TÒA ÁN NHÂN DÂN Bản án số: 18/2025/HS-ST Ngày: 10 - 11 -2025 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - HÀ TĨNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quang Dũng
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Toàn
Ông Nguyễn Xuân Tào
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Huy Chính - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Hà Tĩnh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Bà Võ Thanh Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 11 năm 2025 tại hội trường xử án Tòa án nhân dân khu vực 2 - Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 10/2025/TLST-HS ngày 02 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2025/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo:
Lê Xuân T; Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam; Sinh ngày 26 tháng 5 năm 1986, tại phường V, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi thường trú và chỗ ở: Tổ dân phố L, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh (nay là Tổ dân phố L, phường V, tỉnh Hà Tĩnh); Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo; Không; Trình độ văn hóa: Lớp 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không; Con ông: Lê Đức K; Sinh năm: 1956; Con bà: Trần Thị L; Sinh năm: 1956; Hiện đều sinh sống tại tổ dân phố L, phường V, tỉnh Hà Tĩnh; A, chị, em ruột có 02 người, bị cáo là con thứ nhất; Vợ: Lê Thị T1; Sinh năm: 1988; Hiện sinh sống tại thôn T, xã K, tỉnh Hà Tĩnh; Con: Có 02 đứa, đứa lớn nhất sinh năm 2014, đứa nhỏ nhất sinh năm 2015; Hiện đều sinh sống tại tổ dân phố L, phường V, tỉnh Hà Tĩnh; Tiền án, tiền sự: Không; Biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú tại phường V, tỉnh Hà Tĩnh kể từ ngày 29/7/2025 cho đến nay. (Có mặt)
* Bị hại:
Ông Lê Đức K, sinh ngày 10/7/1956; Nơi cư trú: Tổ dân phố L, phường V, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do. (Vắng mặt)
Bà Trần Thị L, sinh ngày 06/11/1956; Nơi cư trú: Tổ dân phố L, phường V, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 06 giờ 45 phút ngày 01/6/2025, Lê Xuân T đi bộ sang nhà bố mẹ mình là ông Lê Đức K, sinh năm 1956 và bà Trần Thị L, sinh năm 1956, ở tổ dân phố L, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh (nay là phường V, tỉnh Hà Tĩnh) để lấy xe mô tô đi làm. Sau khi sang nhà thấy bố mẹ đi vắng, nên T nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của bố mẹ để chi tiêu cá nhân. T lấy chìa khóa nhà bố mẹ, thường xuyên cất trên giá giày dép ở cửa nách, rồi mở cửa chính đi vào phòng ngủ của bố mẹ. Thấy cửa phòng không khóa, bên trong có một chiếc két sắt đặt ở đầu giường, T đi ra khu vực bếp lấy một chiếc búa tạ và một chiếc xà beng sắt (một đầu nhọn, một đầu bẹt). Sau đó, T mang vào phòng ngủ, dùng xà beng cạy lật ngửa chiếc két xuống nền nhà rồi dùng tay trái cầm búa tạ đập vào mép cánh cửa két, làm cánh cửa bung ra. Sau đó, T tiếp tục lấy xà beng chọc vào khe hở của cánh cửa cạy bung cánh cửa két sắt ra thấy bên trong có hai ngăn, ngăn phía trên không khoá còn ngăn phía dưới có một xấp tiền được buộc bằng vòng chun màu đỏ, gồm nhiều tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng, 200.000 đồng và 100.000 đồng. T lấy xấp tiền bỏ vào túi quần bên trái và đưa búa tạ và xà beng cất lại vị trí cũ. Sau khi thực hiện xong hành vi trộm cắp, T lấy cưa điện cắt một song cửa sổ ở phòng ăn, bẻ gãy kéo vào phía trong nhằm tạo hiện trường giả có người đột nhập từ phía ngoài vào thực hiện vụ trộm cắp và khoá cửa, đặt lại chìa khóa vào vị trí cũ, lấy xe mô tô đi làm. Khi đi đến chi nhánh G thuộc tổ dân phố L, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh (nay là phường V, tỉnh Hà Tĩnh) T lấy xấp tiền ra đếm được 15.200.000 đồng, gồm 29 tờ mệnh giá 500.000 đồng, 02 tờ mệnh giá 200.000 đồng và 03 tờ mệnh giá 100.000 đồng. Cùng ngày ông Lê Đức K làm đơn trình báo gửi Công an phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh (nay là Công an phường V, tỉnh Hà Tĩnh) về việc bị mất trộm tài sản và Công an phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh triệu tập Lê Xuân T lên làm việc, tại Công an phường K, Lê Xuân T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và tự nguyện giao nộp lại 15.200.000 đồng trộm cắp của ông Lê Đức K.
Theo kết luận định giá tài sản số 50/KL-HDĐG ngày 18/6/2025 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh kết luận: chiếc két sắt mà Lê Xuân T đã đập phá trị giá là 397.500 đồng.
* Về vật chứng: Trong quá trình điều tra, Công an phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh (nay là Công an phường V, tỉnh Hà Tĩnh) đã thu giữ, xử lý vật chứng gồm:
- Một két sắt nhãn hiệu Việt Á, size 50, sản xuất năm 2008, màu xanh xám, đã qua sử dụng; cạnh bên trái có dấu hiệu cạy phá, thu giữ của ông Lê Đức K. Tiền Ngân hàng N đang lưu hành 15.200.000 đồng, thu giữ của Lê Xuân T. Hiện nay đã trả lại cho chủ sở hữu ông Lê Đức K.
- Một xà beng, dài 107 cm, đường kính 3 cm, nặng 3 kg, một đầu nhọn, một đầu bẹt; một búa tạ, đầu búa bằng sắt kích thước 11cm x 06cm x 06cm, cán gỗ màu trắng đục dài 77 cm, nặng 3,1 kg; một cưa điện, tay cầm màu xanh, đen, vỏ tay cầm bằng nhựa dài 27cm; lưỡi cưa bằng xích thép dài 54cm, thân lưỡi cưa rộng 27cm, dây điện dài 145 cm; một cưa tay, thân làm bằng 04 thanh gỗ (01 thanh dài 69cm; 01 thanh dài 48cm; 02 thanh dài 27cm), lưỡi cưa bằng thép dài 47cm, rộng 2cm; các thanh gỗ và lưỡi cưa ghép lại thành hình chữ nhật, thu giữ của ông Lê Đức K. Đây là các vật chứng bị cáo dùng vào việc phạm tội, nhưng đây là tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của ông K, ông K có đơn đề nghị trả lại các vật chứng này, nên Hội đồng xét xử trả lại cho ông Lê Đức K các vật chứng nêu trên theo quy định tại Khoản 1, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
* Về trách nhiệm dân sự: Sau khi nhận lại tài sản bị mất trộm, ông Lê Đức K không yêu cầu về bồi thường dân sự và Lê Xuân T đã tự nguyện bồi thường trị giá chiếc két sắt bị hư hỏng với số tiền 2.000.000 đồng, ông Lê Đức K không có yêu cầu gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Bản cáo trạng số 17/CT-VKS-KV2 ngày 30/9/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Hà Tĩnh truy tố bị cáo Lê Xuân T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt Lê Xuân T từ 09 đến 12 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày thi hành án; Hình phạt bổ sung: Không; Về dân sự: Không; Về vật chứng: Đề nghị trả lại vật chứng cho bị hại.
Tại phần tranh luận, bị cáo, bị hại không có ý kiến tranh luận gì với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát.
Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Hà Tĩnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- [2] Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Vào khoảng 06 giờ 45 phút ngày 01/6/2025, tại nhà ở của ông Lê Đức K và bà Trần Thị L (Bố mẹ Lê Xuân T), ở tổ dân phố L, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh (nay là phường V, tỉnh Hà Tĩnh), lợi dụng sơ hở ông K, bà L không ở nhà, nên Lê Xuân T đã lén lút lấy chìa khoá nhà mở cửa và dùng búa tạ, xà beng cạy phá két sắt để ở phòng ngủ lấy trộm 15.200.000 đồng tiền Ngân hàng N đang lưu hành trong két sắt để chi tiêu cá nhân và làm hư hỏng chiếc két sắt trị giá 397.500 đồng. Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
- [3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo hộ, gây mất trật tự trị an trên địa bàn, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân. Sau khi thực hiện hành vi trộm cắp bị cáo đã tạo hiện trường giả, nhằm đánh lạc hướng bị hại và cơ quan chức năng, điều đó chứng tỏ rằng bị cáo rất tinh vi và có tính toán tỉ mỉ để nhằm che dấu cho hành vi phạm tội của mình. Tuy nhiên, quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình Sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục răn đe và phòng ngừa chung.
- [4] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo nghề nghiệp không ổn định, thu nhập thấp nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- [5] Xét luận tội của Kiểm sát viên là có căn cứ, đúng pháp luật, về mức án đề nghị là thỏa đáng.
- [6] Về trách nhiệm dân sự: Sau khi nhận lại tài sản bị mất trộm, ông Lê Đức K không yêu cầu về bồi thường dân sự và Lê Xuân T đã tự nguyện bồi thường trị giá chiếc két sắt bị hư hỏng với số tiền 2.000.000 đồng, ông Lê Đức K không có yêu cầu gì thêm, nên Hội đồng xét xử miễn xét.
- [7] Về vật chứng: Một két sắt nhãn hiệu Việt Á, size 50, sản xuất năm 2008, màu xanh xám, đã qua sử dụng; cạnh bên trái có dấu hiệu cạy phá, thu giữ của ông Lê Đức K. Tiền Ngân hàng N đang lưu hành 15.200.000 đồng, thu giữ của Lê Xuân T. Hiện nay đã trả lại cho chủ sở hữu ông Lê Đức K là có căn cứ. Một xà beng, dài 107 cm, đường kính 3 cm, nặng 3 kg, một đầu nhọn, một đầu bẹt; một búa tạ, đầu búa bằng sắt kích thước 11cm x 06cm x 06cm, cán gỗ màu trắng đục dài 77 cm, nặng 3,1 kg; một cưa điện, tay cầm màu xanh, đen, vỏ tay cầm bằng nhựa dài 27cm; lưỡi cưa bằng xích thép dài 54cm, thân lưỡi cưa rộng 27cm, dây điện dài 145 cm; một cưa tay, thân làm bằng 04 thanh gỗ (01 thanh dài 69cm; 01 thanh dài 48cm; 02 thanh dài 27cm), lưỡi cưa bằng thép dài 47cm, rộng 2cm; các thanh gỗ và lưỡi cưa ghép lại thành hình chữ nhật, thu giữ của ông Lê Đức K. Đây là các vật chứng bị cáo dùng vào việc phạm tội, nhưng đây là tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của ông K, ông K có đơn đề nghị trả lại các vật chứng này, nên Hội đồng xét xử trả lại cho ông Lê Đức K các vật chứng nêu trên theo quy định tại Khoản 1, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- [8] Các vấn đề liên quan khác: Đối với hành vi Lê Xuân T đập phá làm hư hỏng chiếc két sắt trị giá 397.500 đồng, xét thấy hành vi này gắn liền với hành vi Trộm cắp tài sản nên việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H không xử lý là có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật.
- [9] Về án phí: Bị cáo Lê Xuân T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- [10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo theo quy định tại điều 331, khoản 1 Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 331, khoản 1 Điều 333, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Khoản 1, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự; điểm a, khoản 1, Điều 3, khoản 1, Điều 6, khoản 1, Điều 21, điểm a, khoản 1 điều 23, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Về tội danh: Tuyên bố Lê Xuân T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Về hình phạt: Xử phạt Lê Xuân T 09 (chín) tháng tù thời hạn tù được tính từ ngày chấp hành án.
Về vật chứng: Trả lại cho ông Lê Đức K; Một xà beng, dài 107 cm, đường kính 3 cm, nặng 3 kg, một đầu nhọn, một đầu bẹt; một búa tạ, đầu búa bằng sắt kích thước 11cm x 06cm x 06cm, cán gỗ màu trắng đục dài 77 cm, nặng 3,1 kg; một cưa điện, tay cầm màu xanh, đen, vỏ tay cầm bằng nhựa dài 27cm; lưỡi cưa bằng xích thép dài 54cm, thân lưỡi cưa rộng 27cm, dây điện dài 145 cm; một cưa tay, thân làm bằng 04 thanh gỗ (01 thanh dài 69cm; 01 thanh dài 48cm; 02 thanh dài 27cm), lưỡi cưa bằng thép dài 47cm, rộng 2cm; các thanh gỗ và lưỡi cưa ghép lại thành hình chữ nhật.
Về án phí: Bị cáo Lê Xuân T phải nộp 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo; Bị hại bà Trần Thị L có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị hại ông Lê Đức K vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Quang Dũng |
Bản án số 18/2025/HS-ST ngày 10/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - HÀ TĨNH về trộm cắp tài sản (criminal)
- Số bản án: 18/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Criminal)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử phạt Lê Xuân Trường 09 tháng tù
