|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 18/2025/HSST Ngày 27 - 02 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH - TỈNH NGHỆ AN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Công Hưng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Hân. – Bà Đồng Thị Lý
Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Tình - Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Thắm - Chức danh: Kiểm sát viên.
Trong ngày 27 tháng 02 năm 2025, tại Trụ sở tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 09/2025/TLST-HS ngày 23 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2025/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 02 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Cao Tất M; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 04 tháng 05 năm 1964 tại huyện T, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: thôn T, xã T, huyện C, tỉnh Quảng Trị; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 6/12; Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, đoàn thể): Không; Họ tên cha: Cao Tất L (đã chết); Họ tên mẹ: Nguyễn Thị H (đã chết); Anh chị em ruột: có 3 người, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Vợ: Hoàng Thị Ánh T – Sinh năm: 1975; Con: có 3 con, con lớn nhất sinh năm 1999, con nhỏ nhất sinh năm 2011; Tiền án, tiền sự: Không
Nhân thân: Ngày 24/8/2020, Cao Tất M bị Tòa án nhân dân Thành phố Hà Tĩnh xử phạt 15 tháng tù về tội Buôn bán hàng cấm quy định tại khoản 1 Điều 190 Bộ luật hình sự tại Bản án số 65/2020/HSST ngày 24/8/2020. Cao Tất M đã chấp hành xong ngày 10/4/2021.
Bị cáo Cao Tất M bị tạm giữ từ ngày 2/12/2024 đến ngày 11/12/2024 thì bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 11/12/2024 đến nay. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
2. Họ và tên: Hoàng Văn T1 ; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 26 tháng 02 năm 1974 tại huyện Y, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: xóm P, xã N, huyện Y, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 6/12; Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, đoàn thể): Không; Họ tên cha: Hoàng Văn Đ (Đã chết); Họ tên mẹ: Vương Thị L1 – Sinh năm: 1948; Anh chị em ruột: có 5 người, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Vợ: Nguyễn Thị T2 – Sinh năm: 1977; Con: có 3 con, con lớn nhất sinh năm 2001, con nhỏ nhất sinh năm 2005; Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo Hoàng Văn T1 bị tạm giữ từ ngày 4/10/2024 đến ngày 10/10/2024 thì bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 10/10/2024 đến nay. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
3. Họ và tên: Hoàng Văn P; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 6 tháng 08 năm 1969 tại huyện C, tỉnh Quảng Trị; Nơi cư trú: thôn T, xã T, huyện C, tỉnh Quảng Trị; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, đoàn thể): Không; Họ tên cha: Hoàng D – Sinh năm: 1937; Họ tên mẹ: Phan Thị Đ1 – Sinh năm: 1934; Anh chị em ruột: có 7 người, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Vợ: Nguyễn Thị O – Sinh năm: 1976; Con: có 5 con, con lớn nhất sinh năm 1996, con nhỏ nhất sinh năm 2012; Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo Hoàng Văn P bị tạm giữ từ ngày 1/12/2024 đến ngày 7/12/2024 thì bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 7/12/2024 đến nay.(Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Ông Phan Công H1, sinh năm 1970.(Vắng mặt)
Địa chỉ: xóm Phú Sơn, xã Nam Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An - anh Phan Công D1, sinh năm 1998. (Vắng mặt)
Địa chỉ: xóm Phú Sơn, xã Nam Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An - Ông Nguyễn An B, sinh năm 1987. (Vắng mặt)
Địa chỉ: tổ dân phố Kim Ngọc, phường Mai Hùng, thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An - Ông Hoàng Văn H2, sinh năm 1974. (Vắng mặt)
Địa chỉ: xóm M, xã N, huyện Y, tỉnh Nghệ An - Ông Nguyễn Đăng T3, sinh năm 1986. (Vắng mặt)
Địa chỉ: xóm T, xã N, huyện Y, tỉnh Nghệ An - anh Cao Tất C, sinh năm 2000. (Vắng mặt)
Trú tại: thôn T, xã T, huyện C, tỉnh Quãng Trị
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tháng 9/2024, Nguyễn An B, sinh năm 1987, trú tại tổ dân phố K, phường M, thị xã H, tỉnh Nghệ An (là chủ thầu xây dựng) thuê Hoàng Văn T1 và Phan Công H1, sinh năm 1970, trú tại xóm P, xã N, huyện Y, tỉnh Nghệ An xây dựng bờ tường doanh trại quân đội tại thôn T, xã T, huyện C, tỉnh Quảng Trị. Quá trình xây dựng, Hoàng Văn T1 và Phan Công H1 ăn ở và sinh hoạt tại trang trại chăn nuôi của Hoàng Văn P tại thôn T, xã T, huyện C, tỉnh Quảng Trị.
Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 01/10/2024, Hoàng Văn P đến trang trại chăn nuôi thì gặp Hoàng Văn T1. Do có nhu cầu mua pháo để sử dụng trong dịp tết Nguyên Đán năm 2025 nên Hoàng Văn T1 hỏi P “ở đây có pháo không”, nghĩa là Hoàng Văn T1 hỏi P ở khu vực Hoàng Văn P sinh sống có bán pháo nổ không?. Hoàng Văn P hiểu ý của Hoàng Văn T1 và trả lời “có, để tui hỏi cho”, Hoàng Văn T1 nói “anh hỏi coi có thì mua cái để khi mô tết mà đốt”.
Khoảng 06 giờ 00 phút ngày 02/10/2024, Hoàng Văn P đi bộ từ nhà ở của mình đến quán C1 thuộc thôn T, xã T, huyện C, tỉnh Quảng Trị do Cao Tất M làm chủ. Tại đây, P hỏi Cao Tất M “dượng có pháo không?”, nghĩa là Hoàng Văn P hỏi Cao Tất M có bán pháo nổ không?. Cao Tất M nói “có”, Hoàng Văn P hỏi “giá bao nhiêu một bánh?”, Cao Tất M trả lời “sáu trăm rưỡi một bánh bốn chín”, nghĩa là 01 (một) bánh pháo nổ loại 49 quả có giá 650.000đ(sáu trăm năm mươi nghìn đồng).
Đến khoảng 13 giờ 15 phút ngày 03/10/2024, tại trang trại chăn nuôi của P, Hoàng Văn T1 hỏi P: “có pháo chưa để tối ni tui về, giá răng”, Hoàng Văn P nói “giá mỗi bánh bốn chín là sáu trăm rưỡi, để tui gọi cho họ cho anh gặp”. Hoàng Văn P sử dụng Zalo của P với tên “Hoàng Phụng” đăng ký số thuê bao 0916871679 gọi điện thoại đến tài khoản mạng xã hội Z với tên “M” đăng ký số thuê bao 0976619009 của Cao Tất M và nói “gặp người này này”, rồi Hoàng Văn P đưa điện thoại cho Hoàng Văn T1 để Hoàng Văn T1 trao đổi với Cao Tất M về việc mua bán pháo nổ. Sau đó, Hoàng Văn P nhắn tin số điện thoại của Hoàng Văn T1 cho Cao Tất M với nội dung “Gọi lại số 0362187498”. Đồng thời, P cho Hoàng Văn T1 số thuê bao 0976619009 của Cao Tất M để Hoàng Văn T1 và Cao Tất M liên lạc trao đổi với nhau về việc mua bán pháo nổ.
Đến khoảng 16 giờ 36 phút cùng ngày, Hoàng Văn T1 gọi điện thoại cho Cao Tất M đặt mua của Cao Tất M 08(tám) khối pháo nổ loại 49 quả với giá 650.000/khối và 02(hai) bịch pháo bị với giá 350.000đ/bịch, tổng số tiền là 6.200.000đ(sáu triệu hai trăm nghìn đồng).
Theo lời khai của Cao Tất M: Vào khoảng đầu tháng 9 năm 2024, tại khu vực Cửa khẩu L3 thuộc huyện H, tỉnh Quảng Trị, Cao Tất M mua của một người phụ nữ (không rõ nhân thân lai lịch) 08 (tám) khối pháo nổ loại 49 quả với giá 600.000đ/khối và 02 (hai) bịch pháo nổ quả hình cầu, vỏ nhựa có gắn dây màu xanh với giá 350.000đ/bịch về để bán kiếm lời.
Đến 18 giờ 39 phút ngày 3/10/2024, Hoàng Văn T1 gọi điện thoại cho Cao Tất M hỏi M có pháo chưa để T1 cầm pháo về Nghệ An và nói M đưa pháo nổ đến nhà Hoàng Văn P để Hoàng Văn T1 đến lấy thì Cao Tất M đồng ý. Sau khi gọi cho Cao Tất M, Hoàng Văn T1 nói Nguyễn An B: “anh mua ít đồ của bạn anh P, hết bao nhiêu tiền em trừ tiền công của anh, nhờ em gọi anh P để anh P nói với họ mai trả tiền”, Nguyễn An B đồng ý.
Đến khoảng 18 giờ 45 phút cùng ngày, Cao Tất M lấy từ gầm giường trong quán Cà phê S 01 (một) túi ni lông to màu đen, bên trong có chứa 06 (sáu) khối pháo nổ loại 49 quả, 02 (hai) túi pháo nổ quả hình cầu, vỏ nhựa có gắn dây màu xanh và 01 (một) túi ni lông nhỏ màu đen, bên trong có chứa 02 (hai) khối pháo nổ loại 49 quả rồi đặt tại gác để chân của chiếc xe đạp điện của Cao Tất C, sinh năm 2000, trú tại thôn T, xã T, huyện C, tỉnh Quảng Trị, là con trai của Cao Tất M, rồi điều khiển xe đạp điện đi từ quán Cà phê S đến nhà Hoàng Văn P. Khi đến nhà Hoàng Văn P, Cao Tất M điều khiển xe đi vào trong sân nhà Hoàng Văn P gặp Hoàng Văn P đang đi từ trong nhà đi ra sân. Cao Tất M mang số pháo trên để tại góc sân nhà của P rồi Cao Tất M điều khiển xe đi về. Hoàng Văn P thấy túi ni lông màu đen mà Cao Tất M đưa đến có chứa pháo nổ nên cầm đặt tại vị trí cột cổng để Hoàng Văn T1 đến lấy. Một lúc sau, Hoàng Văn T1 cùng Phan Công H1 đi đến
nhà của Hoàng Văn P thì gặp Hoàng Văn P đang đứng tại sân nhà của P. Hoàng Văn P biết Hoàng Văn T1 đến lấy pháo nổ nên chỉ tay đến cột cổng, Hoàng Văn T1 thấy tại cột cổng có một túi ni lông màu đen và biết trong túi ni lông có chứa pháo nổ mà Cao Tất M bán cho Hoàng Văn T1 nên Hoàng Văn T1 đi đến cột cổng cầm túi ni lông màu đen cùng Phan Công H1 trở về trang trại chăn nuôi.
Khi về đến trang trại, Hoàng Văn T1 lấy 06 (sáu) khối pháo nổ và 02 (hai) túi pháo nổ quả hình cầu bỏ vào túi vải màu đen xanh và lấy 02 (hai) khối pháo từ trong túi ni lông nhỏ màu đen bỏ vào túi ni lông màu đỏ rồi mang toàn bộ pháo nổ đi đến chân cầu T, thuộc thôn T, xã T, huyện C, tỉnh Quảng Trị bắt xe khách Hùng H3 đi về huyện Y, tỉnh Nghệ An.
Đến khoảng 07 giờ 46 phút ngày 4/10/2024, Hoàng Văn T1 sử dụng số thuê bao 0362187498 gọi điện thoại đến số thuê bao 0349683795 của Phan Công D1, sinh năm 1998, trú tại xóm P, xã N, huyện Y, tỉnh Nghệ An và nói “Có ở nhà không ra chộ Hùng H3 đón chú cái”, Phan Công D1 đồng ý rồi điều khiển xe mô tô, nhãn hiệu VISION, màu xám đen, mang biển kiểm soát 37P1 – 934.23 của anh Phan Công H1, sinh năm 1970, trú tại xóm P, xã N, huyện Y, tỉnh Nghệ An đi đón Hoàng Văn P. Hoàng Văn T1 xuống xe thì thấy Phan Công D1 điểu khiển chiếc xe mô tô đi đến, Hoàng Văn T1 đặt 02 (hai) túi chứa pháo lên yên xe mô tô của Phan Công D1 thì bị lực lượng Công an huyện Y phát hiện, bắt quả tang, thu giữ và niêm phong toàn bộ tang vật theo đúng quy định.
Đến khoảng đầu tháng 11/2024, Nguyễn Văn B1 gọi điện thoại cho Hoàng Văn P để trả số tiền mà Hoàng Văn T1 nhờ Nguyễn Văn B1 trả cho P trước đó. Hoàng Văn P chỉ Nguyễn An B đến quán Cà phê S gặp Cao Tất M để trả tiền nên B đã đưa cho Cao Tất M số tiền 6.200.000₫ (sáu triệu hai trăm nghìn đồng). Số tiền này, M đã tiêu xài cá nhân hết.
Ngày 04/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y thành lập Hội đồng mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại. Các mẫu vật được ký hiệu M1, M2, M3, M4.
Đến ngày 1/12/2024, Hoàng Văn P đến Công an huyện Y đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội.
Ngày 2/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y tiến hành lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Cao Tất M. (Bút lục 17)
Tại bản kết luận giám định số 365/KL-KTHS(Đ2 – CN) ngày 09/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận:
Các mẫu vật ký hiệu M1, M2, M3, M4 thu giữ của Hoàng Văn T1 gửi giám định đều là pháo, đều thuộc loại pháo nổ. Tổng khối lượng pháo nổ thu giữ của Hoàng Văn T1 có khối lượng là 14,5kg(mười bốn phẩy năm ki lô gam).
* Vật chứng thu giữ và xử lý vật chứng:
Ngày 4/10/2024, 1/12/2024 và 2/12/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã:
- Thu giữ của Hoàng Văn T1 01 (một) túi xách vải màu đen xanh, bên trong có chứa 06 (sáu) khối pháo nổ có đặc điểm giống nhau, mỗi khối hình hộp có kích thước (18x18x10)cm, bên ngoài được bọc bởi lớp giấy có in chữ nước ngoài và hình ảnh pháo hoa nổ cháy sáng, ký hiệu KS4 4911X, có tổng khối lượng 10kg (mười ki lô gam), đã lấy 2 khối pháo nổ có khối lượng 3,6kg để làm mẫu giám định (mẫu không hoàn lại) và 01 (một) túi ni lông màu đỏ, bên trong có chứa 02 (hai) khối pháo nổ có đặc điểm giống nhau, mỗi khối hình hộp có kích thước (18x18x10)cm, bên ngoài được bọc bởi lớp giấy có in chữ nước ngoài và hình ảnh pháo hoa nổ cháy sáng, ký hiệu KS4 4911X, có khối lượng 3,6kg (ba phẩy sáu ki lô gam), đã lấy 01 khối pháo nổ có khối lượng 1,8kg để làm mẫu giám định (mẫu không hoàn lại); 02 (hai) túi ni lông trong suốt, bên trong mỗi túi ni lông có chứa nhiều quả hình cầu vỏ nhựa có gắn dây màu xanh là pháo nổ, có khối lượng 0,9kg (không phẩy chín ki lô gam), đã lấy 20 quả hình cầu có khối lượng 0,09kg (không phẩy không chín gam) để làm mẫu giám định (mẫu không hoàn lại).
- 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 9C màu xanh, bên trong có gắn sim 0976619009, đã qua sử dụng thu giữ của Cao Tất M.
- 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu trắng, bên trong có gắn sim 0916871679, điện thoại đã qua sử dụng thu giữ của Hoàng Văn P.
- 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y02s màu đen, bên trong có gắn sim 0362187498, điện thoại đã qua sử dụng thu giữ của Hoàng Văn T1.
- 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại VISION, màu xám đen, mang biển kiểm soát 37P1 – 934.23, xe đã qua sử dụng. Cơ quan CSĐT Công an huyện Y đã trả lại cho Phan Công H1, sinh năm 1970, trú tại xóm P, xã N, huyện Y, tỉnh Nghệ An là chủ sở hữu hợp pháp.
- 01 (một) chiếc xe đạp điện nhãn hiệu AMIA 133, màu đen, xe đã qua sử dụng. Cơ quan CSĐT Công an huyện Y đã trả lại cho Cao Tất C, sinh năm 2000, trú tại thôn T, xã T, huyện C, tỉnh Quảng Trị là chủ sở hữu hợp pháp.
Số vật chứng còn lại hiện đang được bảo quản tại Kho vật chứng Công an huyện Y, chờ xử lý theo quy định của pháp luật.
Tại bản cáo trạng số 16/CT-VKS-YT ngày 23/01/2025 của VKSND huyện Yên Thành đã truy tố Cao Tất M về tội “Buôn bán hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật hình sự, truy tố Hoàng Văn T1, Hoàng Văn P về tội “Tàng trữ hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190; các điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt Cao Tất M từ 15 đến 18 tháng tù.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2 Điều 65 BLHS. Xử phạt Hoàng Văn T1 từ 8 đến 9 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 16 đến 18 tháng. Xử phạt Hoàng Văn P từ 7 đến 8 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 14 đến 16 tháng.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.
- Tịch thu tiêu hủy số pháo nổ còn lại.
- Đề nghị truy thu số tiền thu lợi bất chính từ việc bán pháo nổ đối với bị cáo Cao Tất M.
- Buộc các bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định.
Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung truy tố của Cáo trạng và không có ý kiến gì trong phần tranh luận. Các bị cáo đề nghị Hội đồng xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Các quyết định của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y, Điều tra viên;Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Căn cứ buộc tội: Tại phiên toà hôm nay, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra và các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 01/10/2024, tại trang trại chăn nuôi của Hoàng Văn P thuộc thôn T, xã T, huyện C, tỉnh Quảng Trị, Hoàng Văn T1 nhờ Hoàng Văn P mua pháo nổ giúp Hoàng Văn T1 để T1 sử dụng, nên Hoàng Văn P đã liên lạc, trao đổi với Cao Tất M để mua pháo nổ cho T1. Đến khoảng 18 giờ 45 phút, ngày 3/10/2024, tại nhà ở của Hoàng Văn P thuộc thôn T, xã T, huyện C, tỉnh Quảng Trị, Cao Tất M đã bán cho Hoàng Văn T1 8 (tám) khối pháo nổ, loại 49 quả và nhiều quả hình cầu vỏ nhựa có gắn dây màu xanh là pháo nổ, có tổng khối lượng là 14,5kg (mười bốn phẩy năm ki lô gam) với giá 6.200.000đ (sáu triệu hai trăm nghìn đồng). Hoàng Văn T1 mang toàn bộ số pháo nổ này và bắt xe khách Hùng H3 đi từ thôn T, xã T, huyện C, tỉnh Quảng Trị về huyện Y, tỉnh Nghệ An. Đến 8 giờ 00 phút ngày 4/10/2024, tại xóm M, xã N, huyện Y, khi Hoàng Văn T1 mang pháo nổ trên xuống xe thì bị Công an huyện Y, phát hiện, bắt quả tang. Do đó, Cao Tất M bị truy tố về tội “Buôn bán hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật hình sự, Hoàng Văn T1, Hoàng Văn P bị truy tố về tội “Tàng trữ hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Đánh giá tính chất vụ án và hành vi phạm tội của các bị cáo: Bản thân các bị cáo có đủ nhận thức để biết rằng pháo nổ là hàng cấm và hành vi buôn bán, tàng trữ pháo nổ là vi phạm pháp luật. Nhưng vì muốn kiếm lời và cũng muốn có pháo nổ để sử dụng trái phép nên các bị cáo đã thực hiện hành vi vi phạm pháp luật. Hành vi phạm tội của các bị cáo thể hiện sự liều lĩnh, coi thường pháp luật, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền của nhà nước trong quản lý một số loại hàng cấm, cấm tàng trữ, cấm vận chuyển, lưu thông trên thị trường. Vì vậy, cần phải xử phạt nghiêm và lên cho các bị cáo một mức hình phạt tương xứng nhằm răn đe, cải tạo giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung. Các bị cáo tham gia thực hiện hành vi phạm tội khác nhau, trong đó Cao Tất M phạm tội “Buôn bán hàng cấm”, còn Hoàng Văn T1, Hoàng Văn P đồng phạm với nhau về tội “Tàng trữ hàng cấm”, nhưng việc đồng phạm của các bị cáo là đồng phạm giản đơn. Xét nhân thân, hành vi của các bị cáo khác nhau, nên cần phân hóa để xử lý cho phù hợp.
[3.1] Đối với Cao Tất M, bị cáo nhận thức được pháo nổ là hàng cấm, nhưng chỉ vì hám lợi, nên bị cáo đã bất chấp pháp luật đã buôn bán phảo nổ. Bị cáo có nhân thân xấu, ngày 24/8/2020 bị TAND TP. Hà Tĩnh xử phạt 15 tháng tù về tội Buôn bán hàng cấm, nay bị cáo lại tiếp tục phạm tôi. Vì vậy cần phải xử lý nghiêm minh đối với bị cáo. Tuy nhiên tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải. Đây là những tình tiết giảm nhẹ được qui định tại điểm s, khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự, nên cần xem xét, giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt để thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.
[3.2] Đối với Hoàng Văn T1 là người thực hiện hành vi “Tàng trữ hàng cấm”, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, cần phải xử lý nghiêm mới có tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung. Tuy nhiên bị cáo không có tình tiết tăng nặng, bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải hành vi phạm tội của mình, bố mẹ bị cáo được tặng Huân chương kháng chiến hạng nhì, Bằng khen vì đã có thành tích trong cuộc kháng chiến chồng Mỹ cứu nước. Đó là những tình tiết giảm nhẹ qui định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 điều 51 của Bộ luật hình sự, nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội mà nên cần áp dụng nguyên tắc nhân đạo của pháp luật được qui định tại khoản 1, khoản 2 Điều 65 của BLHS xử cho bị cáo được hưởng án treo như đại diện viện kiểm sát đề nghị tại phiên tòa cũng đủ nghiêm.
[3.3] Đối với Hoàng Văn P là đồng phạm với Hoàng Văn T1, thực hiện hành vi phạm tội với vai trò giúp sức. Bị cáo nhận thức được pháo nổ là hàng cấm, nhưng bị cáo vẫn nhiệt tình, tìm, hỏi người bán pháo để T1 mua pháo về tàng trữ, hành vi của bị cáo đã giúp sức một cách tích cực. Vì vậy cũng cần phải xử lý nghiêm minh đối với bị cáo. Lẽ ra xử phạt tù giam đối với bị cáo, nhưng xét thấy bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú, tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải. Đây là những tình tiết giảm nhẹ được qui định tại điểm i, s, khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự. Xét bị cáo không có tiền án, tiền sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải xử phạt tù giam đối với bị cáo mà tiếp tục giao bị cáo cho gia đình và chính quyền địa phương quản lý giám sát như đề nghị của Viện kiểm sát tại phiên tòa cũng đủ nghiêm.
[4] Hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo điều kiện kinh tế khó khăn và không có tài sản. Do đó không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.
Theo lời khai của Cao Tất M, người phụ nữ có đặc điểm người gầy, bịt khẩu trang màu đen và đội mũ là người bán pháo cho Cao Tất M. Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y không xác định được nhân thân lai lịch của người phụ nữ này nên không có căn cứ xem xét xử lý trong vụ án này.
Đối với Phan Công H1, sinh năm 1970, trú tại xóm P, xã N, huyện Y, tỉnh Nghệ An, là người đi cùng với Hoàng Văn T1 đến nhà Hoàng Văn P để lấy pháo nổ. Quá trình điều tra xác định: Phan Công H1 không biết bên trong túi ni lông màu đen mà Hoàng Văn T1 lấy từ nhà Hoàng Văn P có chứa pháo nổ nên không có căn cứ xử lý trong vụ án này.
Đối với Phan Công D1, sinh năm 1998, trú tại xóm P, xã N, huyện Y, tỉnh Nghệ An, là người đi đến vị trí xe khách H1 Hường dừng để chở Hoàng Văn T1 đi về. Phan Công D1 không biết Hoàng Văn T1 có mang theo pháo nổ nên không có căn cứ xử lý trong vụ án này.
Đối với Nguyễn An B, sinh năm 1987, trú tại tổ dân phố K, phường M, thị xã H, tỉnh Nghệ An, là người được Hoàng Văn T1 nhờ trả tiền pháo nổ mà Hoàng Văn T1 mua của Cao Tất M. Nguyễn An B không biết Hoàng Văn T1 nhờ Nguyễn An B trả tiền pháo nổ mà Hoàng Văn T1 mua của Cao Tất M nên không có căn cứ xử lý trong vụ án này.
Đối với Hoàng Văn H2, sinh năm 1974, trú tại xóm M, xã N, huyện Y, tỉnh Nghệ An (là chủ nhà xe H5) và Nguyễn Đăng T3, sinh năm 1986, trú tại xóm T, xã N, huyện Y, tỉnh Nghệ An (là lái xe khách H2 Hường), Hoàng Văn H2 và Nguyễn Đăng T3 không biết việc Hoàng Văn T1 mang theo pháo nổ để trên xe khách Hùng H3 đi từ Quảng Trị về Nghệ An nên không có căn cứ xử lý trong vụ án này.
Đối với Cao Tất C, sinh năm 2000, trú tại thôn T, xã T, huyện C, tỉnh Quảng Trị là chủ sở hữu chiếc xe đạp điện nhãn hiệu AMIA 133, màu đen, xe đã qua sử dụng. Cao Tất C không biết việc Cao Tất M sử dụng xe đạp điện để chở pháo nổ đi bán nên không có căn cứ xử lý trong vụ án này.
[5] Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra Công an huyện Y đã thu giữ của của các bị cáo T1 14,5kg pháo. Đối với số pháo đã trích gửi giám định 5,49kg(không hoàn lại), còn lại 9,01kg cần tịch thu, tiêu hủy.
Quá trình điều tra đã thu giữ 3 chiếc điện thoại của các bị cáo, các bị cáo đã sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội, là phương tiện phạm tội, nên cần tịch thu hóa giá sung quỹ nhà nước.
Đối với 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại VISION, màu xám đen, mang biển kiểm soát 37P1 – 934.23, xe đã qua sử dụng. Cơ quan CSĐT Công an huyện Y đã trả lại cho Phan Công H1, sinh năm 1970, trú tại xóm P, xã N, huyện Y, tỉnh Nghệ An là chủ sở hữu hợp pháp là đúng quy định.
Đối với 01 (một) chiếc xe đạp điện nhãn hiệu AMIA 133, màu đen, xe đã qua sử dụng. Cơ quan CSĐT Công an huyện Y đã trả lại cho Cao Tất C, sinh năm 2000, trú tại thôn T, xã T, huyện C, tỉnh Quảng Trị là chủ sở hữu hợp pháp là đúng quy định.
Đối với số tiền thu lợi bất chính từ hành vi bán pháo nổ của bị cáo Cao Tất M, cần phải truy thu sung quỹ nhà nước.
3] Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1.Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015.
- Xử phạt: Bị cáo Cao Tất M 15(Mười lăm) tháng tù về tội “Buôn bán hàng cấm”, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án, nhưng được trừ thời gian tạm giữ, tính từ ngày 02/12/2024 đến ngày 11/12/2024.
2. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015.
- - Xử phạt: Bị cáo Hoàng Văn T1 8(T4) tháng tù về tội “Tàng trữ hàng cấm”, nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, thử thách 16(Mười sáu) tháng. Thời hạn thử thách đối với bị cáo được tính từ ngày tuyên án sơ thẩm(Ngày 27/02/2025).
- - Xử phạt: Bị cáo Hoàng Văn P 8(T4) tháng tù về tội “Tàng trữ hàng cấm”, nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, thử thách 16(Mười sáu) tháng. Thời hạn thử thách đối với bị cáo được tính từ ngày tuyên án sơ thẩm(Ngày 27/02/2025).
- Giao bị cáo Hoàng Văn T1 cho UBND xã N, huyện Y, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND xã N, huyện Y, tỉnh Nghệ An trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
- Giao bị cáo Hoàng Văn P cho UBND xã T, huyện C, tỉnh Quãng Trị giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND xã T, huyện C, tỉnh Quãng Trị trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
- Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì việc thi hành hình phạt tù cho hưởng án treo được thực hiện theo quy định của pháp luật thi hành án hình sự.
- Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự, khoản 2 điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- - Tịch thu tiêu hủy 9,01kg pháo còn lại. (Hiện đang bảo quản tại kho vật chứng Công an huyện Y). Sau khi án có hiệu lực pháp luật, Công an huyện Y có trách nhiệm chuyển giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Thành để xử lý theo quy định của pháp luật.
- - Tịch thu hóa giá sung quỹ nhà nước 03 chiếc điện thoại sau: 01(một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 9C màu xanh, bên trong có gắn sim 0976619009, đã qua sử dụng thu giữ của Cao Tất M. 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu trắng, bên trong có gắn sim 0916871679, điện thoại đã qua sử dụng thu giữ của Hoàng Văn P. 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y02s màu đen, bên trong có gắn sim 0362187498, điện thoại đã qua sử dụng thu giữ của Hoàng Văn T1.
- Toàn bộ số vật chứng đã được Cơ quan CSĐT Công an huyện Y, tỉnh Nghệ An bàn giao cho Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An theo Phiếu nhập kho số: NK 029 ngày 06/02/2025.
- Truy thu sung công quỹ nhà nước đối với Cao Tất M số tiền 6.200.000đ(Sáu triệu hai trăm nghìn đồng).
3. Án phí: Căn cứ vào Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án.
Buộc các bị cáo Cao Tất M, Hoàng Văn T1, Hoàng Văn P mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ(Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt được quyền kháng cáo lên toà án cấp phúc thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo lên toà án cấp phúc thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM:HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Công Hưng |
Bản án số 18/2025/HSST ngày 27/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH - TỈNH NGHỆ AN về hình sự sơ thẩm
- Số bản án: 18/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH - TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cao Tất M buôn bán hàng cấm
