Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRẦN VĂN THỜI,

TỈNH CÀ MAU

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2025/HSST

Ngày: 04-03-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Ngô Văn Đen;

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Văn Công Trọn;
  2. Ông Nguyễn Việt Thắng.

Thư ký phiên toà: Ông Huỳnh Hiếu Nghĩa, là Thư ký Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Dần - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 03 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 19/2025/TLST-HS ngày 18 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2025/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Chí L; tên gọi khác: Không; sinh ngày 15/9/1995; tại tỉnh Cà Mau; Nơi thường trú và chỗ ở: Ấp H, xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Làm vuông; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thanh H, sinh năm 1972 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1974; vợ: Nguyễn Nhật T1, sinh năm 1991; Có 02 người con, lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2018; Tiền án: Không; Tiền sự: ngày 6. 11. 2024 bị Chủ tịch UBND xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau, áp dụng biện pháp quán lý người sử dụng ma tuý; Bị cáo bị bắt người trong trường hợp phạm tội quả tang ngày 23/12/2024, sau đó khởi tố chuyển tạm giam cho đến nay; Bị cáo bị tạm giam có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Nguyễn Nhật T1.Sinh năm: 1991 (có mặt).

Địa chỉ: Ấp H, xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 14 giờ ngày 23 tháng 12 năm 2024 Nguyễn Chí L, điều khiển xe biển kiểm soát 69E1-47387 đi đến đường R phường H, thành phố C, gặp 1 đối tượng có tên B khoản 40 tuổi, không biết tên địa chỉ ở đâu, hỏi mua 100 số ma tuý với giá 4.500.000 đồng ma tuý, đối tượng này đồng ý đưa cho L 1 bịch nilon bên trong có chứa ma tuý, L trả tiền cho đối tượng này 4.500.000 đồng, rồi lấy bịch nilon có chứa ma tuý cất giấu vào quần lót đang mặc, tiếp tục điều khiển xe về ấp T, huyện C, rủ Lâm Chí B1 đi xuống Sông Đ tìm việc làm, B1 đồng ý, L điều khiển xe chở B1 ngồi sau xuống đến khóm F, thị trấn S, đến khoảng 17 giờ cùng ngày bị lực lượng Cảnh sát biển phát hiện bắt quả tang, thu trong quần lót của L đang mặc 1 bịch nilon bên trong có chứa ma tuý.

Kết luận giám định số 258/KLMT ngày 27. 12. 2024 của Phòng K Công an tỉnh S; kết luận: 01 bịch nolon màu trắng có rãnh cài viền màu cam, bên trong có chứa ma tuý. Tổng khối lượng ma tuý 9,2350 gam, là chất Mêthamphetamine.

Tang vật thu giữ: 01 phong bì hoàn mẫu số 258.2024 của phòng hình sự công an S; 01 đoạn băng keo màu đen dùng để cuốn bịch nilon; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mang tên Nguyễn Nhật T1, sinh năm 1991; 01 chiếc xe biển kiểm soát 69E1-47387.

Tại bản cáo trạng số 19/CT-VKS ngày 17 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau truy tố Nguyễn Chí L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời giữ nguyên cáo trạng truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Chí L từ 05 năm đến 06 năm tù giam.

Về vật chứng: Đề nghị áp dụng 47, 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 đoạn băng keo màu đen dùng để cuốn bịch nilon, 01 (Một) phong bì niêm phong của Phòng K Công an tỉnh S bên trong có chứa ma túy còn lại sau giám định. Trả lại cho bà Nguyễn Nhật T1 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mang tên Nguyễn Nhật T1, sinh năm 1991; 01 chiếc xe biển kiểm soát 69E1-47387.

Tại phiên tòa, bị cáo L thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Bị cáo không tranh luận gì với Đại diện Viện kiểm sát, chỉ yêu cầu Tòa xem xét giảm nhẹ hình phạt. Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi thẩm tra các chứng cứ có trong hồ sơ, nghe lời khai của bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, và phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn T2 và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục mà Bộ luật tố tụng hình sự quy định. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, biên bản phạm tội quả tang cũng như các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Khoảng 17 giờ ngày 23 tháng 12 năm 2024, Nguyễn Chí L, đã có hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại khóm F, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau, bị lực lượng Cảnh sát biển phát hiện bắt quả tang, thu trong quần lót của L đang mặc 1 bịch nilon bên trong có chứa ma tuý. Tổng khối lượng 9,2350 gam, là chất Mêthamphetamine.

Kết luận giám định số 258/KLMT ngày 27. 12. 2024 của Phòng K Công an tỉnh S; kết luận: 01 bịch nolon màu trắng có rãnh cài viền màu cam, bên trong có chứa ma tuý. Tổng khối lượng ma tuý 9,2350 gam, là chất Mêthamphetamine. Hành vi của bị cáo L đã xâm phạm chế độ quản lý của Nhà nước về việc cất giữ chất ma túy quy định luật phòng chống ma túy. Tại thời điểm thực hiện hành vi tàng trữ chất ma túy, bị cáo L đã đủ 18 tuổi, đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình. Như vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự nên Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn T2 truy tố bị cáo là có căn cứ.

Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

...

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt từ từ 05 năm đến 10 năm.

g. Heroine, C, M... có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam".

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt:

Tiền sự: Ngày 6. 11. 2024 bị Chủ tịch UBND xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau, áp dụng biện pháp quán lý người sử dụng ma tuý.

Tại giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo chưa có tiền án, bị cáo có 02 người con còn nhỏ, bị cáo là lao động chính trong gia đình, gia đình bị cáo có công với cách mạng ông cố nội của bị cáo là ông Nguyễn Thanh T3 là liệt sỹ trong thời kỳ chống Pháp nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt: Bị cáo, biết rõ ma túy là chất gây nghiện mang tính độc hại cao bị Nhà nước cấm mua bán, tàng trữ, vận chuyển. Song do nghiện ma túy và muốn thỏa mãn cơn nghiện, bị cáo đã bất chấp pháp luật, cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an xã hội, chống lại chủ trương bài trừ tệ nạn ma túy của Nhà nước. Vì vậy, sau khi cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục, giúp đỡ bị cáo sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội và phòng ngừa chung.

[4] Riêng đối tượng bán ma túy cho L, quá trình điều tra không xác định được nhân thân lai lịch, Cơ quan điều tra cũng chưa làm việc được nên tách ra tiếp tục điều tra có căn cứ sẻ xữ lý tiếp. Đối với Lâm Chí B1, quá trình điều tra có căn cứ chứng minh không liên quan trong vụ án, nên Công an không đề nghị xử lý là có căn cứ.

[5] Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn Chí L, Công an huyện T đã xử phạt hành chính theo quyết định số 67/QĐ-XPHC ngày 14 tháng 02 năm 2025 nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Vật chứng trong vụ án: 01 đoạn băng keo màu đen dùng để cuốn bịch nilon, 01 (Một) phong bì niêm phong của Phòng K Công an tỉnh S, bên trong có chứa ma túy còn lại sau giám định là chất cấm và dụng cụ để sử dụng ma túy nên cần tịch thu têu hủy. Đối với 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mang tên Nguyễn Nhật T1, sinh năm 1991; 01 chiếc xe biển kiểm soát 69E1-47387 là bị cáo mượn của bà Nguyễn Nhật T1 không liên quan đến tội phạm và quá trình điều tra, xét xử bà T1 yêu cầu nhận lại chiếc xe và giấy tờ xe nên cần trả lại chiếc xe và giấy tờ cho bà T1.

[7] Về án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban T4 về án phí và lệ phí Tòa án bị cáo L phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249; Điều 47, 48, điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Chí L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Chí L 05 (Năm) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt giữ trong trường hợp phạm tội quả tang ngày 23/12/2024.

2. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 (Một) đoạn băng keo màu đen để cuốn bịch nilon, 01 (Một) phong bì hoàn mẫu vụ số 258/2024 ngày 24/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh S. Trả lại cho bà Nguyễn Nhật T1 01 (Một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 039408, tên chủ xe Nguyễn Nhật T1, sinh năm 1991; 01 (Một) chiếc xe biển kiểm soát 69E1-473.87 (kèm chìa khoá).

Hiện trạng vật chứng như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 18 tháng 02 năm 2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời.

3. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Chí L phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND huyện Trần Văn Thời;
  • - VKSND tỉnh Cà Mau;
  • - CQ CSĐT Công an tỉnh Cà Mau;
  • - CC THADS huyện Trần Văn Thời;
  • - Phòng KTNV&THA tỉnh Cà Mau;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Văn Đen

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 18/2025/HSST ngày 04/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 18/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép ma tuý.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger