Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẾN TRE

TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2024/KDTM-ST

Ngày: 06/9/2024

V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE – TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thuý Hằng

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông: Lê Anh Giàu
  2. Bà: Dương Thị Thanh Thuý

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Huỳnh Sơn Trường

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Ấm – Kiểm sát viên.

Trong ngày 06 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 09/2024/TLST-KDTM ngày 23 tháng 4 năm 2024, về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2024/QĐXXST-KDTM ngày 30 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

  • + Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần N1 (Tên viết tắt: N2).
  • Địa chỉ trụ sở: Số B đường C, phường D, quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Ngô Phúc V – Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.
  • Người đại diện Đại diện theo uỷ quyền: Ông Trần Ngọc T – Chức vụ: Tổng giám đốc.
  • Người đại diện theo uỷ quyền khởi kiện: Bà Nguyễn Thị N – Chức vụ: Phó giám đốc phụ trách Ngân hàng Thương mại Cổ phần N1 - Chi nhánh T1.
  • Đại diện theo uỷ quyền tham gia tố tụng: Ông Lê Hoàng D – Chức vụ: Phó giám đốc Ngân hàng Thương mại Cổ phần N1 – Chi nhánh T1. Có mặt.
  • Địa chỉ: Số A, đường N, phường D, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.
  • + Bị đơn: Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Một thành viên A
  • Địa chỉ trụ sở: Số A, đường N, phường H, thành phố B, tỉnh Bến Tre.
  • Đại diện theo pháp luật: Ông Trần Văn Phú – Chức vụ: Giám đốc. Vắng mặt.
  • + Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Văn P, sinh năm: 1985. Địa chỉ: Số A, ấp A, xã P, thành phố B, tỉnh Bến Tre. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 22/3/2024 của nguyên đơn là Ngân hàng Thương mại Cổ phần N1, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Lê Hoàng D trình bày:

Ngân hàng Thương mại Cổ phần N1 (tên viết tắt: N2) - Chi Nhánh T1 có ký kết hợp đồng cho Công Ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viêA (TNHH A) An Phú D1 vay tiền theo Hợp đồng tín dụng hạn mức số 0714/2022/606-CV ngày 13/12/2022 và thoả thuận sửa đổi, bổ sung hợp đồng tín dụng hạn mức số: 01/SĐ-0714/606-CV ngày 12/7/2023 (sau đây gọi tắt là “Hợp đồng tín dụng”). Nội dung thỏa thuận: Hạn mức tín dụng là 2.800.000.000 đồng, lãi suất trong hạn được quy định trong từng thời điểm nhận tiền vay (giải ngân), lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn áp dụng đối với dư nợ gốc quá hạn kể từ thời điểm chuyển nợ quá hạn, lãi phạt chậm trả lãi 10%/năm và được điều chỉnh từng thời kỳ, mục đích vay bổ sung vốn kinh doanh, thời hạn vay tối đa không qúa 06 tháng trên mỗi khế ước nhận nợ, phương thức thanh toán: trả nợ gốc khi đến hạn và trả nợ lãi vào ngày 15 hàng tháng.

Khoản cấp tín dụng trên được bảo đảm bằng tài sản là bất động sản thuộc quyền sở hữu, sử dụng của ông Trần Văn P1 theo Hợp đồng thế chấp số 0046/2019/606-BĐ ngày 17/10/2019, thông tin tài sản chi tiết như sau: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CL 166880 vào sổ cấp GCN: CS03057 do Sở tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 13/9/2017 tại xã P, TP B, Bến Tre cho ông Trần Văn P1 đứng tên quyền sử dụng đất. Cụ thể: Thửa đất số 547, tờ bản đồ số 05, diện tích: 2.053,2 m², mục đích sử dụng: Đất trồng cây lâu năm.

Đến tháng 05/2020, khách hàng có nhu cầu tách tài sản thành 03 thửa nên có làm yêu cầu mượn tài sản và hoàn nhập lại cả 03 tài sản sau khi tách thửa là thửa đất 632, thửa 632 và thửa 633 tờ bản đồ số 05 theo Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng số 01/SĐ-0046/2019/606-BĐ ngày 13/05/2020.

Do cả 3 tài sản sau khi tách thửa đều được thế chấp lại ở N3 nên Ngân hàng không thực hiện đăng ký thế chấp lại mà chỉ thực hiện cập nhật trang tư của cả 3 thửa đất.

Theo Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng số 02/SĐ-0046/2019/606-BĐ ngày 17/07/2020, khách hàng đã tất toán rút một phần tài sản là thửa 633. Tài sản bảo đảm còn lại là thửa 631 và thửa 632.

Theo Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng số 03/SĐ-0046/2019/606-BĐ ngày 15/10/2020, khách hàng đã tất toán rút một phần tài sản là thửa 632. Tài sản bảo đảm còn lại là thửa 631.

Thực hiện hợp đồng, Ngân hàng đã giải ngân cho Công Ty TNHH MTV A theo từng lần nhận nợ. Cụ thể gồm các giấy nhận nợ: Số 01/GNN-0714/2022/606-CV13/12/2022, số 02/GNN-0714/2022/606-CV ngày 06/01/2023, số 03/GNN-0714/2022/606-CV ngày 09/5/2023, số 05/GNN-0714/2022/606-CV ngày 16/06/2023, số 06/GNN-0714/2022/606-CV ngày 19/06/2023, số 07/GNN-0714/2022/606-CV ngày 12/07/2023, số 08/GNN- 0714/2022/606-CV ngày 14/08/2023, số 09/GNN-0714/2022/606-CV ngày 14/09/2023, số 10/GNN-0714/2022/606-CV ngày 06/10/2023, số 11/GNN-0714/2022/606-CV ngày 18/10/2023, số 12/GNN-0714/2022/606-CV ngày 15/11/2023, số 13/GNN-0714/2022/606-CV ngày 15/11/2023, số 14/GNN-0714/2022/606-CV ngày 11/12/2023.

Tổng dư nợ vay đến ngày 15/03/2024 là: 2.800.000.000 đồng. Trong đó: Số tiền nợ gốc đến hạn thanh toán là 28.000.000 đồng, số tiền nợ lãi đến hạn thanh toán là 70.712.901 đồng. Tổng số tiền phải thanh toán đến ngày 15/03/2024: 2.898.712.901 đồng.

Trong qúa trình thực hiện hợp đồng, Công Ty TNHH MTV A thực hiện việc đóng lãi và trả vốn theo thoả thuận cho N3. Đến ngày 15/01/2024 Công Ty TNHH MTV A đã vi phạm hợp đồng tín dụng, không hoàn thành nghĩa vụ trả nợ đến hạn. N3 đã nhiều lần gửi các thông báo nhắc nợ đến Công Ty TNHH MTV A đề nghị thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng tín dụng nhưng bị đơn vẫn không thực hiện.

Vì vậy, Ngân hàng Thương mại Cổ phần N1 yêu cầu như sau:

  1. Buộc Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Một thành viên A trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần N1 buộc trả một lần khi bản án có hiệu lực pháp luật. Số tiền vốn và lãi tạm tính đến ngày 05/9/2024 là: 3.051.031.686 đồng. Trong đó gồm: Nợ gốc: 2.799.992.786 đồng, gốc quá hạn: 2.799.992.786 đồng, lãi trong hạn: 107.390.539 đồng, lãi quá hạn vốn: 138.453.339 đồng, phạt chậm trả lãi: 5.195.022 đồng.
  2. Buộc Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Một thành viên A tiếp tục trả số tiền lãi, lãi chậm trả, phí (nếu có) phát sinh của khoản tín dụng theo Hợp đồng tín dụng hạn mức số 0714/2022/606-CV ngày 13/12/2022 và thoả thuận sửa đổi, bổ sung hợp đồng tín dụng hạn mức số: 01/SĐ-0714/606-CV ngày 12/7/2023 giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần N1 với Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Một thành viên A từ ngày 06/9/2024 cho đến khi trả xong nợ.
  3. Trường hợp Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Một thành viên A không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ trên thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần N1 được quyền yêu cầu Cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp kê biên, phát mãi theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 0046/2019/606-BĐ ngày 17/10/2019 và các hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần N1 với ông Trần Văn P1. Cụ thể tài sản đảm bảo là: Quyền sử dụng đất thuộc thửa số 631, tờ bản đồ số 05, diện tích 704,5m² tại xã P, thành phố B, tỉnh Bến Tre theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền đất số CV 779339, số vào sổ cấp GCN: CS07240 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 06/5/2020 cho ông Trần Văn P1 và các tài sản khác thuộc quyền sở hữu, sử dụng hợp pháp của Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Một thành viên A để thu hồi nợ vay cho N2.

Toàn bộ số tiền thu được từ việc bán và xử lý tài sản đảm bảo và các tài sản khác thuộc quyền sở hữu, sử dụng hợp pháp của Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Một thành viên A được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ cho bên vay vốn N2. Trường hợp nếu số tiền thu được từ bán và xử lý tài sản đảm bảo, tài sản khác không đủ thanh toán hết khoản nợ thì bên vay vốn vẫn phải có nghĩa vụ trả và dùng tài sản hợp pháp khác của bên vay vốn để trả hết khoản nợ còn lại cho N2.

* Đại diện theo pháp luật của bị đơn Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Một thành viên A, đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Trần Văn P1 trình bày: Vắng mặt.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre phát biểu quan điểm:

- Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý cũng như quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Thư ký đã thực hiện đúng quy định. Tại phiên toà Hội đồng xét xử, những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng đã đảm bảo đúng trình tự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Riêng người đại diện theo pháp luật của bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không chấp hành theo giấy triệu tập của Toà án là chưa đúng quy định tại Điều 73 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dụng vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử, căn cứ Điều 463, 466, 468 Bộ luật dân sự; Nghị định số 21/NĐ-CP ngày 19/3/2021 của Chính phủ; Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 hướng dẫn một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất phạt vi phạm; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định liên quan đến án phí, lệ phí:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP N1 đối với Công ty TNHH MTV A. Buộc Công ty TNHH MTV A thanh toán cho Ngân hàng TMCP N1 số tiền vốn và lãi tạm tính đến ngày 06/9/2024 là: 3.051.031.686 đồng. Trong đó gồm: Nợ gốc: 2.799.992.786 đồng, lãi trong hạn: 107.390.539 đồng, lãi quá hạn vốn: 138.453.339 đồng, phạt chậm trả lãi: 5.195.022 đồng. Ngân hàng được tiếp tục tính tiền lãi, lãi chậm trả, phí (nếu có) phát sinh của khoản tín dụng theo thoả thuận tại hợp đồng tín dụng cho đến khi Công ty TNHH MTV A thanh toán đầy đủ nghĩa vụ cho Ngân hàng.
  2. Trường hợp Công ty TNHH MTV A không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo đúng thỏa thuận, Ngân hàng được quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự phát mãi tài sản là thửa đất số 631, tờ bản đồ số 05, diện tích 704,5m², tại xã P, thành phố B, tỉnh Bến Tre theo các hợp đồng thế chấp để thu hồi nợ.
  3. Án phí và chi phí tố tụng được thực hiện theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, sau khi nghe các đương sự phát biểu tranh luận. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án đối với người đại diện theo pháp luật của Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Một thành viên A đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Trần Văn P. Tòa án tiến hành triệu tập hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhiều lần nhưng ông P vẫn vắng mặt không lý do. Tòa án đưa vụ kiện ra xét xử theo luật định.

Tòa án đã tiến hành việc cấp tống đạt hợp lệ đến lần thứ hai cho ông Trần Văn P1 để đưa vụ kiện ra xét xử nhưng ông P1 vẫn vắng mặt không lý do. Vì vậy, căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông P1.

[2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án kinh doanh thương mại về hợp đồng tín dụng đã ký giữa các đương sự theo quy định tại khoản 1 Điều 30 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, bị đơn là Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Một thành viên A có địa chỉ trụ sở làm việc và nơi tài sản thế chấp tại thành phố B, tỉnh Bến Tre nên Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Xét, nguyên đơn là Ngân hàng Thương mại Cổ phần N1 khởi kiện yêu cầu bị đơn là Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Một thành viên A có nghĩa vụ trả số tiền nợ gốc và lãi của Hợp đồng tín dụng. Tạm tính đến ngày 05/9/2024 là: 3.051.031.686 đồng. Trong đó gồm: Nợ gốc: 2.799.992.786 đồng, lãi trong hạn: 107.390.539 đồng, lãi quá hạn: 138.453.339 đồng, phạt chậm trả lãi: 5.195.022 đồng.

[4] Người đại diện theo pháp luật của bị đơn Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Một thành viên A là ông Trần Văn P1 vắng mặt, không có cung cấp chứng cứ hay phản đối gì đối với yêu cầu của nguyên đơn nên phải chịu hậu quả về việc không cung cấp chứng cứ theo Điều 96 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[5] Căn cứ lời khai của các đương sự trong vụ án, cùng các tài liệu, chứng cứ thể hiện: Ngân hàng Thương mại Cổ phần N1 có quan hệ tín dụng với Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Một thành viên A thông qua: Hợp đồng tín dụng hạn mức số 0714/2022/606-CV ngày 13/12/2022 và thoả thuận sửa đổi, bổ sung hợp đồng tín dụng hạn mức số: 01/SĐ-0714/606-CV ngày 12/7/2023. Nội dung thỏa thuận: Hạn mức tín dụng là 2.800.000.000 đồng, lãi suất trong hạn được quy định trong từng thời điểm nhận tiền vay (giải ngân), lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn áp dụng đối với dư nợ gốc quá hạn kể từ thời điểm chuyển nợ quá hạn, lãi phạt chậm trả lãi 10%/năm và được điều chỉnh từng thời kỳ, mục đích vay bổ sung vốn kinh doanh, thời hạn vay tối đa không qúa 06 tháng trên mỗi khế ước nhận nợ, phương thức thanh toán: trả nợ gốc khi đến hạn và trả nợ lãi vào ngày 15 hàng tháng.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Một thành viên A thực hiện nghĩa vụ trả nợ đến ngày 15/01/2024 thì vi phạm hợp đồng tín dụng, không hoàn thành nghĩa vụ trả nợ đến hạn. Thông qua các giải ngân như sau:

  • - Giấy nhận nợ số 09/GNN-0714/2022/606-CV ngày 14/09/2023 là 28.000.000 đồng, lãi suất 10,5%/năm.
  • - Giấy nhận nợ số 10/GNN- 0714/2022/606-CV ngày 06/10/2023 là 1.013.000.000 đồng, lãi suất 10,5%/năm.
  • - Giấy nhận nợ số 11/GNN-0714/2022/606-CV ngày 18/10/2023 là 21.000.000 đồng, lãi suất 10,5%/năm.
  • - Giấy nhận nợ số 12/GNN-0714/2022/606-CV ngày 15/11/2023 là 1.448.000.000 đồng, lãi suất 10,5%/năm.
  • - Giấy nhận nợ số 13/GNN-0714/2022/606-CV ngày 15/11/2023 là 263.000.000 đồng, lãi suất 10,5%/năm.
  • - Giấy nhận nợ số 14/GNN-0714/2022/606-CV ngày 11/12/2023 là 27.000.000 đồng, lãi suất 9,4%/năm. Số tiền gốc còn nợ là 26.992.786 đồng.

Ngân hàng đã nhiều lần gửi các thông báo nhắc nợ nhưng bị đơn vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ lãi và gốc theo thỏa thuận là đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo Điều 466 của Bộ luật dân sự. Vì vậy, việc Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bị đơn trả số tiền vay và tiền lãi phát sinh, tạm tính đến ngày 05/9/2024 là 3.051.031.686 đồng là có căn cứ. Theo bản chiết tính thu nợ vay của Ngân hàng về số tiền vốn vay, lãi suất trong hạn, lãi quá hạn, lãi chậm trả lãi của các khoản tiền vay là chính xác, lãi suất vay hai bên thỏa thuận không trái quy định pháp luật nên được chấp nhận.

Ngoài ra, Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Một thành viên A còn phải tiếp tục trả số tiền lãi, lãi chậm trả, phí (nếu có) phát sinh của khoản tín dụng kể từ ngày 06/9/2024 cho đến khi thi hành xong các khoản nợ.

[6] Đối với yêu cầu của nguyên đơn về trường hợp xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ: Để đảm bảo cho hợp đồng tín dụng, ông Trần Văn P1 có thế chấp cho Ngân hàng thửa đất số 547, tờ bản đồ số 05, diện tích 2.053,2m² tại xã P, thành phố B, tỉnh Bến Tre do ông Trần Văn P1 đứng tên quyền sử dụng đất ngày 13/9/2017. Sau đó thay đổi, bổ sung tài sản thế chấp là: Thửa đất số 631, tờ bản đồ số 05, diện tích: 704,5m² theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CV 779339, số vào sổ cấp GCN: CS07240 do Sở tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 06/5/2020 tại xã P, thành phố B, tỉnh Bến Tre cấp cho ông Trần Văn P1 đứng tên quyền sử dụng đất ngày 06/5/2020. Theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 0046/2019/606-BĐ ngày 17/10/2019; Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng số 01/SĐ-0046/2019/606-BĐ ngày 13/5/2020; Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng số 02/SĐ-0046/2019/606-BĐ ngày 17/7/2020; Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng số 03/SĐ-0046/2019/606-BĐ ngày 15/10/2020; Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng số 04/SĐ-0046/2019/606-BĐ ngày 24/12/2020; Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng số 05/SĐ-0046/2019/606-BĐ ngày 30/6/2021; Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng số 06/SĐ-0046/2019/606-BĐ ngày 13/12/2022 giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần N1 với ông Trần Văn P1. Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất được công chứng tại Văn phòng C, tỉnh Bến Tre và được đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 21/10/2019 tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố B là đúng quy định tại Điều 4, 5 Nghị định 102/2017/NĐ-CP ngày 01/9/2017 về đăng ký biện pháp bảo đảm nên hợp đồng thế chấp có hiệu lực.

Quá trình thực hiện hợp đồng Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Một thành viên A đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo nội dung thỏa thuận của hợp đồng tín dụng. Ông Trần Văn P1 là người đại diện theo pháp luật của bị đơn và là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt và không có ý kiến phản đối gì đối với yêu cầu xử lý tài sản thế chấp của Ngân hàng. Cho nên, Ngân hàng yêu cầu xử lý tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 0046/2019/606-BĐ ngày 17/10/2019 và các hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định, hợp đồng thế chấp phát sinh hiệu lực đối với các bên. Trường hợp, Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Một thành viên A không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần N1 có quyền yêu cầu Cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp là thửa đất số 631, tờ bản đồ số 05, diện tích: 704,5m² tại xã P, thành phố B, tỉnh Bến Tre do ông Trần Văn P1 đứng tên quyền sử dụng đất ngày 06/5/2020 để thu hồi nợ.

[7] Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 500.000 đồng Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Một thành viên A phải chịu theo quy định của pháp luật.

[8] Về án phí kinh doanh thương mại có giá ngạch:

  • - Ngân hàng Thương mại Cổ phần N1 không phải chịu án phí nên được hoàn trả số tiền tạm ứng án phí đã nộp là: 44.987.000 đồng theo biên lai thu số 0001125 ngày 22/4/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.
  • - Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Một thành viên A (người đại diện theo pháp luật là ông Trần Văn P1) có nghĩa vụ chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm có giá ngạch như sau: 3.051.031.686 đồng = 72.000.000 đồng + 2%( 1.051.031.686 đồng) = tính tròn chẳn là 93.020.000 đồng.

[9] Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre là có căn cứ nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng các Điều 30, 35, 39, 147 khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 292, 293 295, 298, 299, 307, 317, 318, 319, 320, 321, 323, Điều 326, Điều 327, 463, 466, 468 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 90, 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Nghị quyết số 01/2019/NĐ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án

Xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Ngân hàng Thương mại Cổ phần N1 đối với bị đơn là Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Một thành viên A về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng.

  1. Buộc Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Một thành viên A (người đại diện theo pháp luật là ông Trần Văn P1) có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần N1 số tiền vay vốn và tiền lãi phát sinh, tính đến ngày 05/9/2024 là: 3.051.031.686 đồng (Ba tỷ không trăm năm mươi một triệu, không trăm ba mươi một nghìn, sáu trăm tám mươi sáu đồng). Trong đó gồm: Nợ gốc: 2.799.992.786 đồng, lãi trong hạn: 107.390.539 đồng, lãi quá hạn vốn: 138.453.339 đồng, phạt chậm trả lãi: 5.195.022 đồng.
  2. Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Một thành viên A còn phải tiếp tục trả số tiền lãi, lãi chậm trả, phí (nếu có) phát sinh của khoản tín dụng theo mức lãi suất thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng hạn mức số 0714/2022/606-CV ngày 13/12/2022 và thoả thuận sửa đổi, bổ sung hợp đồng tín dụng hạn mức số: 01/SĐ-0714/2022/606-CV ngày 12/7/2023 giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần N1 với Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Một thành viên A từ ngày 06/9/2024 cho đến khi trả xong nợ.
  3. Trường hợp, Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Một thành viên A không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần N1 có quyền yêu cầu Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre phát mãi tài sản theo hợp đồng: Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 0046/2019/606-BĐ ngày 17/10/2019; Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng số 01/SĐ-0046/2019/606-BĐ ngày 13/5/2020; Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng số 02/SĐ-0046/2019/606-BĐ ngày 17/7/2020; Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng số 03/SĐ-0046/2019/606-BĐ ngày 15/10/2020; Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng số 04/SĐ-0046/2019/606-BĐ ngày 24/12/2020; Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng số 05/SĐ-0046/2019/606-BĐ ngày 30/6/2021; Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng số 06/SĐ-0046/2019/606-BĐ ngày 13/12/2022 giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần N1 với ông Trần Văn P1.
  4. Cụ thể là: Thửa đất số 631, tờ bản đồ số 05, diện tích: 704,5m², đất trồng cây lâu năm tại xã P, thành phố B, tỉnh Bến Tre do ông Trần Văn P1 đứng tên quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CV 779339, số vào sổ cấp GCN: CS07240 do Sở tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 06/5/2020.

    Trong trường hợp nếu số tiền thu được từ bán và xử lý tài sản đảm bảo, tài sản khác không đủ thanh toán hết khoản nợ thì bên vay vốn vẫn phải có nghĩa vụ trả và dùng tài sản hợp pháp khác của bên vay vốn để trả hết khoản nợ còn lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần N1 theo quy định của pháp luật.

  5. Về chi phí tố tụng: Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Một thành viên A phải chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ số tiền là 500.000 đồng. Do Ngân hàng Thương mại Cổ phần N1 đã tạm ứng số tiền trên nên Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Một thành viên A có nghĩa vụ trả lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần N1 số tiền là 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng).
  6. Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm có giá ngạch:
    • - Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Một thành viên A (người đại diện theo pháp luật là ông Trần Văn P1) có nghĩa vụ chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm số tiền là: 93.020.000 đồng (Chín mươi ba triệu không trăm hai mươi nghìn đồng).
    • - Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần N1 số tiền tạm ứng án phí đã nộp là: 44.987.000 đồng (Bốn mươi bốn triệu chín trăm tám mươi bảy nghìn đồng) theo biên lai thu số 0001125 ngày 22/4/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án các đương sự có mặt tại tòa có quyền làm đơn kháng cáo, các đương sự vắng mặt tại toà có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.

Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND TP Bến Tre;
  • - Chi cục THADS TP Bến Tre;
  • - TAND tỉnh Bến Tre;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Lê Thị Thuý Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 19/2024/KDTM-ST ngày 06/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE – TỈNH BẾN TRE về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 19/2024/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/09/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE – TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng TMCP N và Công ty TNHH MTV A
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger