|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM KHU VỰC 4 TỈNH QUẢNG TRỊ |
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 18/2025/HS-ST
Ngày: 28 - 10 - 2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - QUẢNG TRỊ
Thành phần Hội đồng xét xử (viết tắt là HĐXX) sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuấn.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Ngọc Thành và ông Nguyễn Quang Nhã.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Quảng, Thư ký viên Tòa án nhân dân khu vực 4 – Quảng Trị.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Quảng Trị tham gia phiên tòa: Ông Ngô Đình Mười - Kiểm sát viên.
Trong ngày 28 tháng 10 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 – Quảng Trị và điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam số 02, Công an tỉnh Q. Tòa án nhân dân khu vực 4 – Quảng Trị xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 15/2025/TLST-HS ngày 10 tháng 10 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2025/QĐXXST-HS ngày 17/10/2025, đối với bị cáo:
Nguyễn Xuân S (tên gọi khác: Không), sinh ngày 15/4/2001, tại xã C, tỉnh Quảng Trị.
Nơi cư trú: Thôn M, xã C, tỉnh Quảng Trị; trình độ văn hóa: Lớp 08/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Công nhân; con ông Nguyễn Xuân N và bà Võ Thị L; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngoài lần thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy lần này chưa có lần nào vi phạm pháp luật bị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xử lý; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Trại tạm giam số 02, Công an tỉnh Q từ ngày 18/7/2025 cho đến nay, theo Lệnh trích xuất có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Phạm Thị N1, sinh năm 1986; nơi cư trú: Thôn T, xã C, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 23 giờ 05 phút, ngày 17/7/2025, Tổ công tác Công an xã L tiến hành tuần tra, kiểm soát trên địa bàn xã, khi đi đến đoạn đường gần chợ T, thuộc địa phận thôn T, tổ công tác phát hiện Nguyễn Xuân S đang điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA VISION màu trắng mang biển số đăng ký 73H1-061.34 di chuyển trên đường có biểu hiện nghi vấn. Tổ công tác đã yêu cầu Nguyễn Xuân S dừng xe để kiểm tra nhưng S tăng ga bỏ chạy. Tổ công tác đã khống chế, dừng xe mô tô 73H1-061.34 mà S đang điều khiển. Quá trình kiểm tra, tổ công tác phát hiện trong tay phải của Nguyễn Xuân S đang cầm 01 ống nhựa màu tím sọc trắng, bên trong ống nhựa có chứa 20 viên nén, hình dạng giống thuốc tân dược, màu hồng, dạng tròn, trên một mặt của mỗi viên nén đều có dòng chữ “WY”. Nguyễn Xuân S khai nhận số viên nén là ma túy loại hồng phiến, S mua về để sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng thì bị bắt quả tang. Tổ công tác tiến hành lập biên bản, tạm giữ, niêm phong tang vật xử lý theo quy định của pháp luật.
Tại bản Kết luận giám định số 822/KL – KTHS ngày 24/7/2025 của Phòng K Công an tỉnh Q kết luận: 20 viên nén màu hồng, trên mỗi mặt viên có in chữ “WY” là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 1,84g. Methaphetamine nằm trong danh mục các chất ma túy, số thứ tự 247, Danh mục IIC, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
* Việc thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu, xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tạm giữ: 01 ống nhựa màu tím sọc trắng, bên trong chứa 20 viên nén màu hồng có khối lượng 1,84g ma túy loại Methamphetamine, (sau giám định còn lại 1,6g Methamphetamine và vỏ bao gói); 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA VISION biển số đăng ký 73H1 – 061.34; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi bên trong có gắn 02 sim điện thoại.
(Tất cả có đặc điểm như biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 17/7/2025; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ và Quyết định tạm giữ tài sản, đồ vật, tài liệu ngày 18/7/2025).
Bản Cáo trạng số 01/CT-VKSND -KV4 ngày 09/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Quảng Trị truy tố bị cáo Nguyễn Xuân S về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật số 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc hội.
* Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Quảng Trị giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị HĐXX: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật số 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc hội; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân S từ 42 tháng tù đến 45 tháng tù. Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 2, các điểm a, b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu tiêu hủy một phong bì thư dán kín, bên trong có 1,6g ma tuý, loại Methamphetamine còn lại sau giám định; trả lại cho bị cáo 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA VISION, biển kiểm soát 73H1 – 061.34 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi bên trong có gắn 02 sim điện thoại.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Xuân S khai nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố, nhất trí với nội dung bản Cáo trạng và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Căn cứ vào các chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên và bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố, cơ quan Điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ Luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2]. Về cấu thành tội phạm: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Xuân S khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan Điều tra; phù hợp với nội dung biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa. HĐXX có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 23 giờ 05 phút, ngày 17/7/2025, tại đoạn đường thuộc địa phận thôn T, xã L, bị cáo Nguyễn Xuân S đã có hành vi tàng trữ trái phép 1,84 gam ma túy loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng thì bị bắt quả tang. Hành vi của bị cáo Nguyễn Xuân S trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật số 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc hội. Do đó, bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Quảng Trị và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa truy tố bị cáo Nguyễn Xuân S về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3]. Về tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo: Xét bị cáo Nguyễn Xuân S là người đã thành niên, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được pháp luật Nhà nước nghiêm cấm mọi hành vi tàng trữ ma túy và tác hại nghiêm trọng của ma túy, nhưng vì động cơ cá nhân đã tìm mua ma túy của đối tượng không rõ tên, tuổi và địa chỉ nhằm mục đích để sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt giữ. Hành vi tàng trữ trái phép 1,84 gam ma túy của bị cáo thuộc tội phạm nghiêm trọng, có khung hình phạt từ 03 đến 05 năm tù, hành vi của bị cáo không chỉ thể hiện sự coi thường pháp luật mà còn làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự trên địa bàn, là nguồn gốc của các hành vi vi phạm pháp luật khác, đặc biệt là các tệ nạn về ma túy, làm suy đồi đạo đức cũng như giống nòi, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức án đủ nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện theo đúng quy định tại khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật số 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc hội, nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo cũng như phòng ngừa chung.
[4]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
[6]. Về nhân thân: Ngoài hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy lần này chưa có lần nào vi phạm pháp luật bị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xử lý nên bị cáo có nhân thân tốt.
[7]. Về áp dụng hình phạt đối với bị cáo: Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội gây ra, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, cho thấy tuy bị cáo có nhân thân tốt, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng, mang tính chất nguy hiểm cho xã hội, tội phạm có khung hình phạt từ 03 năm tù đến 05 năm tù. Do đó, cần áp dụng Điều 38 của Bộ luật hình sự để cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian như ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là đúng mức, đảm bảo tính răn đe và phòng ngừa chung.
[8]. Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra Cơ quan điều tra có thu giữ một số vật chứng, tài sản của vụ án. Qua xem xét, HĐXX nhận định như sau:
- - Đối với là 1,6 gam ma túy, loại Methamphetamine còn lại sau giám định và vỏ bao gói. Đây là vật chứng của vụ án, thuộc vật bị Nhà nước cấm tàng trữ, do đó cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp với điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- - Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA VISION, biển kiểm soát 73H1 – 061.34. Theo các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ phản ánh, xe mô tô này đứng tên chủ sở hữu chị Phạm Thị N1, nhưng năm 2016, chị Phạm Thị N1 đã bán cho bị cáo Nguyễn Xuân S (việc mua bán không có giấy tờ, chưa làm thủ tục sang tên, đổi chủ). Xét, đây là tài sản thuộc quyền sở hữu, quản lý hợp pháp của bị cáo Nguyễn Xuân S, không sử dụng vào việc phạm tội nên cần trả lại xe mô tô trên cho bị cáo là phù hợp với các điểm a, b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- - Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi bên trong có gắn 02 sim điện thoại. Xét đây là tài sản của bị cáo Nguyễn Xuân S, không sử dụng vào việc phạm tội, không thuộc vật chứng của vụ án nên cần trả lại cho bị cáo là phù hợp với các điểm a, b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
[9]. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Xuân S phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[10]. Các vấn đề khác: Đối với đối tượng người đàn ông lạ mặt, không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể mà bị cáo Nguyễn Xuân S khai là đã bán ma túy cho bị cáo. Quá trình điều tra cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành xác minh, thu thập nhưng không đủ tài liệu, chứng cứ để xác minh nên không cơ sở để xử lý.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật số 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc hội; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015; các điểm a, c khoản 2, các điểm a, b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự; các Điều 21, 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Xuân S 03 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 18/7/2025.
- Xử lý vật chứng:
- - Tịch thu tiêu huỷ 1,6 gam ma túy, loại Methamphetamine còn lại sau giám định và vỏ bao gói.
- - Trả lại cho bị cáo Nguyễn Xuân S 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA VISION, biển kiểm soát 73H1 – 061.34 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi bên trong có gắn 02 sim điện thoại.
- (Tất cả có đặc điểm như biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 17/7/2025; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ và Quyết định tạm giữ tài sản, đồ vật, tài liệu ngày 18/7/2025).
- Án phí: Bị cáo Nguyễn Xuân S phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (28/10/2025); người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Phạm Thị N1 vắng mặt tại phiên toà, có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án, bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Quảng Trị xét xử lại theo trình tự phúc thẩm./.
Quyết định tạm giam bị cáo Nguyễn Xuân S 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 28/10/2025 để đảm bảo thi hành án (có Quyết định tạm giam riêng).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Tuấn |
Bản án số 18/2025/HS-ST ngày 28/10/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - QUẢNG TRỊ về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 18/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/10/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - QUẢNG TRỊ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử phạtu 03 năm 6 tháng tù
