Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỨC LINH

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2025/HS-ST

Ngày: 26 - 02 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đình Trường

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Mai Thương

Ông Nguyễn Đức Binh

- Thư ký phiên tòa: Ông Trịnh Văn Ngọc là Thư ký Tòa án nhân dân huyện

Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận

tham gia phiên tòa: Ông Đinh Công Quảng - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 02 năm 2025, tại Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 04/2025/TLST-HS, ngày 08 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 02 năm 2025, đối với các bị cáo:

  • - Lê Thị Yến N, sinh năm 2003, tại Bình Thuận.

    Nơi cư trú: Tổ H, khu phố H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: lớp 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn B và bà Huỳnh Thị H; Có chồng: Hoàng Xuân T; con có 02 người; Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

  • - Trần Anh T1 (tên gọi khác: R), sinh năm 1996, tại Bình Thuận.

    Nơi cư trú: Tổ F, khu phố B, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: Bảo vệ; trình độ học vấn: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn L và bà Nguyễn Thị H1; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

Người chứng kiến:

  • - Nguyễn Bá P, sinh năm 1972; Nơi cư trú: Khu phố G, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận. Có mặt.

  • - Nguyễn Thị M, sinh năm 1984; Nơi cư trú: Tổ G, khu phố I, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 26/6/2024, do có tình cảm và muốn gặp Lê Thị Yến N để cùng sử dụng ma tuý, nên Trần Anh T1 nhắn tin cho Lê Thị Yến N. Khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, Lê Thị Yến N chạy xe mô tô hiệu Sirius biển số 86B8 – 17553 mượn của Huỳnh Văn T2, sinh năm 1996, trú khu phố H, thị trấn Đ, huyện Đ đến nhà nghỉ C Cũ nơi N thuê ở, trên đường Đ nhắn tin cho T1 đi qua.

Khi đến nhà nghỉ C, Lê Thị Yến N mở cửa phòng số 211 sau đó ra quầy lễ tân tính tiền phòng. Khoảng 05 phút sau Trần Anh T1 chạy xe mô tô biển số 86B8-690.10 mượn của Trần Thị Kim N1, sinh năm 2000, trú khu phố B, thị trấn Đ, huyện Đ đến nhà nghỉ C Cũ vào phòng 211 không thấy Lê Thị Yến N, nên ngồi trên giường chờ, một lúc sau Lê Thị Yến N đi vào phòng 211 ngồi trên võng, gần vị trí võng Lê Thị Yến N để 01 hộp giấy có nắp đậy bên trong có 02 bịch ma túy đá; Trong đó có 01 bịch ny lon nhỏ chứa ma túy và 01 bịch lớn chứa 05 bịch nhỏ ma túy nhỏ; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy Lê Thị Y Nhi02 hộp quẹt để sẵn trước đó. Lê Thị Yến N lấy trong hộp giấy ra 01 bịch ma túy rời đổ một ít vào trong bộ D sử dụng ma túy, số ma túy còn lại trong bịch Lê Thị Yến N bỏ vào hộp giấy. Sau đó, Lê Thị Yến N gọi T1 đến ngồi gần N và đưa bộ dụng cụ sử dụng ma túy có sẵn ma túy bên trong cho Trần Anh T1 và nói T1 sử dụng. Trần Anh T1 dùng quẹt ga do N chuẩn bị sẵn đốt bộ dụng cụ sử dụng ma túy lên rồi sử dụng, sau đó T1 đưa cho N sử dụng, rồi N đưa lại cho T1 sử dụng. Trong lúc N và T1 ngồi nói chuyện thì bị lực lượng Công an vào bắt quả tang.

Tại Kết luận giám định số 817/KL-KTHS ngày 31 tháng 7 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:

Mẫu M1 (01 gói ny lon, đã cắt một đầu, có khóa kéo viền đỏ, kích thước khoảng (07 x 04) cm, bên trong chứa tinh thể màu trắng) gửi giám định có khối lượng 0,1495 gam là Methamphetamine.

Mẫu M2 (01 gói nylon, có khoá kéo viền đỏ, kích thước khoảng (7x4)cm bên trong có 05 gói ny lon, đều được hàn kín, đều chứa tinh thể màu trắng, gửi giám định có khối lượng 0,7512 gam là Methamphetamine.

Mẫu M3 (01 đoạn ống thủy tinh được uống cong, một đầu được thổi phồng, bên trong chứa chất rắn màu nâu) gửi giám định có khối lượng 0,0821 gam là Methamphetamine.

H2 lại đối tượng giám định:

  • - 01 (một) gói ny lon, đã cắt một đầu, có khóa kéo viền đỏ, kích thước khoảng (7 x 4)cm; 01 (một) gói ny lon, có khóa kéo viền đỏ, kích thước khoảng (7 x 4)cm; 05 (năm) gói ny lon đã cắt lấy mẫu; 0,1120 gam mẫu M1; 0,0612 gam mẫu M2 còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 871/1, có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo N2 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh B.

  • - 01 (một) ống thủy tinh được uống cong và thổi phồng một đầu cùng 0,0612 gam mẫu M3 còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 871/2, có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo N2 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh B.

Vật chứng thu giữ đã trả lại:

  • - 01 (một) xe mô tô biển số 86B8-175.53, Lê Thị Yến N mượn của Huỳnh Văn T2, sinh năm 1996, trú khu phố H, thị trấn Đ, huyện Đ. 01 (một) xe mô tô biển số 86B8 – 690.10, Trần Anh T1 mượn của Trần Thị Kim N1. Huỳnh Văn T2, Trần Thị Kim N1 không liên quan đến hành vi phạm tội của Lê Thị Yến N, Trần Anh T1. Cơ quan điều tra đã trả lại cho Huỳnh Văn T2 và Trần Thị Kim N1.

  • - 01 (một) điện thoại di động hiệu Vi Vo màu xanh; 200.000 đồng của Lê Thị Yến N; 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu xanh, đen của Trần Anh T1 đều không liên quan đến hành vi phạm tội của Lê Thị Yến N, Trần Anh T1. Cơ quan điều tra đã trả lại cho N và T1.

Vật chứng còn thu giữ:

  • - 01 (một) gói ny lon, đã cắt một đầu, có khóa kéo viền đỏ, kích thước khoảng (7 x 4)cm; 01 (một) gói ny lon, có khóa kéo viền đỏ, kích thước khoảng (7 x 4)cm; 05 (năm) gói ny lon đã cắt lấy mẫu; 0,1120 gam mẫu M1; 0,0612 gam mẫu M2 còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 871/1, có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo N2 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh B.

  • - 01 (một) ống thủy tinh được uống cong và thổi phồng một đầu cùng 0,0612 gam mẫu M3 còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 871/2, có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo N2 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh B.

  • - 01 (một) bình nhựa có nắp bằng nhựa màu đỏ được nối với 01 đoạn ống nhựa màu trắng; 01 (một) bật lửa gas màu trắng đỏ; 01 (một) hộp giấy màu trắng có nắp đậy kích thước (10,5 x 10,5 x 3,5)cm.

Tại Cáo trạng số 05/CT-VKSĐL-HS ngày 06/01/2025 Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh truy tố Lê Thị Yến N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự; Trần Anh T1 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Các bị cáo Lê Thị Yến N, Trần Anh T1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh đã truy tố và thừa nhận bản cáo trạng truy tố đối với các bị cáo là đúng, không oan.

Trong phần tranh luận:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh nêu tóm tắt nội dung vụ án, phân tích các nguyên nhân, điều kiện phát sinh tội phạm, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ hình phạt, nhân thân của các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Đối với bị cáo Lê Thị Yến N

Về điều luật: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý.

Về hình phạt:

Xử phạt bị cáo mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo mức án từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý.

Đối với bị cáo Trần Anh T1

Về điều luật: Áp dụng khoản 1 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) gói ny lon, đã cắt một đầu, có khóa kéo viền đỏ, kích thước khoảng (7 x 4)cm; 01 (một) gói ny lon, có khóa kéo viền đỏ, kích thước khoảng (7 x 4)cm; 05 (năm) gói ny lon đã cắt lấy mẫu; 0,1120 gam mẫu M1; 0,0612 gam mẫu M2 còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 871/1, có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo N2 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh B; 01 (một) ống thủy tinh được uống cong và thổi phồng một đầu cùng 0,0612 gam mẫu M3 còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 871/2, có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo N2 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh B; 01 (một) bình nhựa có nắp bằng nhựa màu đỏ được nối với 01 đoạn ống nhựa màu trắng; 01 (một) bật lửa gas màu trắng đỏ; 01 (một) hộp giấy màu trắng có nắp đậy kích thước (10,5 x 10,5 x 3,5)cm.

Các bị cáo đều không có ý kiến tranh luận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong điều tra, truy tố:

Trong quá trình điều tra, truy tố các bị cáo Điều tra viên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh được phân công điều tra, giải quyết vụ án đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Căn cứ diễn biến tại phiên tòa, thông qua phần xét hỏi, tranh luận, nhận thấy lời khai, chứng cứ phạm tội phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; các bị cáo, người tham gia tố tụng không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp với quy định của pháp luật.

[2] Về thủ tục tố tụng tại phiên tòa.

Tại phiên tòa vắng mặt người chứng kiến bà Nguyễn Thị M nhưng không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng người chứng kiến bà M tại phiên tòa là phù hợp quy định tại Điều 296 của Bộ luật tố tụng hình sự.

[3] Về hành vi và tội danh:

Tại phiên tòa các bị cáo Lê Thị Yến N, Trần Anh T1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, lời khai của người chứng kiến, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ, Kết luận giám định, cùng các tài liệu, chứng cứ khác thu được trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định:

Do quen biết và có tình cảm với nhau, nhằm mục đích sử dụng ma tuý nên vào khoảng 18 giờ 00 phút ngày 26/6/2024 Lê Thị Yến N, Trần Anh T1 hẹn nhau tại phòng 211 nhà nghỉ Chỗ C nơi Lê Thị Yến N thuê để cùng sử dụng ma tuý. Tại nhà nghỉ Lê Thị Yến N đã chuẩn bị 02 bịch ma túy đá, gồm 01 bịch ny lon nhỏ chứa ma túy và 01 bịch lớn chứa 05 bịch nhỏ ma túy nhỏ đựng trong 01 hộp giấy có nắp đậy, 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy và quẹt ga. Khi Trần Anh T1 tới Lê Thị Yến N lấy trong hộp giấy ra 01 bịch ma túy rời đổ một ít vào trong bộ D sử dụng ma túy, số ma túy còn lại trong bịch Lê Thị Yến N bỏ vào hộp giấy. Sau đó, N đưa bộ dụng cụ sử dụng ma túy có sẵn ma túy bên trong cho Trần Anh T1 và nói T1 sử dụng. Trần Anh T1 dùng quẹt ga đốt bộ dụng cụ sử dụng ma túy lên rồi sử dụng, sau đó T1 đưa cho N sử dụng, rồi N đưa lại cho T1 sử dụng. Trong lúc N và T1 ngồi nói chuyện thì bị bắt quả tang. Hành vi của Lê Thị Yến N, Trần Anh T1 đã cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự.

Ngoài số lượng ma tuý Lê Thị Yến N đã cùng Trần Anh T1 sử dụng; Cơ quan Cảnh sát điều tra còn thu giữ tại hiện trường số ma tuý còn lại trong đoạn ống thuỷ tinh có khối lượng 0,0821 gam Methamphetamine, số ma tuý đựng trong 01 gói ny lon, có khối lượng 0,1495 gam là Methamphetamine và số ma tuý đựng trong 05 gói ny lon, có khối lượng 0,7512 gam là Methamphetamine. Đây là số ma tuý của Lê Thị Yến N cất giấu nhằm mục đích sử dụng nên bị cáo Lê Thị Yến N còn phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Vì vậy, Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[4] Về tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi; tính đồng phạm; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của các bị cáo:

Đối với hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý. Mặc dù các bị cáo cùng cố ý và thống nhất về việc tổ chức sử dụng ma tuý. Tuy nhiên, giữa các bị cáo không có sự phân công vai trò, nhiệm vụ, không có sự cấu kết chặt chẽ nên thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn. Trong đó, bị cáo N là người chuẩn bị ma tuý, chuẩn bị dụng cụ, quẹt ga và bỏ ma tuý vào bộ D; còn bị cáo T1 dùng quẹt ga đốt bộ dụng cụ sử dụng ma túy lên để cùng sử dụng, các bị cáo đều thực hành phạm tội tích cực, trong đó bị cáo N có vai trò chính và cao hơn.

Hành vi của các bị cáo là cố ý, nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến chính sách quản lý các chất ma tuý của Nhà nước. Các bị cáo là người đã thành niên, hoàn toàn nhận thức được ma tuý là chất gây nghiện, gây nguy hại đến sức khoẻ người sử dụng và là một trong những nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác nhưng để thoả mãn cơn nghiện của mình các bị cáo đã bất chấp vi phạm pháp luật. Do đó, cần phải xử lý nghiêm khắc, các ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ dài để cải tạo, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung trong toàn xã hội.

Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Vì vậy, cần xem xét cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự;

[5] Về hình phạt chính: Căn cứ vào vai trò, tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với các bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp, đủ sức răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung trong toàn xã hội. Riêng bị cáo Lê Thị Yến N phạm hai tội, nên cần buộc bị cáo phải chịu hình phạt chung của cả hai tội theo quy định tại Điều 55 Bộ luật Hình sự.

[6] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy mặc dù các bị cáo có nghề nghiệp tuy nhiên bị cáo N hiện còn nuôi hai con nhỏ, bị cáo T1 có mức thu nhập trung bình chỉ đủ trang trải cuộc sống, nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

[7] Về xử lý vật chứng: 01 (một) gói ny lon, đã cắt một đầu, có khóa kéo viền đỏ, kích thước khoảng (7 x 4)cm; 01 (một) gói ny lon, có khóa kéo viền đỏ, kích thước khoảng (7 x 4)cm; 05 (năm) gói ny lon đã cắt lấy mẫu; 0,1120 gam mẫu M1; 0,0612 gam mẫu M2 còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 871/1, có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo N2 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh B; 01 (một) ống thủy tinh được uống cong và thổi phồng một đầu cùng 0,0612 gam mẫu M3 còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 871/2, có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo N2 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh B; 01 (một) bình nhựa có nắp bằng nhựa màu đỏ được nối với 01 đoạn ống nhựa màu trắng; 01 (một) bật lửa gas màu trắng đỏ; 01 (một) hộp giấy màu trắng có nắp đậy kích thước (10,5 x 10,5 x 3,5)cm. Là vật chứng không có giá trị, chất cấm tàng trữ nên cần tịch thu, tiêu hủy là phù hợp với quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và các điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

[8] Liên quan trong vụ án: Lê Thị Yến N khai nhận nguồn gốc số ma tuý đã sử dụng và bị thu giữ do bị cáo mua của một thanh niên tên H3, trong quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được nhân thân, lai lịch và địa chỉ nơi ở nên cần tiếp tục điều tra, làm rõ.

[9] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, các Điều 17, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Riêng bị cáo Lê Thị Yến N căn cứ thêm điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 55 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

    Tuyên bố:

    Bị cáo Lê Thị Yến N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

    Các bị cáo Lê Thị Yến N, Trần Anh T1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.

    Phạt:

    Phạt: Bị cáo Trần Anh T1 02 (hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.

    Phạt: Bị cáo Lê Thị Yến N 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.

    Tổng hợp hình phạt của hai tội, buộc bị cáo Lê Thị Yến N phải chấp hành chung là 04 (bốn) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.

  2. Về vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Các điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

    Tịch thu, tiêu hủy:

    01 (một) gói ny lon, đã cắt một đầu, có khóa kéo viền đỏ, kích thước khoảng (7 x 4)cm; 01 (một) gói ny lon, có khóa kéo viền đỏ, kích thước khoảng (7 x 4)cm; 05 (năm) gói ny lon đã cắt lấy mẫu; 0,1120 gam mẫu M1; 0,0612 gam mẫu M2 còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 871/1, có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo N2 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh B; 01 (một) ống thủy tinh được uống cong và thổi phồng một đầu cùng 0,0612 gam mẫu M3 còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 871/2, có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo N2 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh B; 01 (một) bình nhựa có nắp bằng nhựa màu đỏ được nối với 01 đoạn ống nhựa màu trắng; 01 (một) bật lửa gas màu trắng đỏ; 01 (một) hộp giấy màu trắng có nắp đậy kích thước (10,5 x 10,5 x 3,5)cm.

    (Hiện các vật chứng trên đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành hành án Dân sự huyện Đ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/02/2025 ).

  3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV;

    Buộc Lê Thị Yến N, Trần Anh T1 mỗi người phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm sung công quỹ Nhà nước.

  4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự;

    Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án để Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bình Thuận;
  • - VKSND huyện Đức Linh;
  • - Cơ quan điều tra Công an huyện Đức Linh;
  • - CQTHAHS - Công an huyện Đức Linh;
  • - Sở Tư pháp Bình Thuận;
  • - Chi cục THADS huyện Đức Linh (khi có hiệu lực);
  • - UBND thị trấn Đức Tài (thay t/b);
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Đình Trường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 18/2025/HS-ST ngày 26/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN về tàng trữ trái phép chất ma tuý và tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 18/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Thị Yến Nhi-Trần Anh Tuấn "Tàng trữ trái phép chất ma tuý"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger