Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂY HÒA

TỈNH PHÚ YÊN

Bản án số: 18/2024/HSST

Ngày: 06-9- 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY HÒA - TỈNH PHÚ YÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thanh Huệ

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lê Khắc Liêm;
  2. Ông Nguyễn Xuân Chí.

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Ngọc Lan – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Bà Phạm Ngọc Thị Hàn Ni - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tây Hòa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 25/2024/HSST ngày 02 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:

Phan Thanh P, sinh năm 1964; nơi sinh: tỉnh Phú Yên; Nơi cư trú: PG B, N, Phường G, thành phố T, tỉnh Phú Yên; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Cha: Phan Thanh M (chết); Mẹ: Võ Thị Đ, sinh năm 1935; Có 02 anh, 05 em; Vợ: Trịnh Thị Hồng H, sinh năm 1972; có 03 con, lớn nhất sinh năm 1995, nhỏ nhất sinh năm 2006; Tiền án: Ngày 15/02/2023, bị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên xử phạt 170.000.000 đồng về tội Trốn thuế, quy định tại khoản 1 Điều 200 Bộ luật Hình sự. Tiền sự: không - Có mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Bà Trịnh Thị Hồng H, sinh năm 1972; Nơi cư trú: PG B, N, Phường G, thành phố T, tỉnh Phú Yên;
  2. Ông Lê Trung K, sinh năm 1966; Nơi cư trú: Thôn P, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên;
  3. Chị Phan Trịnh Kim P1, sinh năm 2001; Nơi cư trú: PG B, N, Phường G, thành phố T, tỉnh Phú Yên;
  4. Ông Nguyễn Trung Đ1, sinh năm 1975; Nơi cư trú: Khu phố P, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên;
  5. Ngân hàng N – Chi nhánh Nam thành phố T; Địa chỉ: Khu phố A, phường P, TP ., tỉnh Phú Yên; Người đại diện theo ủy quyền: Ông Cao Tấn T – Trưởng Phòng khách hàng (Văn bản ủy quyền ngày 04/9/2024 của Giám đốc Chi nhánh Ngân hàng Nam thành phố T);
  6. Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện B, tỉnh Bến Tre Người đại diện: Ông Nguyễn Đăng K1 – Giám đốc;
  7. Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B; Người đại diện: Ông Bùi Minh T1 – Giám đốc;
  8. Công ty Cổ phần H3; Địa chỉ: Khu phố H, phường L, TP B, tỉnh Đồng Nai; Người đại diện: Lương Hữu H1 – Giám đốc Công ty;
  9. Ông Nguyễn Như Đ2, sinh năm 1984; Nơi cư trú: Thôn P, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên;
  10. Bà Trương Thị Phụng H2, sinh năm 1984; Nơi cư trú: Thôn S, xã S, huyện T, tỉnh Phú Yên;
  11. Ông Phạm Văn C, sinh năm 1966; Địa chỉ: Khu phố F, P, P - T, Ninh Thuận.

(Đại diện Ngân hàng N1 – Chi nhánh Nam thành phố T có mặt; Bà H, chị P1, ông K, ông Đ1, đại diện Văn phòng Đăng ký Đất đai huyện B, đại diện Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cùng có đơn xin vắng mặt; những người còn lại vắng mặt).

- Người làm chứng: Ông Dương Thành C1, sinh năm 1958; Nơi cư trú: C N, Phường E, thành phố T, tỉnh Phú Yên – Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào năm 2016, Phan Thanh P nhận chuyển nhượng bằng giấy viết tay quyền sử dụng thửa đất, diện tích 1.624m² tại thôn M, xã S, huyện T, tỉnh Phú Yên từ ông Lê Trung K; đất đã được Chủ tịch Ủy ban nhân dân (UBND) huyện T (nay là huyện T) cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00168/2 QSDĐ ngày 11/3/2003 cho ông Phạm Văn C. Do có nhu cầu sử dụng nhưng chưa tiến hành được thủ tục theo quy định nên khoảng tháng 02/2021, Phan Thanh P lên mạng xã hội đặt mua 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả từ một người không rõ họ tên, địa chỉ với giá 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng). Khoảng 05 ngày sau, một nhân viên giao hàng đến đưa cho P 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DK 697206 đứng tên Phan Thanh P, thửa đất số 854, tờ bản đồ số 37, diện tích 1.624 m², địa chỉ tại thôn M, xã S, huyện T, tỉnh Phú Yên; cuối trang 2 có hình dấu “Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh P” và chữ ký đóng tên “Nguyễn Vũ T2”, ghi cấp ngày 27/2/2021, P đưa 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng) cho người giao hàng.

Ngày 15/11/2023, Phan Thanh P cùng vợ là bà Trịnh Thị Hồng H đến Ngân hàng N - Chi nhánh N thành phố T ký Hợp đồng thế chấp tài sản để vay số tiền 3.600.000.000 đồng (Ba tỉ sáu trăm triệu đồng), P sử dụng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả đã mua nêu trên để làm tài sản đảm bảo. Sau đó, P tiến hành thủ tục chứng nhận tại Văn phòng C2 rồi đem hồ sơ thế chấp đến nộp tại Bộ phận Một cửa Ủy ban nhân dân huyện T. Cùng ngày, Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện T tiếp nhận hồ sơ từ Ủy ban nhân dân huyện T thì phát hiện Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DK 697206 đứng tên Phan Thanh P có dấu hiệu là giả nên chuyển vụ việc đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T xác minh, làm rõ.

Tại Bản kết luận giám định số 12/KL-KTHS ngày 11 tháng 01 năm 2024 của Phòng K2 - Công an tỉnh P kết luận:

  1. Phôi “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất”, số DK 697206, đứng tên ông Phan Thanh P, sinh năm: 1964, CMND số: [...], địa chỉ thường trú: PG02-22 V, N, Phường G, thành phố T, tỉnh Phú Yên, ghi Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh P, cấp ngày 27/02/2021 là thật.
  2. Hình dấu tròn có nội dung “SỞ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG TỈNH PHÚ YÊN” trên “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất”, số DK 697206, đứng tên ông Phan Thanh P so với hình dấu tròn của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh P không phải do cùng một con dấu đóng ra.
  3. Chữ ký đóng tên Nguyễn Vũ T2 ở mục “Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh P, TUQ. Giám đốc Văn phòng đăng ký đất đai” trên “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất”, số DK 697206, đứng tên ông Phan Thanh P so với chữ ký của ông Nguyễn Vũ T2 trên các giấy chứng chứng nhận quyền sử dụng đất của Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh P không phải do cùng một người ký ra.

Vật chứng vụ án, đồ vật bị tạm giữ:

  • + 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, số DK 697206, đứng tên ông Phan Thanh P;
  • + 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00168/2 QSDĐ, đứng tên ông Phạm Văn C.

Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, xin được giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại Bản cáo trạng số 22/CT-VKS ngày 02 tháng 8 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Hòa đã truy tố bị cáo Phan Thanh P về tội: “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại khoản 1 Điều 341 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát luận tội, tranh luận, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo P phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.

Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Không có nên không xét.

Về xử lý vật chứng: + Đối với 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, số DK 697206, đứng tên ông Phan Thanh P: Tịch thu, lưu giữ tại hồ sơ vụ án.

+ Đối với 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00168/2 QSDĐ, đứng tên ông Phạm Văn C: Trả lại cho bị cáo P.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.

[2] Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, phù hợp với tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận:

Vào ngày 15/11/2023, tại thị trấn P, huyện T, tỉnh Phú Yên, Phan Thanh P đã có hành vi sử dụng 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất giả để hoàn tất thủ tục thế chấp vay vốn của Ngân hàng N - Chi nhánh Nam thành phố T thì bị Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện T phát hiện.

Như vậy, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” quy định tại khoản 1 Điều 341 của Bộ luật hình sự.

Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Hòa truy tố bị cáo P về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại khoản 1 Điều 341 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trật tự quản lý hành chính; bị cáo có 01 tiền án (Ngày 15/02/2023, bị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên xử phạt 170.000.000 đồng về tội Trốn thuế, quy định tại khoản 1 Điều 200 Bộ luật Hình sự), chưa được xóa án tích đã phạm tội mới nên thuộc trường hợp tái phạm. Như vậy, bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, nên cần xử nghiêm minh, đúng quy định, tương xứng mức độ, hành vi của bị cáo.

Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo đã thành khẩn khai báo - đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Do đó, chấp nhận đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Hòa, áp dụng tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nêu trên, buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù, đảm bảo tác dụng giáo dục, phòng ngừa tội phạm.

[4] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo sinh ngày 13/3/1964, đã 60 tuổi, thu nhập không ổn định nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Không có nên không xét.

[6] Về vật chứng, đồ vật thu giữ:

[6.1] Đối với 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, số DK 697206, đứng tên ông Phan Thanh P:

Giấy chứng nhận này được làm giả, không có giá trị sử dụng nên tịch thu, lưu giữ tại hồ sơ vụ án (Hiện đã được lưu giữ tại hồ sơ vụ án).

[6.2] Đối với 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00168/2 QSDĐ, đứng tên ông Phạm Văn C:

Giấy chứng nhận quyền sử dụng này thuộc quyền sử dụng của Công ty Cổ phần H3 (do ông C đại diện đứng tên). Công ty Cổ phần H3 đã xây dựng tài sản, vật kiến trúc trên đất và đến năm 2014 đã bán toàn bộ tài sản trên đất (Bán theo hình thức đấu giá) cho ông Lê Trung K, đã giao toàn bộ giấy tờ liên quan đến tài sản, trong đó có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đứng tên Phạm Văn C cho ông K. Năm 2016, ông K bán lại tài sản này cho bị cáo P, giao toàn bộ giấy tờ liên quan đến tài sản, trong đó có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đứng tên Phạm Văn C cho bị cáo P. Như vậy, bị cáo P là người đang quản lý Giấy chứng nhận quyền sử dụng này và các bên có liên quan không có ý kiến gì. Do đó, trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng nêu trên cho bị cáo P.

[7] Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Trịnh Thị Hồng H:

Bà H có hành vi cùng Phan Thanh P đi ký Hợp đồng thế chấp tài sản nhưng bà H không biết Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bị cáo P đem đi thế chấp là giả nên Cơ quan Điều tra Công an huyện T không xem xét trách nhiệm hình sự là có căn cứ.

[8] Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Phan Trịnh Kim P1:

Chị P1 có hành vi đứng ra bảo đảm trong Hợp đồng thế chấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để cho bị cáo P vay tiền nhưng chị P1 không biết bị cáo P làm giả Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và đem đi thế chấp nên Cơ quan Điều tra Công an huyện T không xem xét trách nhiệm hình sự là có căn cứ.

[9] Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Nguyễn Trung Đ1:

Công chứng viên Nguyễn Trung Đ1 (thuộc Văn phòng C2) đã có hành vi chứng nhận trong Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất giữa Ngân hàng N -Chi nhánh N thành phố T và bị cáo P nhưng ông Đ1 không biết Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà P thế chấp là giả nên Cơ quan Điều tra Công an huyện T không xem xét trách nhiệm hình sự với là có căn cứ.

[10] Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Nguyễn Như Đ2:

Ông Nguyễn Như Đ2 (công chức Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện T) đã có hành vi thẩm định hồ sơ do bị cáo P đem nộp rồi chuyển đến Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện T giải quyết nhưng ông Đ2 không biết Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà P thế chấp là giả nên Cơ quan Điều tra Công an huyện T không xem xét trách nhiệm hình sự là có căn cứ.

[11] Đối với người đã làm giả Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và nhân viên giao hàng đã giao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất giả cho bị can P, đến nay Cơ quan Điều tra Công an huyện T không xác định được nhân thân, lai lịch nên không có căn cứ xử lý.

[12] Đối với Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B; Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện B, tỉnh Bến Tre.

Phôi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số ĐK 697206 (Phôi giấy bị cáo sử dụng để làm giả) được Trung tâm kiểm định và Kỹ thuật địa chính thuộc Cục đăng ký và dữ liệu thông tin đất đai, Bộ T3 phát hành cho Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện B, tỉnh Bến Tre. Tuy nhiên, Phôi giấy này đã bị thất lạc trong quá trình sử dụng, không xác định nguyên nhân và thời gian thất lạc nên Cơ quan Điều tra Công an huyện T không xem xét là có căn cứ.

[13] Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Lê Trung K, Trương Thị Phụng H2, Phạm Văn C, Công ty Cổ phần H3:

Xét: Thửa đất mà bị cáo sử dụng dữ liệu để làm thông tin giả có nguồn gốc của ông P2 (đã chết), sau đó đã được chuyển nhượng cho Công ty Cổ phần H3 (do ông C đại diện đứng tên). Sau khi ông C đứng tên, Công ty đã xây dựng tài sản, vật kiến trúc trên đất và đến năm 2014 bán đấu giá tài sản trên đất cho ông K; ông K bán lại cho bị cáo P, đồng thời giao toàn bộ giấy tờ liên quan đến tài sản, trong đó có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đứng tên Phạm Văn C cho bị cáo P. Các bên không ý kiến gì về việc này nên không xét.

Nếu sau này, các bên có liên quan có tranh chấp thì có quyền khởi kiện vụ kiện dân sự khác.

[14] Đối với với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Ngân hàng N – Chi nhánh N thành phố T:

Bị cáo P có ý định dùng tài liệu giả thế chấp vay tiền của Ngân hàng N – Chi nhánh Nam thành phố T nhưng chưa thực hiện được, chưa gây ra thiệt hại cho Ngân hàng; đại diện Ngân hàng không yêu cầu gì nên không xét.

[13] Về án phí: Bị cáo Phan Thanh P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm: 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo: Phan Thanh P phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”

Áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Phan Thanh P 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày thi hành án.

Về vật chứng, đồ vật thu giữ: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

  • + Hoàn trả cho bị cáo Phan Thanh P 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00168/2 QSDĐ, đứng tên ông Phạm Văn C.
  • + Tịch thu, lưu giữ tại hồ sơ vụ án Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, số DK 697206, đứng tên ông Phan Thanh P (Hiện đã được lưu giữ tại hồ sơ vụ án).

Về án phí HSST: Bị cáo Phan Thanh P phải chịu: 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

Bị cáo, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - Người tham gia tố tụng;
  • - VKSND huyện Tây Hòa;
  • - Công an huyện Tây Hòa;
  • - TAND tỉnh Phú Yên;
  • - VKSND tỉnh Phú Yên;
  • - Sở tư pháp;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thanh Huệ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 18/2024/HSST ngày 06/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY HÒA - TỈNH PHÚ YÊN về hình sự (sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức)

  • Số bản án: 18/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY HÒA - TỈNH PHÚ YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phan Thanh P phạm tội "Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger