Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LỤC YÊN, TỈNH YÊN BÁI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 18/2025/HS-ST

Ngày: 27-6-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC YÊN, TỈNH YÊN BÁI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Thao
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Khiếu
  • Ông Hoàng Đình Văn
  • Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Diệp Linh - Thư ký Tòa án nhân huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Yên tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Anh Huấn, ông Nguyễn Văn Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 18/2025/TLST-HS ngày 06-6-2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2025/QĐXXST-HS ngày 13-6-2025, đối với các bị cáo:

- Nông Văn T; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 14-11-1999, tại L, Yên Bái; Nơi cư trú: Thôn M, xã A, huyện L, tỉnh Yên Bái; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Tày; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Con ông: Nông Văn L, sinh năm 1977; con bà: Nông Thị T1, sinh năm 1976; Vợ là Phạm Thu T2, sinh năm 1999; có 01 con sinh năm 2022; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giam từ ngày 07-01-2025 đến ngày 03-4-2025. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt tại phiên tòa.

- Sằm Văn Đ; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 28-8-2001, tại L, Yên Bái; Nơi cư trú: Thôn N, xã A, huyện L, tỉnh Yên Bái; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Tày; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Con ông: Sằm Văn T3, sinh năm 1968; con bà: Triệu Thị H, sinh năm 1971; Vợ là Nguyễn Hoài L1, sinh năm 2005; có 01 con sinh năm 2024; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giam từ ngày 07-01-2025 đến ngày 03-4-2025. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

  • + Anh Nguyễn Đình Q, sinh năm 1993. Vắng mặt
  • Nơi cư trú: Tổ A, phường Y, thành phố Y, tỉnh Yên Bái.
  • + Anh Lã Văn D, sinh năm 1996. Vắng mặt
  • Nơi cư trú: Bản N, phường N, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên
  • + Chị Nguyễn Thị V, sinh năm 1979. Vắng mặt
  • Nơi cư trú: Khu phố Đ, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • + Bà Lê Thanh T4, sinh năm 1970. Vắng mặt
  • Nơi cư trú: Phòng số 1, số D, Trần Hưng Đ1, khóm H, phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.
  • + Chị Nguyễn Thị Hồng N, sinh năm 1993. Vắng mặt
  • Nơi cư trú: Tổ A, phường Y, thành phố Y, tỉnh Yên Bái
  • + Bà Hoàng Thị T5, sinh năm 1976
  • Nơi cư trú: Thôn M, xã A, huyện L, tỉnh Yên Bái.
  • + Chị Hoàng Thị Ngọc T6, sinh năm 1995. Vắng mặt
  • Nơi cư trú: Thôn T, xã Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình.
  • + Anh Nghiêm Văn T7, sinh năm 1996. Vắng mặt
  • Nơi cư trú: Thôn I, xã M, huyện L, tỉnh Yên Bái.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Từ cuối tháng 12-2024, qua mạng Internet Nông Văn T thấy nhiều kênh Youtube có nội dung về đổ thạch đá quý L nên thế đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản bằng cách phát livestream trên Youtube để người xem chuyển tiền vào tài khoản do T cung cấp rồi chiếm đoạt số tiền này. Để thực hiện ý định, Nông Văn T đã mua tài khoản Youtube có kênh Youtube hiển thị là “Daquylucyen21c1” với số tiền là 1.200.000 đồng. Sau đó T đi mua các viên thuỷ tinh, sử dụng các tờ hoá đơn trắng có chữ “CÔNG TY ĐÁ QUÝ LỤC YÊN” và các công cụ khác để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản. Sau khi mua được tài khoản Youtube Thế đã nói chuyện với Nghiêm Văn T7 về ý định thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của mình, T7 đã cung cấp cho T tài khoản ngân hàng M số 00957089589999 tên chủ tài khoản là “LE THANH THUY” để nhận tiền chiếm đoạt và cung cấp cho T tên miền trang website: http://billmakerting.commật khẩu đăng nhập của trang web để làm bill chuyển tiền giả. T và T7 thống nhất T7 sẽ được hưởng 20% số tiền chiếm đoạt được. Ngày 01-01-2025, Nông Văn T rủ Sằm Văn Đ cùng tham gia thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản, T sẽ cho Đ 1/3 số tiền chiếm đoạt được và Đ đồng ý. Đông có nhiệm vụ livestream trên kênh Youtube “Daquylucyen21c1” và mời rủ những người xem chuyển tiền vào số tài khoản ngân hàng M số 00957089589999 để chiếm đoạt tiền của người xem livestream chuyển đến.

Từ khoảng 11 giờ 30 phút đến 14 giờ 30 phút ngày 02-01-2025 tại thôn M, xã A, huyện L, tỉnh Yên Bái. Nông Văn T và Sằm Văn Đ đã sử dụng điện thoại di động kết nốt mạng Internet đăng nhập tài khoản Youtube với kênh hiện thị là "Daquylucyen21c1” để phát livestream. Thế đổ các viên thuỷ tinh màu xanh lên đĩa trên bàn gỗ để Đ livestream trên kênh Youtube với nội dung là đã mua được các viên đá qúy với giá là 500.000.000 đồng nhưng chưa soi giá trị từng viên và rủ người xem kênh Y online góp tiền vào để soi các viên đá quý trên. Sau khi kết thúc phiên livestream thì T và Đ sẽ mua lại các viên đá quý vừa soi với giá từ 5.000.000.000 đồng đến 6.000.000.000 đồng, người xem online góp tiền soi đá quý sẽ nhận được số tiền gấp 10 đến 12 lần số tiền đã góp. Người xem livestream muốn chuyển tiền góp soi đá quý sẽ dùng tài khoản zalo kết bạn với tài khoản zalo “Một Mí” của T, T sẽ cho số tài khoản ngân hàng M số 00957089589999 để người xem livestream chuyển tiền uý vào tài khoản này. Khi xem livestream do tin tưởng các thông tin T và Đ đưa ra nên anh Nguyễn Đình Q theo sự hướng dẫn của T đã chuyển số tiền 3.000.000 đồng, anh Lã Văn D theo sự hướng dẫn của T đã chuyển số tiền 500.000 đồng, chị Nguyễn Thị V theo sự hướng dẫn của T đã đã chuyển cho T số tiền 4.500.000 đồng cùng vào số tài khoản ngân hàng M số 00957089589999 mà T cung cấp. Để tạo lòng tin cho những người đã chuyển tiền và người xem livestream, T đã tạo các mã chuyển tiền giả với nội dung đã chuyển tiền cho những người góp tiền soi đá quý với số tiền gấp 10 đến 12 lần số tiền họ đã góp. Khi người chuyển tiền góp nhắn tin zalo chưa nhận được tiền thì T lấy lý do ngân hàng chuyển chậm, lỗi ngân hàng. T và Đ tiếp tục livestream đến khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày thì tắt livestream và không chuyển tiền cho những người góp tiền như đã cam kết.

Tại cơ quan điều tra, các bị cáo đề thừa nhận toàn bộ hành vi như đã nêu trên.

Theo kết quả kiểm định của Công ty K kết luận: Những viên tinh thể màu xanh do Nông Văn T tự nguyện giao nộp ngày 02/01/2025 là 202 viên thuỷ tinh không rõ hình dạng, nặng khoảng 0,58 kg có giá trị khoảng 200.000 đồng.

Cáo trạng số: 26/CT-VKS-P2 ngày 04-6-2025của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Yên Bái truy tố các bị cáo Nông Văn T, Sằm Văn Đ về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Yên giữ nguyên quan điểm truy tố như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • + Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nông Văn T, Sằm Văn Đ phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”
  • + Về hình phạt:

Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm b,i,s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nông Văn T từ 09 tháng đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách theo quy định.

Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm b,i,s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Sằm Văn Đ từ 06 tháng đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách theo quy định.

+ Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, khoản 1,2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

  • - Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone XS mặt sau màu đen bị nứt vỡ có số máy NTAG2LL/A; 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone 14 ProMax mặt ốp lưng màu tím có số mày MQ8W3LL/A đã cũ; 01 bộ máy tính gồm: cây máy tính màu đen ghi nhãn hiệu Dell, màn hình máy tính, chuột và bàn phím cùng màu đen đã qua sử dụng.
  • - Tịch thu, tiêu huỷ: 01 mảnh sứ đã vỡ; 01 một phong bì niêm phong bên trong có 202 viên thuỷ tinh nấu; 02 giá để điện thoại di động màu đen đã cũ; 01 bàn xoay màu trắng hình vuông có các cạnh dài khoảng 10cm trên mặt có gắn đĩa nhựa đường kính khoảng 8cm đã cũ; 01 kéo màu xanh; 01 đèn đứng cao khoảng 1,6 mét, màu đen đã cũ; 01 đèn pin hình trụ dài khoảng 12cm đã cũ.
  • + Về trách nhiệm dân sự: Buộc các bị cáo phải trả lại số tiền đã chiếm đoạt cho các bị hại.
  • + Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình và không có tranh luận gì. Các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Y, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Yên Bái, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Do đó, đã đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ 11 giờ 30 phút đến 14 giờ 30 phút ngày 02-01-2025 tại thôn M, xã A, huyện L, tỉnh Yên Bái. Nông Văn T và Sằm Văn Đ đã có hành vi phát livestream trên kênh Youtube "Daquylucyen21c1” rồi đưa ra thông tin gian dối để những người xem livestream góp tiền để soi các viên đá quý thực chất là các viên thuỷ tinh được các bị cáo sử dụng. Sau khi nhận được tiền của người xem livestream chuyển vào tài khoản ngân hàng, các bị cáo đã tắt livestream chiếm đoạt số tiền chuyển đến. Bằng thủ đoạn trên T vào Đ đã chiếm đoạt của anh Nguyễn Đình Q số tiền 3.000.000 đồng, chiếm đoạt của anh Lã Văn D số tiền là 500.000 đồng, chiếm đoạt của chị Nguyễn Thị V số tiền là 4.500.000 đồng. Tổng số tiền các bị cáo đã chiếm đoạt được là 8.000.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, bị cáo Nông Văn Thế L2 người khởi xướng và cũng là người thực hành cùng bị cáo Sằm Văn Đ trực tiếp thực hiện tội phạm. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ; gây mất trật tự, an toàn và trị an cho xã hội. Do đó cần phải đưa các bị cáo ra xử lý trước pháp luật.

[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng. Các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; các bị cáo đã bồi thường, khắc phụ hậu quả nên xem xét cho các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản b,i,s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nên xét thấy không cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà có thể áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho các bị cáo được hưởng án treo, tạo điều kiện cho bị cáo rèn luyện, giáo dục tại cộng đồng, thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.

[5] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[6] Về các những hành vi và người liên quan khác:

  • - Đối với Nghiêm Văn T7 là đối tượng mà Nông Văn T khai đã giao số tài khoản ngân hàng cho T dùng để thực hiện tội phạm và cùng được hưởng lợi số tiền chiếm đoạt được. Tuy nhiên Nghiêm Văn T7 hiện vắng mặt tại địa phương, không xác định được ở đâu nên chưa có cơ sở điều tra làm rõ. Do đó cần kiến nghị cơ quan điều tra tiếp tục điều tra làm rõ vai trò đồng phạm của Nghiêm Văn T7 về hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” cùng các bị cáo Nông Văn T, Săm Văn Đ2.
  • - Đối với chị Lê Thanh T4 là người có tên đăng ký của số tài khoản MB bank số M tuy nhiên chị T4 khai nhận không đăng ký, sử dụng số tài khoản ngân hàng trên, chị T4 cũng không quen biết các bị cáo, không biết việc các bị cáo dùng số tài khoản có đăng ký tên mình để thực hiện tội phạm nên cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với chị T4 là phù hợp.
  • - Đối với bà Hoàng Thị T5 là người đã cho bị cáo Nông Văn T mượn, sử dụng một số đồ vật, tài sản tuy nhiên bà T5 không biết các bị cáo sử dụng các tài sản, đồ vật của mình để thực hiện tội phạm nên cơ quan điều tra không đê cập xử lý đối với bà T5 là phù hợp.
  • - Quá trình điều tra xác định ngày 02-01-2025, chị Hoàng Thị Ngọc Tó có chuyển số tiền 3.000.000 đồng đến số tài khoản ngân hàng M số 00957089589999. Tuy nhiên chị T6 khai nhận chuyển tiền hộ anh Đoàn Thanh H1 và không biết anh H1 chuyển tiền mục đích để làm gì. Hiện anh H1 không có mặt tại địa phương nên không có căn cứ làm rõ trách nhiệm hình sự của các bị cáo về số tiền 3.000.000 đồng.

[7] Về trách nhiệm dân sự:

  • - Các bị hại yêu cầu các bị cáo trả lại số tiền đã chiếm đoạt. Bị cáo Nông Văn T và Sằm Văn Đ đồng ý mỗi người có trách nhệm trả ½ số tiền chiếm đoạt được cho các bị hại. Mỗi bị cáo đã nộp 4.000.000 đồng tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Yên để bồi thường cho các bị hại. Xét thấy tổng số tiền các bị cáo tự nguyện nộp để bồi thường bằng tổng số tiền các bị cáo đã chiếm đoạt, do đó cần trả số tiền này cho các bị hại tương ứng với số tiền mỗi bị hại bị chiếm đoạt.
  • - Đối với chị Hoàng Thị Ngọc T6 là người đã chuyển số tiền 3.000.000 đồng vào số tài khoản M số 00957089589999. Chị T6 xác định là tiền chuyển hộ anh Đoàn Thanh H1 và không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử khỏng xem xét.
  • - Đối với chị Nguyễn Thị Hồng N là người đã chuyển 3.000.000 đồng đến số tài khoản ngân hàng M số 00957089589999, qua điều tra xác định chị N chuyển tiền hộ anh Nguyễn Đình Q và anh Q đã trả lại số tiền trên cho chị N. Chị N không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] về vật chứng:

  • - Đối với 05 nhẫn kim loại màu vàng có gắn tinh thể màu đỏ trên mỗi nhẫn; 01 model VNPT màu đen; 01 model màu trắng; 01 búa đinh cán gỗ dài khoảng 25cm, đầu búa dài khoảng 10cm đã cũ; 01 bàn gấp đã cũ là các tài sản sở hữu hợp pháp của bà Hoàng Thị T5, bà T5 không biết các bị cáo sử dụng để thực hiện tội phạm nên cơ quan điều tra đã trả lại cho bà T5 là phù hợp.
  • - Đối với 09 mảnh giấy màu xanh lá cây gồm nhiều kích cỡ khác nhau, một mặt có ghi chữ và số tự nhiên; 15 hoá đơn bán hàng có chứ “CÔNG TY ĐÁ QUÝ LỤC YÊN” là các tài liệu có vai trò để chứng minh tội phạm nên cơ quan điều tra lưu theo hồ sơ vụ án là phù hợp.
  • - Đối với 01 mảnh sứ đã vỡ; 01 một phong bì niêm phong bên trong có 202 viên thuỷ tinh nấu; 02 giá để điện thoại di động màu đen đã cũ; 01 bàn xoay màu trắng hình vuông có các cạnh dài khoảng 10cm trên mặt có gắn đĩa nhựa đường kính khoảng 8cm đã cũ; 01 kéo màu xanh; 01 đèn đứng cao khoảng 1,6 mét, màu đen đã cũ; 01 đèn pin hình trụ dài khoảng 12cm đã cũ. Xét thấy đây là công cụ, phương tiện phạm tội nên cần tịch thu, tiêu huỷ.
  • - Đối với 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone XS mặt sau màu đen bị nứt vỡ có số máy NTAG2LL/A; 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone 14 ProMax mặt ốp lưng màu tím có số mày MQ8W3LL/A đã cũ; 01 bộ máy tính gồm: cây máy tính màu đen ghi nhãn hiệu Dell, màn hình máy tính, chuột và bàn phím cùng màu đen đã qua sử dụng. Xét thấy đây là phương tiện, công cụ phạm tội nên cần tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.

[9] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nông Văn T, Sằm Văn Đ phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
  2. Về hình phạt:
    1. Căn cứ khoản 1 Điều 174; điểm b,i,s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 65 Bộ luật hình sự.

      Xử phạt bị cáo Nông Văn T: 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

      Trong thời gian thử thách, giao bị cáo Nông Văn T cho UBND xã A, huyện L, tỉnh Yên Bái giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

      Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

    2. Căn cứ khoản 1 Điều 174; điểm b,i,s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 65 Bộ luật hình sự.

      Xử phạt bị cáo Sằm Văn Đ: 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

      Trong thời gian thử thách, giao bị cáo Sằm Văn Đ cho UBND xã A, huyện L, tỉnh Yên Bái giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

      Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

  3. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự.
    • - Anh Nguyễn Đình Q được nhận số tiền là 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng) trong số tiền 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng) mà ông Sằm Văn T3 đã nộp thay bị cáo Sằm Văn Đ theo biên lai thu tiền số: AA/2023/0001710 ngày 18-6-2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái.
    • - Anh Lã Văn D được nhận số tiền là 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) trong số tiền 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng) mà ông Sằm Văn T3 đã nộp thay bị cáo Sằm Văn Đ theo biên lai thu tiền số: AA/2023/0001710 ngày 18-6-2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái.
    • - Chị Nguyễn Thị V được nhận số tiền là 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) trong số tiền 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng) mà ông Sằm Văn T3 đã nộp thay bị cáo Sằm Văn Đ theo biên lai thu tiền số: AA/2023/0001710 ngày 18-6-2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái.
    • - Chị Nguyễn Thị V được nhận số tiền là 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng) mà ông Nông Văn L đã nộp thay bị cáo Nông Văn T theo biên lai thu tiền số: AA/2023/0001709 ngày 18-6-2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái.
  4. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
    • - Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone XS mặt sau màu đen bị nứt vỡ có số máy NTAG2LL/A; 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone 14 ProMax mặt ốp lưng màu tím có số máy MQ8W3LL/A đã cũ; 01 bộ máy tính gồm: cây máy tính màu đen ghi nhãn hiệu Dell, màn hình máy tính, chuột và bàn phím cùng màu đen đã qua sử dụng.
    • - Tịch thu, tiêu huỷ: 01 mảnh sứ đã vỡ; 01 một phong bì niêm phong bên trong có 202 viên thuỷ tinh nấu; 02 giá để điện thoại di động màu đen đã cũ; 01 bàn xoay màu trắng hình vuông có các cạnh dài khoảng 10cm trên mặt có gắn đĩa nhựa đường kính khoảng 8cm đã cũ; 01 kéo màu xanh; 01 đèn đứng cao khoảng 1,6 mét, màu đen đã cũ; 01 đèn pin hình trụ dài khoảng 12cm đã cũ.
    • (Các vật chứng có đặc điểm, dấu hiệu được mô tả tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 24-6-2025 giữa cơ quan điều tra Công an tỉnh Y và Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái)
    • - Lưu hồ sơ vụ án: 09 mảnh giấy màu xanh lá cây gồm nhiều kích cỡ khác nhau, một mặt có ghi chữ và số tự nhiên; 15 hoá đơn bán hàng có chữ “CÔNG TY ĐÁ QUÝ LỤC YÊN”.
  5. Kiến nghị cơ quan điều tra tiếp tục điều tra làm rõ vai trò đồng phạm của Nghiêm Văn T7 về hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
  6. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, khoản 1 điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

    Buộc các bị cáo Nông Văn T, Sằm Văn Đ mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

  7. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

    Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7,7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Yên Bái;
  • - VKSND tỉnh Yên Bái,
  • - VKSND huyện Lục Yên;
  • - CCTHADS huyện Lục Yên;
  • - P.HSNV CA tỉnh;
  • - Bị cáo; bị hại;
  • - Lưu HS, TA.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Ngọc Thao

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 18/2025/HS-ST ngày 27/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC YÊN, TỈNH YÊN BÁI về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (vụ án hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 18/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Vụ án Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC YÊN, TỈNH YÊN BÁI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger