Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÚ HÒA

TỈNH PHÚ YÊN

Bản án số: 18/2025/HSST

Ngày: 16-6-2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ HÒA - TỈNH PHÚ YÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Thu Hiền;

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Phạm Chính – Cán bộ hưu trí (Nguyên là hiệu trưởng trường THCS Hòa An, huyện Phú Hòa, tỉnh Phú Yên).
  2. Ông Trần Văn Phương.

Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Rum Ba – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Hòa, tỉnh Phú Yên.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phú Hòa, tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Hòa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 17/2025/HSST ngày 23 tháng 5 năm 2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2022/HSST-QĐ ngày 02 tháng 6 năm 2025 đối với các bị cáo:

  1. Lê Văn T, sinh năm 1996, tại tỉnh Phú Yên; Nơi cư trú: Thôn L, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên; Nghề nghiệp: Phụ hồ; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn M, sinh năm: 1956 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm: 1958; Tiền án, tiền sự: Không;

    Nhân thân:

    Bị Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án số 55/2015, ngày 09/12/2025, chấp hành xong ngày 12/6/2016.

    Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/01/2025 đến nay tại phân trại tạm giam khu vực P, tỉnh Phú Yên, có mặt tại phiên tòa.

  2. Nguyễn Minh T1, sinh ngày 09/6/2003, tại tỉnh Phú Yên; Nơi cư trú: Thôn P, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T2, sinh năm: 1973 và bà Lê Thị N, sinh năm: 1973; Tiền án, tiền sự: Không;

    Nhân thân:

    Ngày 07/6/2022 bị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án số 01/2022/HSPT; ngày 01/01/2023 chấp hành xong.

    Ngày 20/01/2025 bị Công an xã H, huyện P xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, đã chấp hành xong hình phạt vào ngày 09/5/2025.

    Bị can bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 13/12/2024 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

  1. 1/ Ông Đỗ Cao T3, sinh năm 1974, bà Lê Thị D, sinh năm 1975, địa chỉ: Thôn P, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt
  2. 2/ Ông Nguyễn D2, sinh năm 1975, bà Nguyễn Thị Tùng L1, sinh năm 1980, địa chỉ: Thôn P, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.
  3. 3/ Ông Đào Thế Đ, sinh năm 1967, địa chỉ: Thôn Đ, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Lê Thị S, sinh năm 1953, anh Huỳnh Quốc D1, sinh năm 1991, địa chỉ: Thôn X, xã H, TP ., tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.

Bà Lê Thị Thu Đ1, sinh năm 1978, địa chỉ: Khu phố P, Phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.

- Người làm chứng:

Ông Lê Ngọc T4, sinh năm 1963, địa chỉ: Thôn L, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ ngày 11/3/2020, Lê Văn T rủ Nguyễn Minh T1 đi trộm cắp tài sản, T điều khiển xe mô tô 78F7-2694 chở T1 đi đến chòi vịt của ông Đỗ Cao T3 tại thôn L, xã H, huyện P, Quan sát thấy không người trông coi, T và T1 lén lấy 01 khay nhựa đựng 600 quả trứng vịt thì bị ông T3 phát hiện truy hô. T và T1 bỏ lại khay trứng đến lấy xe mô tô biển số 78F7-2694 thì bị ông T3 giữ xe lại, T mở cốp xe lấy 01 con dao đe dọa, ông T3 lùi về sau nên cả hai tẩu thoát.

Qua điều tra, T và T1 cùng thực hiện hai vụ trộm khác:

Vụ thứ nhất: Khoảng 21 giờ một ngày không xác định được cuối tháng 01/2020, tại trại vịt ông Nguyễn D2 thuộc thôn L, xã H, huyện P, T và T1 lén lấy 08 bao cám East Hope 7099, mỗi bao 40kg đem bán cho bà Lê Thị S được 1.200.000 đồng, chia sau tiêu xài cá nhân.

Vụ thứ hai: Khoảng 21 giờ một ngày không xác định được cuối tháng 01/2020, tại trại vịt ông Nguyễn D2 thuộc thôn L, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên, T và T1 lén lấy 12 bao cám East Hope 7099, mỗi bao 40kg đem bán cho bà Lê Thị S được 1.800.000 đồng, chia nhau tiêu xài cá nhân.

Qua điều tra Nguyễn Minh T1 còn tự nguyện khai nhận thực hiện 03 vụ trộm cắp khác do Lê Văn T rủ rê cùng thực hiện:

Vụ thứ nhất Khoảng 20 giờ một ngày không xác định được đầu tháng 01/2020, tại trại vịt của ông Nguyễn D2 thuộc thôn L, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên, bị cáo lén lấy 02 khay nhựa đựng 820 quả trứng vịt đem bán cho người không xác định được họ tên, địa chỉ ở chợ Đ2, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên.

Vụ thứ hai: Khoảng 21 giờ một ngày không xác định được giữa tháng 01/2020, tại trại vịt ông Đào Thế Đ thuộc thôn Đ, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên, bị cáo lén lấy 01 khay nhựa đựng 700 quả trứng vịt đem bán cho một người không xác định được họ tên, địa chỉ ở chợ Đ2, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên.

Vụ thứ ba: Khoảng 21 giờ một ngày không xác định được cuối tháng 01/2020, tại trại vịt ông Nguyễn D2, thuộc thôn L, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên, bị cáo bắt trộm 67 con vịt đem bán cho một người không xác định được ở chợ Đ2, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên.

Ngoài ra, Nguyễn Minh T1 còn khai nhận, trong tháng 01/2020 T điều khiển xe mô tô 78F7-2694 chở T1 thực hiện 03 vụ trộm cắp tài sản tại xã H, thành phố T, xã H, H thuộc huyện P nhưng số tài sản chiếm đoạt không thu giữ được, không xác định bị hại và cơ quan có thẩm quyền không tiếp nhận nguồn tin về tội phạm nên không có cơ sở xử lý.

Tại kết luận định giá tài sản số 06/KL-HĐĐG ngày 12/3/2020 của Hội đồng định giá tài sản huyện P: Giá trị 01 quả trứng vịt là 2.000 đồng

Kết luận định giá trài sản số 46/KL-HĐĐGTS ngày 15/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện P: Giá trị 20 bao cám vịt đẻ (loại cám East Hope 7090, trọng lượng 40kg/bao tại thời điểm xảy ra vụ án) có giá 6.400.000 đồng.

Kết luận định giá tài sản số 05A/KL-HĐ ĐGTS ngày 28/02/2025 của Hội đồng định giá huyện P: 01 khay nhựa màu xanh, kích thước (40x50x60cm) là 100.000 đồng; giá trị 02 khay nhựa màu xanh kích thước (40x50x80cm) là 300.000 đồng; giá trị 820 quả trứng vịt là 1.640.000 đồng; Giá 67 con vịt thịt là 6.030.000 đồng; giá trị 01 khay nhựa màu xanh, kích thước (60x70x80cm) là 200.000 đồng; Giá trị 700 quả trứng vịt là 1.400.000 đồng.

Vật chứng vụ án: Đã trả lại cho chủ sở hữu 01 khay nhựa đựng 600 quả trứng vịt; đang tạm giữ 01 xe mô tô biển số 78F7-2694; 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen; 03 lông vịt.

Phần dân sự: Bị hại Nguyễn D2 yêu cầu bồi thường 14.698.000 đồng; Đào Thế Đ yêu cầu bồi thường 1.600.000 đồng; Đỗ Cao T3 không yêu cầu bồi thường. Bị cáo Nguyễn Minh T1 bồi thường cho ông D2 8.300.000 đồng, và bồi thường cho ông Đ 1.600.000 đồng, bị cáo T bồi thường ông D2 2.000.000 đồng.

Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi như nội dung bản cáo trạng và xin hội đồng xét xử (HĐXX) xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Tại bản cáo trạng số 14/CT-VKS ngày 25/4/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Hòa đã truy tố các bị cáo Lê Văn T, Nguyễn Minh T1 về tội “Trộm cắp tài sản”, quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự (BLHS).

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát tranh luận và luận tội: Giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng, đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 173 BLHS cho cả hai bị cáo:

  • Áp dụng điểm b, s, khoản 1, 2 Điều 51, điểm g, o điều 52 BLHS xử phạt bị cáo Lê Văn T từ 12 đến 15 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ tạm giam 10/01/2025.
  • Áp dụng điểm b, s, khoản 1, 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; điều 91, điều 101 BLHS, Khoản 1 Điều 119, khoản 2 Điều 179 Luật Tư pháp người chưa thành niên, xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T1 từ 06 đến 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
  • Về dân sự: Các bị hại không yêu bồi thường nên không đề nghị HĐXX giải quyết.
  • Về vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) tuyên tịch thu tiêu hủy 01 điện thoại di động hiệu NoKia của Lê Văn T vì không có giá trị sử dụng; tuyên tịch thu tiêu hủy 03 lông vịt. Tuyên tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 xe mô tô 78F7-2694. Đối với các tài sản đã trả lại cho chủ sở hữu là đúng quy định pháp luật, đề nghị HĐXX không xem xét, giải quyết.
  • Bị cáo Nguyễn Minh T1 khai nhận cùng Lê Văn T trộm 67 con vịt, hai khay nhựa đựng 820 quả trứng của ông Nguyễn D2 và một khay nhựa đựng 700 quả trứng vịt của ông Đào Thế Đ nhưng chỉ có lời khai duy nhất của bị cáo T1 nên không đủ cơ sở đển xử lý Lê Văn T thực hiện các vụ trộm cắp trên.
  • Đối với bà Lê Thị S và người không rõ thông tin ở chợ Đ2, H vì không hứa hẹn trước, không biết rõ tài sản do trộm cắp tài sản mà có nên không xem xét, xử lý.

Các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo ăn năn hối cải, xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện không bị khiếu nại, không xem xét, giải quyết.

[2] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa các bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng đều vắng mặt. Tuy nhiên, những người này đều có lời khai trình bày rõ các tình tiết trong quá trình tố tụng, xét thấy việc vắng mặt không làm trở ngại quá trình xét xử vụ án, căn cứ Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự hội đồng tiếp tục xét xử vụ án.

Xét thấy bị cáo Lê Văn T dùng dao đe dọa bị hại Đỗ Cao T3 để tẩu thoát là có dấu hiệu “hành hung tẩu thoát” được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 173 BLHS, đồng thời các hành vi của bị cáo T1 thực hiện trộm cắp 67 con vịt, 820 quả trứng của ông Nguyễn D2; 700 quả trứng vịt của ông Đào Thế Đ là có dấu hiệu bỏ lọt đồng phạm; Tòa án đã tiến hành trả hồ sơ để điều tra bổ sung làm rõ truy tố theo đúng quy định pháp luật, nhưng Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố. Xét hành vi phạm tội của các bị cáo diễn ra từ năm 2020, bị cáo T bỏ trốn, thời gian trộm cắp đã quá lâu, gây khó khăn công tác điều tra, truy tố, xét xử. Do đó, Tòa án áp dụng Điều 298 Bộ luật tố tụng hình sự và căn cứ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để tiếp tục xét xử.

[3] Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, như nội dung cáo trạng đã nêu, lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận:

Từ tháng 01/2020 đến 11/3/2020, trên địa bàn huyện P Lê Văn T cùng Nguyễn Minh T1 có hành vi trộm cắp 20 bao cám của ông Nguyễn D2, 01 khay nhựa đựng 600 quả trứng vịt của ông Đỗ Cao T3, tổng giá trị tài sản trộm cắp 7.700.000 đồng.

Nguyễn Minh T1 có hành vi trộm cắp 67 con vịt, 02 khay nhựa đựng 820 quả trứng vịt của ông Nguyễn D2; 01 khay nhựa đựng 700 quả trứng vịt của ông Đào Thế Đ có tổng giá trị 9.570.000 đồng.

Hành vi của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 BLHS như cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Xét về tính chất hành vi phạm tội của các bị cáo.

Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ, gây mất an ninh, trật tự tại địa phương. Khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo là người có đủ tuổi và đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện với lỗi cố ý. Xét từng bị cáo thấy rằng:

Đối với bị cáo Lê Văn T, vào năm 2015 đã từng vi phạm pháp luật về cùng tính chất, hành vi phạm tội, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học kinh nghiệm cho bản thân, với bản tính lười lao động, muốn có tiền tiêu xài lại tiếp tục phạm tội. Bị cáo là người rủ rê, xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội. Tính chất, mức độ phạm tội nguy hiểm cao hơn bị cáo T1.

Sau khi phạm tội vì sợ chịu trách nhiệm hình sự nên bị cáo đã bỏ trốn từ năm 2020 đến năm 2025 thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra bắt tạm giam. Trong quá trình điều tra, bị cáo khai báo quanh co, không đúng bản chất, mức độ hành vi phạm tội nên cần xử lý nghiêm minh cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục, phòng ngừa tội phạm.

Đối với bị cáo Nguyễn Minh T1, mặc dù bị rủ rê, lúc phạm tội chưa đủ 18 tuổi, nhưng đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo đã từng bị xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án hình sự phúc thẩm ngày 07/6/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên. Bị cáo phạm tội nhiều lần với tính chất, mức độ nguy hiểm hơn, cho thấy bản thân bị cáo không thể tự cải tạo, giáo dục được mà cần cách ly ra khỏi xã hội một thời gian mới đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm.

Riêng bị cáo T1 do chưa đủ 18 tuổi lúc phạm tội nên được áp dụng thêm Điều 91, 101 BLHS; khoản 1 Điều 119; khoản 2 Điều 179 Luật Tư pháp người chưa thành niên khi lượng hình phạt cho bị cáo, để bị cáo thấy được chính sách khoan hồng của Nhà nước ta mà an tâm cải tạo, sớm trở thành công dân có ích cho xã hội.

[5] Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo:

Trong quá trình tiến hành tố tụng và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Minh T1 thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tự nguyện khắc phục bồi thường toàn bộ thiệt hại, được bị hại T3 xin bãi nại, nên được áp dụng điểm b, s Khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.

Trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa bị cáo T mặc dù ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, nhưng khai báo quanh co, lời khai còn chưa thống nhất, mâu thuẫn nhau là không thật thà khai báo; bị cáo tự nguyện bồi thường một phần thiệt hại, được bị hại D2 xin bãi nại; ông bà nội bị cáo có công cách mạng, được tặng thưởng huân, huy chương kháng chiến nên được áp dụng điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.

Riêng đề xuất Kiểm sát viên tại phiên tòa áp dụng thêm điểm s khoản 1, Điều 51 BLHS là chưa phù hợp nên không được chấp nhận.

[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo phạm tội hai lần trở lên nên áp dụng điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS, riêng bị cáo T do rủ rê, xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội nên còn phải áp dụng điểm o Khoản 1 Điều 52 BLHS.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Đỗ Cao T3, Lê Thị D đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng không xét.

Bị hại Nguyễn Văn D2, Nguyễn Thị Tùng L1 yêu cầu bồi thường 14.698.000 đồng, bị cáo T bồi thường 2.000.000 đồng, bị cáo T1 bồi thường 8.300.000 đồng, bị hại không yêu cầu bồi thường thêm nên Hội đồng xét xử không xét.

Bị hại Đào Thế Đ đã nhận tiền bồi thường 1.600.000 đồng của bị cáo Nguyễn Minh T1 và không yêu cầu bồi thường thêm nên không xét.

[8] Về vật chứng: Căn cứ theo Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS:

Tuyên tịch thu tiêu hủy 03 lông vịt; 01 điện thoại Nokia vì không còn giá trị sử dụng.

01 xe mô tô biển số 78F7-2694, đứng tên Lê Thị Thu Đ1 là chủ sở hữu, tuy nhiên bà Đ1 xác nhận tài sản đã chuyển nhượng cho người khác. Gia đình bị cáo mua lại của người khác, giao lại cho bị cáo sử dụng là phù hợp. Bị cáo sử dụng xe làm phương tiện phạm tội nên xác định đây là vật chứng vụ án, cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.

Tài sản khác đã trả lại cho chủ sở hữu trong quá trình điều tra là phù hợp quy định pháp luật nên không xét.

(Vật chứng có đặc điểm mô tả theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/4/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh P và cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Hòa).

[9] Đối với hành vi của Lê Thị S, người đàn ông không rõ lai lịch ở chợ Đ2 đều không biết tài sản do các bị cáo trộm cắp mà có nên không xử lý vi phạm pháp luật là có căn cứ.

[10] Về án phí: Các bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 BLTTHS và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 46, Điều 47, Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Căn cứ Điều 106; Điều 136, Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Tuyên bố bị cáo Lê Văn T và bị cáo Nguyễn Minh T1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
  2. Xử phạt:
    • Căn cứ điểm b, khoản 1, 2 Điều 51; Điểm g, o khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lê Văn T 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 10/01/2025;
    • Căn cứ điểm b, s, khoản 1, 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 91, 101 Bộ luật hình sự; Khoản 1 Điều 119, Khoản 2 Điều 179 Luật Tư pháp người chưa thành niên; xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T1 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
  3. Về vật chứng: Tuyên tịch thu tiêu hủy 03 lông vịt và 01 (một) điện thoại di động hiệu NoKia của Lê Văn T do không còn giá trị sử dụng.

    Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 xe mô tô biển số 78F7-2694 của Lê Văn T.

    (Các vật chứng có đặc điểm mô tả theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/4/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh P và cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Hòa).

  4. Về dân sự: Các bị hại đã nhận tài sản và tiền bồi thường, không ai yêu cầu bồi thường thêm nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
  5. Về án phí: Buộc bị cáo Lê Văn T, Nguyễn Văn T5 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  6. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - Người tham gia tố tụng;
  • - VKSND huyện Phú Hòa;
  • - Công an tỉnh Phú Hòa;
  • - TAND tỉnh Phú Yên;
  • - VKSND tỉnh Phú Yên;
  • - Chi cục THADS huyện Phú Hòa;
  • - Lưu hồ sơ.

TM . HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trương Thị Thu Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 18/2025/HSST ngày 16/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ HÒA - TỈNH PHÚ YÊN về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 18/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ HÒA - TỈNH PHÚ YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Văn Tr, Nguyễn Minh T trộm cắp tài sản là trứng vịt, vịt, cám vịt của nhiều người dân trong thời gian liên tục, bị viện kiểm sát truy tố về tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 BLHS
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger