Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 18/2025/HS-PT

Ngày: 21/02/2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thái Lan.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Việt Hùng và bà Vũ Ngọc Hà.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Quang – Thư ký viên Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Minh Tâm – Kiểm sát viên Trung cấp.

Ngày 21 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 05/2025/TLPT-HS ngày 15 tháng 01 năm 2025 do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hoàng V đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 127/2024/HS-ST ngày 26/11/2024 của Tòa án nhân dân TP. Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.

- Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Hoàng V, tên gọi khác: Không; Sinh ngày 30 tháng 3 năm 1983, tại tỉnh Phú Yên; Nơi ĐKTT: khu phố L, thị trấn L, huyện Đ, tỉnh Phú Yên; Chỗ ở hiện nay: thôn X, xã C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa; Nghề nghiệp: Xây dựng; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Trường S, sinh năm 1953 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1958; có vợ là Nguyễn Hải N, sinh năm 1983 (đã ly hôn) và 01 con sinh năm 2010; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 01/2023, Nguyễn Hoàng V nợ tiền nhiều người nên khi biết anh Nguyễn Trung T có nhu cầu làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, V nảy sinh ý định gian dối để chiếm đoạt tài sản của anh T. V gặp nói dối với anh T là V có quen biết nhiều người làm trong các cơ quan chức năng có thẩm quyền nên có khả năng làm được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, V nói chi phí để làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 80.000.000 đồng/1giấy, tin là thật nên anh T đồng ý nhờ V làm giúp. Sau khi thống nhất thỏa thuận và theo đề nghị của V, trong các ngày 08/3/2023, 15/3/2023 và 24/5/2023 tại đường M, phường I, thành phố T, anh T đã lần lượt đưa cho V số tiền 20.000.000 đồng, 30.000.000 đồng và 10.000.000 đồng, tổng cộng 03 lần 60.000.000 đồng. Nhận được số tiền trên, V sử dụng tiêu xài cá nhân và không làm các thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh T như đã hứa. Đến tháng 11/2023, anh T phát hiện bị lừa nên đã báo cáo sự việc đến Cơ quan Công an.

Tại Bản án Hình sự sơ thẩm số: 127/2024/HS-ST ngày 26/11/2024 của Tòa án nhân dân TP. Tuy Hòa đã tuyên bị cáo Nguyễn Hoàng V phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hoàng V 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên phần án phí và quyền kháng cáo của những người tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật.

- Ngày 05.12.2024 bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa: - Bị cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ đã tuyên.

Kiểm sát viên phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo – Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Trong các ngày 08/3/2023, 15/3/2023 và 24/5/2023, tại Phường I, thành phố T, Nguyễn Hoàng V đã có hành vi dùng thủ đoạn gian dối, hứa làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng không làm để chiếm đoạt của anh Nguyễn Trung T với tổng số tiền là 60.000.000 đồng. Do đó, cấp sơ thẩm truy tố, xét xử bị cáo Nguyễn Hoàng V về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng tội.

[2] Xét kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:

[2.1] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện; lợi dụng sự tin tưởng của người khác, dùng thủ đoạn gian dối để thực hiện hành vi phạm tội của mình.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng nên cần xử phạt nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đảm bảo tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và bảo đảm tính răn đe của pháp luật, khi lượng hình Tòa sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các điều luật đánh giá đúng tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, xem xét nhân thân và áp dụng đúng, đầy đủ tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng để xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng V 02 năm tù là phù hợp, đáp ứng được yêu cầu đấu tranh, phòng chống tội phạm tại địa phương trong tình hình hiện nay.

Từ những cơ sở nêu trên Hội đồng xét cử không có cơ sở chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm về phần hình phạt.

[3] Bị cáo kháng cáo không được chấp nhận nên phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo hoặc kháng nghị nên cấp phúc thẩm không xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo – Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hoàng V phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

- Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hoàng V 02 (Hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Hoàng V phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND Cấp cao tại Đà Nẵng;
  • - VKSND Cấp cao tại Đà Nẵng;
  • - VKSND tỉnh Phú Yên (2);
  • - PV 06 Công an tỉnh Phú Yên;
  • - TAND TP. Tuy Hòa (2);
  • - CQ CSĐT Công an tỉnh Phú Yên;
  • - VKSND TP. Tuy Hòa;
  • - Chi cục THADS TP. Tuy Hòa;
  • - P. KTNV- THAHS; Bị cáo, NTGTT,
  • Lưu THS, AV.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Thái Lan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 18/2025/HS-PT ngày 21/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN về hình sự phúc thẩm (lừa đảo chiếm đoạt tài sản)

  • Số bản án: 18/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 21/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger