TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH TỈNH CÀ MAU | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 18/2025/HSST Ngày 04 tháng 6 năm 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Võ Quốc Văn
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Hồ Lệ Hoa
- Ông Lý Quốc Cường
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Phượng Kiều, là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà: Ông Hồ Văn Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thới Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 15/2025/TLST-HS ngày 09 tháng 5 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 158/2025/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 5 năm 2025 đối với các bị cáo:
- Ngô Văn T, sinh ngày 12/9/1993 tại Cà Mau. Nơi cư trú: Ấp A, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 04/12; dân tộc: Khmer; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Văn T1 và bà Danh Thị M; vợ Cao Như Ý; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Theo bản án hình sự sơ thẩm số 05/2011/HSST ngày 30/11/2011 của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau tuyên phạt Ngô Văn T 03 năm 06 tháng tù về tội “cướp tài sản”. Theo bản án hình sự phúc thẩm số 142/2012/HSPT ngày 06/8/2012 của Tòa án nhân tỉnh Cà Mau tổng hợp hình phạt của bản án số 05/2011/HSST ngày 30/11/2011 của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình bị cáo Ngô Văn T phải chấp hành hình phạt 07 năm 01 tháng tù về các tội “Cướp tài sản” và “Cố ý làm hư hỏng tài sản”, chấp hành xong hình phạt ngày 09/01/2018 các quyết định khác của bản án đã chấp hành xong. Theo bản án hình sự sơ thẩm số 05/2022/HSST ngày 17/02/2022 của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau tuyên phạt Ngô Văn T 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 14/12/2022, các quyết định khác của bản án đã chấp hành xong. Tại quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 42/QĐ-XPVPHC ngày 18/02/2021 của Ủy ban nhân dân xã T, xử phạt Ngô Văn T 4.000.000 đồng về hành vi gây rối trật tự công cộng có mang theo công cụ hỗ trợ (bình xịt hơi cay); tại Quyết định số 291/QĐ-UBND ngày 28/8/2021 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn thời hạn 03 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, tại quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 05/QĐ-XPHC ngày 09/12/2021 của Công an huyện T xử phạt Ngô Văn T 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; tại quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 517/QĐ-XPVPHC ngày 10/9/2021 của Ủy ban nhân dân xã T, xử phạt Ngô Văn T 5.250.000 đồng về hành vi cất giấu dao trong người nhằm mục đích đánh nhau với người khác, sử dụng trái phép chất ma túy, không thực hiện biện pháp bảo vệ cá nhân đối với người có nguy cơ mắc bệnh dịch; tạm giữ ngày 04/02/2025, tạm giam ngày 07/02/2025 cho đến nay (bị cáo có mặt)
- Huỳnh Minh Q, sinh ngày 13/6/1999 tại Cà Mau. Nơi cư trú: Ấp A, xã N, huyện U, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Mua bán; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Văn B (đã chết) và bà Trương Thị N, vợ Lâm Thúy V và một người con; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ ngày 11/01/2025; tạm giam ngày 17/01/2025 đến nay (bị cáo có mặt).
- Lê Bé T2, sinh ngày 04/7/1996 tại Cà Mau. Nơi cư trú: Ấp A, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Tấn Đ và bà Lý Thị Á, chưa có vợ; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ ngày 11/01/2025; tạm giam ngày 17/01/2025 đến nay (bị cáo có mặt).
Bị hại: Anh Trần Phong P, sinh năm 1988 (vắng mặt)
Nơi cư trú: Khóm C, thị trấn T, T, Cà Mau
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Anh Lăng P1 (P) H, sinh năm 1983 (có mặt)
Nơi cư trú: Ấp A, xã T, T, Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Buổi trưa ngày 06/01/2025 các bị cáo Q, T2 và T có gặp nhau tại chòi vuông của ông Diệp Đình N1 thuộc khóm G, thị trấn T để sử dụng ma túy và nói chuyện với nhau. Sau khi sử dụng ma túy xong T có rủ Q và T2 đi lấy trộm xe Suzuki biển số 59S1-228.80 (Quyền đã cầm cho anh Trần Phong P ở khóm C, thị trấn T trước đó) để đem lên S bán cho người quen của T lấy tiền tiêu xài, Q và T2 đồng ý, các bị cáo không có phân công vai trò lẫn nhau.
Đến khoảng 06 giờ ngày 08/01/2025, T gọi cho T2 để đi trộm xe, sau đó T2 mượn xe 63V5 – 0954 của cậu là Lăng Phước H điều khiển chở theo T đến nhà của anh P để trộm xe mô tô. Khi đến nhà anh P thì T xuống xe, quan sát không có người trông coi, T đi vào nhà anh P lấy trộm xe Suzuki biển số kiểm soát 59S1 – 228.80 rồi điều khiển xe chạy về hướng xã T, còn T2 thì điều khiển xe đi về chòi vuông của anh N1 đợi. Khi T điều khiển xe đi đến nhà của ông Đặng Văn L thuộc ấp B, xã T thì xe hết xăng nên T gửi xe tại nhà ông L; sau khi gửi xe xong T thông báo cho Q biết. Sau đó, Q liên hệ với anh H1 ở xã B để thuê xe ô tô 7 chỗ; đến khoảng 16 giờ 10 phút cùng ngày Q đi đến nhà của anh H1 lấy xe đã thuê rồi điều khiển đi rước T và T2 ở thị trấn T, sau đó cả ba đi đến nhà của anh L ở xã T cùng khiêng xe trộm được để lên xe 07 chổ chở lên S bán. Khi đến chợ Đ1, T liên hệ không được với anh của T, Q mới điện thoại cho người tên T3 (không rõ họ tên cụ thể và địa chỉ) ở Long An nói cần bán xe Suzuki biển số 59S1-228.80, T3 kêu Q chở xe đến để xem và hẹn gặp T3 ở Đ, Long An. Khi đến nơi Q yêu cầu bán xe với giá 15.000.000 đồng, T3 nói đắt quá không đồng ý mua và nói để kiếm người bán dùm; Q gửi xe lại cho T3 rồi cả 3 đi về huyện T. Đến ngày 10/01/2025, khi biết Công an đang truy tìm thì Q đến Công an thị trấn T đầu thú, sau đó T2 và T cũng ra đầu thú.
Tại kết luận định giá tài sản số 01/KL-HĐĐGTS ngày 14/01/2025 của Hội đồng định giá tài sản (thường xuyên) trong tố tụng hình sự kết luận: Một xe mô tô, nhãn hiệu SUZUKI, loại SATRIA, màu đỏ, biển kiểm soát 59S1 – 228.80, có giá trị là 19.000.000 đồng (mười chín triệu đồng). Tổng giá trị tài sản được định giá theo yêu cầu định giá tài sản số 55/YC-ĐTTH ngày 13/01/2025 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T là 19.000.000 đồng.
Vật chứng, đồ vật của vụ án gồm: 01 (một) xe mô tô, nhãn hiệu SUZUKI, loại SATRIA, màu đỏ, biển kiểm soát 59S1 – 228.80; 01 (một) mũ bảo hiểm màu trắng - xanh, có dán hình Doremon ở hai bên mũ, nón cũ đã qua sử dụng; 01 (một) mũ vải màu đen, cũ đã qua sử dụng; 01 (một) áo khoác vải màu nâu xám, có thiêu hai hình trái tim ở trước ngực áo bên trái, đã qua sử dụng; 01 (một) xe mô tô biển số 63V5-0954 củ, đã qua sử dụng.
Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay: Bị cáo T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội đã đầu thú. Các bị cáo Q và T2 đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; sau khi phạm tội đã đầu thú nên các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định của Bộ luật hình sự.
Tại bản cáo trạng số 16/CT-VKS ngày 08 tháng 5 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình truy tố các bị cáo Ngô Văn T, Huỳnh Minh Q, Lê Bé T2 về tội “Trộm cắp tài sản”, quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà hôm nay:
- Các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã được trình bày nói trên và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
- Anh H yêu cầu được nhận lại xe mô tô 63V5 0954.
- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên toà: Rút lại tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm h khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự đối với các bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Ngô Văn T. Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Huỳnh Minh Q, Lê Bé T2. Tuyên bố các bị cáo Ngô Văn T, Huỳnh Minh Q, Lê Bé T2 phạm tội “Trộm cắp tài sản”, phạt bị cáo Ngô Văn T từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù. Phạt bị cáo Huỳnh Minh Q từ 06 tháng đến 01 năm tù; Phạt bị cáo Lê Bé T2 từ 06 tháng đến 01 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ các bị cáo.
Trách nhiệm dân sự: Bị cáo Huỳnh Minh Q đã thanh toán cho anh Trần Phong P số tiền 8.000.000 đồng xong, anh P không có yêu cầu gì nên không xem xét.
Vật chứng: Trả lại cho Huỳnh Minh Q 01 (một) xe mô tô, nhãn hiệu SUZUKI, loại SATRIA, màu đỏ, biển kiểm soát 59S1 – 228.80 tiếp tục lưu giữ để đảm bảo thi hành án; 01 (một) mũ bảo hiểm màu trắng - xanh, có dán hình Doremon ở hai bên mũ, nón cũ đã qua sử dụng; 01 (một) mũ vải màu đen, cũ đã qua sử dụng; 01 (một) áo khoác vải màu nâu xám, có thiêu hai hình trái tim ở trước ngực áo bên trái, đã qua sử dụng của là của bị cáo T2, bị cáo không yêu cầu nhận lại, do không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy; trả lại cho anh H 01 (một) xe mô tô biển số 63V5-0954 củ, đã qua sử dụng. Vật chứng hiện Chi cục thi hành án dân sự huyện Thới Bình đang lưu giữ.
Án phí các bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng:
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử không ai có ý kiến hoặc khiếu nại. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung vụ án:
[1] Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người bị hại, các lời khai của người làm chứng, biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú, biên bản khám nghiệm hiện trường và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Ngày 06/01/2025, bị cáo T rủ các bị cáo Q, T2 đi lấy trộm xe Suzuki biển số 59S1-228.80 bán lấy tiền tiêu xài, Quyền, T2 đồng ý. Đến khoảng 06 giờ ngày 08/01/2025, T2 sử dụng xe mô tô 63V5 – 0954 chở T đến nhà của anh P, T trực tiếp lấy trộm xe Suzuki biển số kiểm soát 59S1 – 228.80 rồi cả ba cùng khiêng xe trộm được lên xe ô tô 07 chổ chở lên S bán nhưng không bán được. Khi biết công an đang truy tìm thì các bị cáo ra đầu thú. Xe Suzuki biển số kiểm soát 59S1 – 228.80 có giá trị là 19.000.000 đồng. Bằng thủ đoạn lợi dụng sơ hở của anh P thì các bị cáo chiếm đoạt. Với hành vi và giá trị tài sản nêu trên thì Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình truy tố các bị cáo Ngô Văn T, Huỳnh Minh Q, Lê Bé T2 về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[2] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, chỉ vì động cơ vụ lợi mà các bị cáo trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của cá nhân được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự xã hội của địa phương, tạo nên tâm lý hoang mang, lo sợ, gây nên sự bức xúc, bất bình trong dư luận quần chúng nhân dân. Bị cáo T có nhân thân xấu hai lần cướp tài sản, một lần trộm cắp tài sản, nhiều lần bị xử phạt vi phạm hành chính nhưng bị cáo không biết ăn năn hối cải để trở thành người công dân có ích cho xã hội mà vẫn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, còn bị cáo Q đang trong quá trình truy tố về hành vi “Giả mạo trong công tác” nhưng tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội đều đó cho thấy các bị cáo quá xem thường pháp luật. Các bị cáo nhận thức được rằng việc xâm phạm đến tài sản của người khác sẽ bị pháp luật trừng trị nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, việc xử lý nghiêm các bị cáo là cần thiết, nhằm đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm.
[3] Về tính chất của vụ án thuộc dạng đồng phạm giản đơn do các bị cáo không có phân công vai trò cụ thể và tỷ lệ chia lợi nhuận thế nào nên không truy tố các bị cáo phạm tội có tổ chức là có cơ sở. Xét vai trò của từng bị cáo thấy rằng: Bị cáo T là người khởi xướng, rủ rê các bị cáo khác thực hiện hành vi và trực tiếp trộm xe nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự nặng hơn các bị cáo khác. Bị cáo Q phạm tội trong thời gian bị truy tố nên hình phạt nặng hơn bị cáo T2.
[4] Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ sau đây đối với các bị cáo: Bị cáo T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã đầu thú nên được hưởng tỉnh tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Các bị cáo Q và T2 đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; các bị cáo đầu thú nên được hưởng tỉnh tiết giảm nhẹ theo điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự thể hiện tính khoan hồng của Đảng và Nhà nước ta.
Tại phiên tòa Viện kiểm sát rút lại tình tiết giảm nhẹ phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại quy định tại điểm h khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự đối với các bị cáo. Xét thấy, Các bị cáo phạm tội đã hoàn thành và hành vi đã gây nguy hiểm cho xã hội nên việc rút lại tình tiết này của viện kiểm sát là có cơ sở.
[5] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và các đặc điểm nhân thân của các bị cáo, xét đề nghị về mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình là có cơ sở. Hội đồng xét xử xét thấy cần tiếp tục cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục các bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa và đấu tranh phòng ngừa chung.
[6] Trách nhiệm dân sự: Trước khi xét xử bị cáo Q đã trả lại cho anh P số tiền 8.000.000 đồng, anh P không có yêu cầu gì thêm nên không xem xét.
[7] Về vật chứng của vụ án: Trả lại cho bị cáo Q 01 (một) xe mô tô, nhãn hiệu Suzuki, loại SATRIA, màu đỏ, biển kiểm soát 59S1 – 228.80; 01 (một) mũ bảo hiểm màu trắng - xanh, có dán hình Doremon ở hai bên mũ, nón cũ đã qua sử dụng; 01 (một) mũ vải màu đen, cũ đã qua sử dụng; 01 (một) áo khoác vải màu nâu xám, có thiêu hai hình trái tim ở trước ngực áo bên trái, đã qua sử dụng của bị cáo T2 bị cáo không yêu cầu nhận lại do không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy; trả lại cho anh H 01 (một) xe mô tô biển số 63V5-0954 củ, đã qua sử dụng do anh H không biết Q mượn xe của anh làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội. Vật chứng hiện Chi cục thi hành án dân sự huyện Thới Bình đang lưu giữ.
Đối với hành vi sử dụng ma túy của các bị cáo Q, T2 có dấu hiệu vi phạm hành chính, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh C đã chuyển hồ sơ đến Công an thị trấn T để xử lý theo thẩm quyền.
Đối với việc ông Lăng Phước H cho Lê Bé T2 mượn xe để đi công việc, việc T2 sử dụng xe để trộm cắp tài sản thì ông H không biết. Ông Đặng Văn L cho Ngô Văn T gửi xe, ông L không biết đây là xe T đã trộm cắp mà có. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh C không đề cập xử lý đối với ông Lăng Phước H, Đặng Văn L là có cơ sở.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Mỗi bị cáo phải chịu số tiền 200.000 đồng.
Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ nêu trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 106, 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, f Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Ngô Văn T.
Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Huỳnh Minh Q, Lê Bé T2.
Tuyên bố các bị cáo Ngô Văn T, Huỳnh Minh Q, Lê Bé T2 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Phạt bị cáo Ngô Văn T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/02/2025
Phạt bị cáo Huỳnh Minh Q 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/01/2025.
Phạt bị cáo Lê Bé T2 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/01/2025.
Vật chứng: Trả lại cho bị cáo Huỳnh Minh Q 01 (một) xe mô tô, nhãn hiệu Suzuki, loại SATRIA, màu đỏ, biển kiểm soát 59S1 – 228.80 tiếp tục lưu giữ để đảm bảo thì hành án; tịch thu tiêu hủy 01 (một) mũ bảo hiểm màu trắng - xanh, có dán hình Doremon ở hai bên mũ, nón cũ đã qua sử dụng; 01 (một) mũ vải màu đen, cũ đã qua sử dụng; 01 (một) áo khoác vải màu nâu xám, có thiêu hai hình trái tim ở trước ngực áo bên trái, đã qua sử dụng; trả lại cho anh Lăng P1 (P2) H (một) xe mô tô biển số 63V5-0954 củ, đã qua sử dụng. Vật chứng hiện Chi cục thi hành án dân sự huyện Thới Bình đang lưu giữ.
Về án phí: Bị cáo Ngô Văn T, Huỳnh Minh Q, Lê Bé T2 mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm số tiền là 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Anh P được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được nhận hoặc niêm yết bản án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Võ Quốc Văn |
Bản án số 18/2025/HSST ngày 04/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 18/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Căn cứ Điều 106, 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, f Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Ngô Văn Tính. Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Huỳnh Minh Quyền, Lê Bé Tầng. Tuyên bố các bị cáo Ngô Văn Tính, Huỳnh Minh Quyền, Lê Bé Tầng phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Phạt bị cáo Ngô Văn Tính 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/02/2025 Phạt bị cáo Huỳnh Minh Quyền 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/01/2025. Phạt bị cáo Lê Bé Tầng 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/01/2025. Vật chứng: Trả lại cho bị cáo Huỳnh Minh Quyền 01 (một) xe mô tô, nhãn hiệu Suzuki, loại SATRIA, màu đỏ, biển kiểm soát 59S1 – 228.80 tiếp tục lưu giữ để đảm bảo thì hành án; tịch thu tiêu hủy 01 (một) mũ bảo hiểm màu trắng - xanh, có dán hình Doremon ở hai bên mũ, nón cũ đã qua sử dụng; 01 (một) mũ vải màu đen, cũ đã qua sử dụng; 01 (một) áo khoác vải màu nâu xám, có thiêu hai hình trái tim ở trước ngực áo bên trái, đã qua sử dụng; trả lại cho anh Lăng Phước (Phi) Hổ 01 (một) xe mô tô biển số 63V5-0954 củ, đã qua sử dụng. Vật chứng hiện Chi cục thi hành án dân sự huyện Thới Bình đang lưu giữ. Về án phí: Bị cáo Ngô Văn Tính, Huỳnh Minh Quyền, Lê Bé Tầng mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm số tiền là 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng). Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Anh Phú được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được nhận hoặc niêm yết bản án.
