho rằng phần đất 608,6m2 từ khi khai phá đến nay do gia đình bà B sử dụng là có cơ sở. Do vậy, Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà N về việc đòi bà B trả lại 608,6m2. Đối với yêu cầu phản tố của bà B phù hợp với hiện trạng sử dụng đất nên Hội đồng xét xử chấp nhận công nhận quyền sử dụng đất của bà đối với phần đất 608,6m2.
[4] Xét yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị N và yêu cầu phản tố của bà Lê Thị Ngọc Đ, Hội đồng xét xử nhận định:
Quá trình giải quyết vụ án, bà N căn cứ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất xác định bà Đ đang lấn chiếm 293,5m² đất thuộc thửa 133 nên bà yêu cầu bà Đ trả lại đất. Tại phiên tòa, người đại diện của bà N cho rằng, năm 2015 bà N và ông M (cha của bà Đ) chỉ tranh chấp phần ranh phía bắc thửa 134 (hướng đất theo sơ đồ đo đạc), còn phần ranh phía tây thửa 134 năm 2015 chưa tranh chấp nên đến nay bà N khởi kiện. Tuy nhiên, theo trình bày của bà N tại Biên bản hòa giải ngày 31/8/2023 thể hiện, khi gia đình bà N trồng cao su trên thửa 133, ông M trồng cao su trên thửa 134 thì hai bên đã cùng xác định hàng cao su là ranh đất. Tuy nhiên, đến năm 2015 do ông M trồng cây xương rồng tại phần ranh phía bắc của thửa 134 lấn sang phần đất của bà N hơn 02m nên bà kiện ông M ra Ủy ban nhân dân xã M. Khi xã giải quyết thì ông M đồng ý dời hàng rào ở phần ranh phía bắc thửa đất 134 lại như vị trí hiện nay. Thời điểm năm 2015 ông M sử dụng phần ranh phía tây thửa 134 đúng theo ranh giới cây cao su mà hai bên đã thống nhất nên bà N không tranh chấp. Như vậy, có thể thấy năm 2015 bà N và ông M thỏa thuận ranh giới đất với sự chứng kiến của Ủy ban nhân dân xã M là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 265 Bộ luật dân sự 2005 (được quy định tương tự tại khoản 1 Điều 175 Bộ luật dân sự 2015) là “Ranh giới giữa các bất động sản liền kề được xác định theo thỏa thuận hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền”. Sự thỏa thuận ranh giới còn thể hiện trên thực tế theo sơ đồ đo đạc thì hiện nay bà N đang sử dụng 106,6m2 đất thuộc thửa 134 và bà Đ sử dụng
293,5m² đất thuộc thửa 133. Do vậy, nay bà N căn cứ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để yêu cầu bà Đ trả lại 293,5m² đất là không phù hợp với hiện trạng sử dụng đất, ranh giới đã thỏa thuận và sử dụng ổn định của bà N và ông M từ năm 2015 đến nay. Do vậy, yêu cầu khởi kiện của bà N đòi bà Đ trả lại 293,5m² không được chấp nhận. Trước khi mở phiên tòa, đại diện nguyên đơn cung cấp văn bản xác nhận, làm chứng của một số người cho rằng năm 2015 bà N chưa tranh chấp phần ranh phía tây thửa 134. Tuy nhiên, lời trình bày của người làm chứng không phù hợp với lời khai của bà N và tình tiết khách quan của vụ án nên không được chấp nhận.
Những nhận định về yêu cầu khởi kiện của bà N đã xác định được yêu cầu phản tố của bà Đ có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Đ, công nhận quyền sử dụng đất của bà Đ đối với 293,5m² đất thuộc thửa 133.
[5] Do yêu cầu phản tố của bà Nguyễn Thị B và bà Lê Thị Ngọc Đ được chấp nhận nên bà Nguyễn Thị B có quyền liên hệ cơ quan có thẩm quyền để đăng ký biến động phần đất 608,6m2 đã được công nhận theo bản án này vào thửa đất 124 (nay là thửa 54 tờ bản đồ 26) và bà Lê Thị Ngọc Đ có quyền liên hệ cơ quan có thẩm quyền để đăng ký biến động phần đất 293,5m² đã được công nhận theo bản án này vào thửa đất 134 (nay là thửa 161 tờ bản đồ 27).
Kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền có thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CI 206437, số vào sổ CS 03823 của thửa đất số 133 tờ bản đồ số 23 (nay là thửa 43 tờ bản đồ số 26) cấp ngày 06/9/2017 tại ấp B xã M, huyện H, tỉnh Bình Phước đứng tên bà Phạm Thị N để thực hiện thủ tục biến động theo bản án này.
[6] Ông Lê Văn P là chủ sử dụng thửa đất 43 (nay là thửa 44), giáp ranh với thửa đất đất 124, nay là thửa 54 của bà Nguyễn Thị B. Theo sơ đồ có 331m2 đất thuộc thửa 44 nhưng bà B đang sử dụng. Ông P xác định giữa đất của ông P và bà B có hàng xà cừ làm ranh giới, xác định ranh thực tế giữa hai thửa đất là đúng. Do ông không tranh chấp đối với 331m2 trên, không tranh chấp gì với bà B nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
Đối với phần đất 106,6m2 đất thuộc thửa đất 134 (nay là thửa 161 tờ bản đồ 27) bà Lê Thị Ngọc Đ tự nguyện công nhận phần đất trên thuộc quyền sử dụng của bà Phạm Thị N và các bên không tranh chấp nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
[7] Quan điểm tranh luận của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn không được Hội đồng chấp nhận. Quan điểm tranh luận của người đại diện
theo ủy quyền của bị đơn đề nghị bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[8] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án tại phiên tòa là phù hợp với quy định của pháp luật.
[9] Về chi phí tố tụng: Bà Phạm Thị N đã đóng tạm ứng chi phí tố tụng gồm: Định giá tài sản 3.000.000đ, xem xét thẩm định tại chỗ 2.000.000đ, đo đạc 27.147.000đ. Tổng cộng: 32.147.000đ (ba mươi hai triệu một trăm bốn mươi bảy triệu đồng). Do yêu cầu của bà N không được chấp nhận nên bà N phải chịu toàn bộ chi phí tố tụng trên.
[10] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của bà N không được chấp nhận, yêu cầu phản tố của bị đơn bà Đ và bà B được chấp nhận nên bà N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 600.000đ cho yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận, được trừ vào tạm ứng án phí đã nộp. 600.000đ cho yêu cầu phản tố của bị đơn được chấp nhận.
Do yêu cầu phản tố của bị đơn bà Đ và bà B được chấp nhận nên bà Đ và bà B không phải chịu án phí. Trả lại cho bà Đ, bà B số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Từ các lẽ nêu trên:
QUYẾT ĐỊNH:
- - Áp dụng khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 227, các điều 146, 147, 266 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 95, Điều 100, Điều 166, Điều 170, Điều 203 Luật đất đai 2013; khoản 1 Điều 265 Bộ luật dân sự 2005, khoản 1 Điều 175 Bộ luật dân sự 2015.
- - Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị N về việc yêu cầu bà Nguyễn Thị B trả lại 608,6m2 đất, yêu cầu bà Lê Thị Ngọc Đ trả lại 293,5m2 đất thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 133 tờ bản đồ số 23 (nay là thửa 43 tờ bản đồ số 26) tại ấp B xã M, huyện H, tỉnh Bình Phước.
2. Chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Nguyễn Thị B. Công nhận bà Nguyễn Thị B có quyền sử dụng đối với 608,6m2 đất thuộc thửa 133 (nay là thửa 43) tờ bản đồ 23 tại ấp B, xã M, huyện H, tỉnh Bình Phước. Đất có tứ cận phía đông và phía bắc giáp thửa 133 (nay là thửa 43 của bà Phạm Thị N, phía tây và phía nam giáp thửa đất 124 (nay là thửa 54) của bà Nguyễn Thị B, cạnh phía tây có 8,43m
giáp với phần đất 331m2 thuộc thửa 44 đứng tên ông Lê Văn P nhưng do bà Nguyễn Thị B quản lý sử dụng. Trên đất có 08 cây điều trên 30 năm tuổi, 35 cây cao su trồng năm 2022, 01 hàng rào kẽm gai cột gỗ.
Bà Nguyễn Thị B có quyền liên hệ cơ quan có thẩm quyền để đăng ký biến động phần đất 608,6m2 đã được công nhận theo bản án này vào thửa đất 124 (nay là thửa 54 tờ bản đồ 26) tại ấp B, xã M,huyện H, tỉnh Bình Phước đứng tên bà Nguyễn Thị B.
3. Chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Lê Thị Ngọc Đ. Công nhận bà Lê Thị Ngọc Đ có quyền sử dụng đối với 239,5m đất thuộc thửa 133 (nay là thửa 43) tờ bản đồ 23 tại ấp B, xã M, huyện H, tỉnh Bình Phước. Đất có tứ cận phía đông giáp thửa 134 (nay là thửa 161), phía nam giáp đường đi, cạnh phía tây 32,85m và cạnh phía bắc 8,66m giáp thửa thửa 133 (nay là thửa 43 của bà Phạm Thị N. Trên đất có 09 cây điều trồng năm 2017, 06 cây cao su trồng năm 2013, 01 hàng rào cột bê tông lưới B40 làm năm 2015.
Bà Lê Thị Ngọc Đ có quyền liên hệ cơ quan có thẩm quyền để đăng ký biến động phần đất 239,5m2 đã được công nhận theo bản án này vào thửa đất 134 (nay là thửa 161 tờ bản đồ 27) tại ấp B, xã M, huyện H, tỉnh Bình Phước đứng tên bà Lê Thị Ngọc Đ.
4. Đối với phần đất 106,6m2 đất thuộc thửa đất 134 (nay là thửa 161 tờ bản đồ 27) bà Lê Thị Ngọc Đ tự nguyện công nhận phần đất trên thuộc quyền sử dụng của bà Phạm Thị N, các bên không tranh chấp nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
5. Kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền có thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CI 206437, số vào sổ CS 03823 của thửa đất số 133 tờ bản đồ số 23 (nay là thửa 43 tờ bản đồ số 26) cấp ngày 06/9/2017 tại ấp B xã M, huyện H, tỉnh Bình Phước đứng tên bà Phạm Thị N để thực hiện thủ tục biến động theo bản án này.
Diện tích, tứ cận, vị trí các thửa đất thể hiện tại sơ đồ đo đạc do Công ty TNHH M1 đo đạc bản đồ Tấn Thành thực hiện, được Sở T ký thẩm định ngày 02/8/2023.
6. Về chi phí tố tụng: Tổng chi phí tố tụng gồm: Chi phí định giá tài sản 3.000.000đ, xem xét thẩm định tại chỗ 2.000.000đ, đo đạc 27.147.000đ. Tổng cộng: 32.147.000đ (ba mươi hai triệu một trăm bốn mươi bảy triệu đồng). Do yêu
cầu của bà N không được chấp nhận nên bà N phải chịu toàn bộ chi phí tố tụng, được trừ vào 32.147.000đ tạm ứng chi phí tố tụng đã nộp.
7. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 600.000₫ do yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận, được trừ vào tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0014046 ngày 06/7/2022 và tại biên lai thu số 0014047 ngày 06/7/2022 Chi cục thi hành án dân sự huyện Hớn Quản.
Bà N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 600.000₫ do yêu cầu phản tố của bị đơn bà Đ và bà B được chấp nhận.
Trả lại cho bà Nguyễn Thị B 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0014754 ngày 25/8/2023; Trả lại cho bà Lê Thị Ngọc Đ 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0014753 ngày 25/8/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Hớn Quản.
8. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
Nơi nhận :
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đoàn Thị Thu Thủy |
Bản án số 18/2024/DSST ngày 09/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN TỈNH BÌNH PHƯỚC về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 18/2024/DSST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp đất đai
