Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂN KỲ

TỈNH NGHỆ AN

Bản án số: 18/2025/HS-ST

Ngày: 26/3/2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN KỲ - TỈNH NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng sơ thẩm xét xử gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hương

Các Hội thẩm nhân dân.

Bà: Vũ Thị Thanh Hương.

Ông: Thái Văn Sửu.

Thư ký phiên toà: bà Nguyễn Thị Hà Linh. Thư ký Toà án nhân dân huyện Tân Kỳ.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Kỳ tham gia phiên tòa: bà Trần Thị Hòe - Kiểm sát viên.

Trong ngày 26 tháng 3 năm 2025, tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 17/2025/HSST ngày 26/2/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2025/QĐXXST-HS ngày 12/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An, đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Nguyễn Việt D; tên gọi khác: Không; sinh ngày 16 tháng 10 năm 1991; tại huyện T, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Xóm C, xã H, huyện T, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông: Nguyễn Văn H, sinh năm: 1961 và bà: Lê Thị Q, sinh năm: 1962; vợ: Phan Thị X, sinh năm: 1991; con: có 02 con, lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị tạm giữ tại Nhà tạm giữ Công an huyện T từ ngày 06/01/2025 đến ngày 15/01/2025. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 15/01/2025 đến ngày 15/3/2025; có mặt tại phiên tòa.

  2. Họ và tên: Phan Văn B; tên gọi khác: Không; sinh ngày 19 tháng 9 năm 1978; tại huyện T, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Xóm X, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An; trình độ học vấn: 08/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông: Phan Văn B1, sinh năm: 1951 và bà: Lê Thị T, sinh năm: 1952; vợ: Nguyễn Thị K, sinh năm: 1985; con: có 04 con, lớn nhất sinh năm 2017, nhỏ nhất sinh năm 2021; tiền án, Tiền sự: Không.

    Bị cáo bị tạm giữ tại Nhà tạm giữ Công an huyện T từ ngày 06/01/2025 đến ngày 15/01/2025. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 15/01/2025 đến ngày 15/3/2025; có mặt tại phiên tòa.

  3. Họ và tên: Hoàng Văn C; tên gọi khác: Không; sinh ngày 15 tháng 11 năm 1972; tại huyện T, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: T, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An; trình độ học vấn: 06/12; nghề nghiệp: Lái xe; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông: Hoàng Văn T1, (Đã chết) và bà: Nguyễn Thị T2, sinh năm: 1944; vợ: Thái Thị Q1, sinh năm: 1974; con: có 03 con, lớn nhất sinh năm 1997, nhỏ nhất sinh năm 2005; Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T từ từ ngày 06/01/2025 đến ngày 15/01/2025. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 15/01/2025 đến ngày 15/3/2025; có mặt tại phiên tòa.

  4. Họ và tên: Lê Văn T3; tên gọi khác: Không; sinh ngày 16 tháng 4 năm 1976, tại huyện T, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Xóm T, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông: Lê Văn T4 (Đã chết) và bà: Đặng Thị L, sinh năm: 1942; vợ: Trần Thị L1, sinh năm: 1977; con: có 03 con, lớn nhất sinh năm 2000, nhỏ nhất sinh năm 2008; tiền án, Tiền sự: Không.

    Bị cáo bị tạm giữ tại Nhà tạm giữ Công an huyện T từ ngày 06/01/2025 đến ngày 15/01/2025. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 15/01/2025 đến ngày 15/3/2025; có mặt tại phiên tòa.

  5. Họ và tên: Hoàng Minh H1; tên gọi khác: Không; sinh ngày 04 tháng 02 năm 1985, tại huyện T, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Xóm T, xã T, huyện T tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông: Hoàng Minh L2, sinh năm: 1940 và bà: Đào Thị N (Đã chết); vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không.

    Nhân thân: Ngày 07/3/2007 Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xử phạt 06 năm tù tại bản án số 38/2007/HSST, về tội “Cố ý gây thương tích”. Đã chấp hành xong hình phạt, đến nay đã được xóa án tích.

    Bị cáo bị tạm giữ tại Nhà tạm giữ Công an huyện T từ ngày 06/01/2025 đến ngày 15/01/2025. Hiện Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 15/01/2025 đến ngày 15/3/2025; có mặt tại phiên tòa.

  6. Họ và tên: Thái Doãn C1; tên gọi khác: Không; sinh ngày 01 tháng 8 năm 1994; tại huyện T, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Xóm T, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông: Thái Doãn V, sinh năm: 1969 và bà: Thái Thị C2, sinh năm: 1974; vợ: Diệu Thị Khánh Q2; con: Có 03 con, lớn nhất sinh năm 2013, nhỏ nhất sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị tạm giữ tại Nhà tạm giữ Công an huyện T từ ngày 06/01/2025 đến ngày 15/01/2025. Hiện Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 15/01/2025 đến ngày 15/3/2025; có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông: Nguyễn Minh L3, sinh năm: 1978; trú tại xóm T, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 13 giờ 00 phút, ngày 06 tháng 01 năm 2025, sau khi ăn uống xong thì Nguyễn Việt D, Phan Văn B, Hoàng Văn C, Lê Văn T3 và Hoàng Minh H1 cùng rủ nhau lên gác xếp phía trên buồng lồi nhà anh Nguyễn Minh L3, trú tại xóm T, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An, để tham gia đánh bạc bằng hình thức đánh bài chương. Khi lên, thấy tại gác xếp đã có sẵn một bộ bài tú lơ khơ gồm 52 quân nên Phan Văn B đã lọc ra 36 quân bài từ “A” đến “9” để cùng với Nguyễn Việt D, Hoàng Văn C, Lê Văn T3, Hoàng Minh H1 tham gia đánh bạc bằng hình thức đánh bài chương, đặt cược mỗi ván 50.000 đồng (Năm mươi nghìn đồng), ai được 10 điểm thì nhân đôi số tiền cược và được cầm cái, so điểm thắng, thua với những người còn lại. Đến khoảng 15 giờ 00 phút cùng ngày, trong khi các đối tượng đang tham gia đánh bạc thì có Thái Doãn C1 đến xem. Lúc này do Hoàng Minh H1 có công việc nên nghỉ không chơi nữa. Thấy khi ra về Hoàng Minh H1 đang có số tiền 2.250.000 đồng (Hai triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) nên Thái Doãn C1 vay của Hoàng Minh H1 số tiền 450.000 đồng (Bốn trăm năm mươi nghìn đồng) và vào thay thế vị trí của Hoàng Minh H1 để tham gia đánh bạc cùng với những người còn lại. Trước khi tham gia đánh bạc, Nguyễn Việt D mang theo số tiền 1.200.000 đồng (Một triệu hai trăm nghìn đồng) và sử dụng toàn bộ số tiền mang theo để tham gia đánh bạc. Phan Văn B mang theo số tiền 1.200.000 đồng (Một triệu hai trăm nghìn đồng) sử dụng toàn bộ số tiền mang theo để tham gia đánh bạc. Hoàng Văn C mang theo số tiền 1.150.000 đồng (Một triệu một trăm năm mươi nghìn đồng) và sử dụng toàn bộ số tiền mang theo để tham gia đánh bạc. Lê Văn T3 mang theo số tiền 1.200.000 đồng (Một triệu hai trăm nghìn đồng) và sử dụng toàn bộ số tiền mang theo để tham gia đánh bạc. Hoàng Minh H1 mang theo số tiền 1.400.000 đồng (Một triệu bốn trăm nghìn đồng) và sử dụng toàn bộ số tiền mang theo để tham gia đánh bạc. Thái Doãn C1 mang theo số tiền 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng), vay thêm của Hoàng Minh H1 số tiền 450.000 đồng (Bốn trăm năm mươi nghìn đồng) và sử dụng tổng số tiền 950.000 đồng (Chín trăm năm mươi nghìn đồng) để tham gia đánh bạc.

Đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, khi Nguyễn Việt D, Phan Văn B, Hoàng Văn C, Lê Văn T3, Thái Doãn C1 đang tham gia đánh bạc thì bị lực lượng Công an huyện T phát hiện, bắt quả tang. Quá trình bắt quả tang, lực lượng Công an đã thu giữ tổng số tiền 5.300.000 đồng (Năm triệu ba trăm nghìn đồng), thu các tang vật liên quan và đưa về trụ sở để làm việc.

Đến 19 giờ 10 phút cùng ngày, nhận thức được hành vi phạm tội của mình, Hoàng Minh H1 đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Nghệ An để đầu thú, đồng thời tự nguyện giao nộp số tiền liên quan đến hành vi đánh bạc là 1.800.000 đồng (Một triệu tám trăm nghìn đồng) cho Cơ quan điều tra để điều tra làm rõ.

Cáo trạng số: 19/CT-VKSTK ngày 24 tháng 2 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Kỳ truy tố các bị cáo Nguyễn Việt D, Phan Văn B, Hoàng Văn C, Lê Văn T3, Hoàng Minh H1 và Thái Doãn C1, về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

Các bị cáo Nguyễn Việt D, Phan Văn B, Hoàng Văn C, Lê Văn T3, Hoàng Minh H1 và Thái Doãn C1 thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An giữ nguyên nội dung cáo trạng, tội danh và điều luật áp dụng và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng: Khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 36 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: + Bị cáo Phan Văn B, Nguyễn Việt D, Lê Văn T3, Hoàng Văn C mỗi bị cáo từ 12 đến 15 tháng cải tạo không giam giữ, được trừ 9 ngày tạm giữ Từ ngày 6/01/2025 đến ngày 15/01/2025) bằng 27 ngày cải tạo không giam giữ.

+ Bị cáo Thái Doãn C1 từ 11 đến 14 tháng cải tạo không giam giữ, được trừ 9 ngày tạm giữ Từ ngày 6/01/2025 đến ngày 15/01/2025) bằng 27 ngày cải tạo không giam giữ.

- Áp dụng: Khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Hoàng Minh H1 mức án từ 8 đến 11 tháng tù cho hưởng án treo, thử thách từ 16 đến 22 tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 26/3/2025).

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 BLTTHS, sung công quỹ Nhà nước số tiền: 7.100.000 đồng (Bảy triệu một trăm nghìn đồng).

Tiêu hủy: 01 bộ bài tu lơ khơ gồm 36 quân bài từ “A” đến “9”.

Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Phần tranh luận: Các bị cáo không tranh luận gì với quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát. Các bị cáo có lời nói sau cùng: bị cáo bị truy tố và xét xử về tội “Đánh bạc” là đúng người, đúng tội, bị cáo thật sự rất hối hận về hành vi phạm tội của mình, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tân Kỳ, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS). Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Hội đồng xét xử xét thấy các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.

[2] Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, các bị cáo Nguyễn Việt D, Phan Văn B, Hoàng Văn C, Lê Văn T3, Hoàng Minh H1 và Thái Doãn C1 đã khai nhận hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện, đúng như nội dung của bản cáo trạng đã nêu và quy kết, không có khai nại gì khác. Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm pháp quả tang, phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy đã có đầy đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 15 giờ 30 phút ngày 06/01/2024 tại nhà của Nguyễn Minh L3, thuộc xóm T, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An lực lượng Công an huyện T đã phát hiện và bắt quả tang các bị cáo Nguyễn Việt D, Phan Văn B, Hoàng Văn C, Lê Văn T3, Hoàng Minh H1 và Thái Doãn C1 đang đánh bạc bằng hình thức “Chương”. Thu giữ 36 quân bài tú-lơ-khơ và số tiền 7.100.000 đồng (Bảy triệu một trăm nghìn đồng). Trong đó: Nguyễn Việt D sử dụng số tiền 1.200.000 đồng (Một triệu hai trăm nghìn đồng) để đánh bạc; Phan Văn B sử dụng số tiền 1.200.000đ (Một triệu hai trăm nghìn đồng) để đánh bạc; Hoàng Văn C sử dụng số tiền 1.150.000 đồng (Một triệu một trăm năm mươi nghìn đồng) để đánh bạc; Lê Văn T3 sử dụng số tiền 1.200.000 đồng (Một triệu hai trăm nghìn đồng) để đánh bạc. Hoàng Minh H1 sử dụng số tiền 1.400.000 đồng (Một triệu bốn trăm nghìn đồng) để đánh bạc. Thái Doãn C1 sử dụng tổng số tiền 950.000 đồng (Chín trăm năm mươi nghìn đồng) để đánh bạc.

Như vậy hành vi đánh bạc của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Kỳ truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo Nguyễn Việt D, Phan Văn B, Hoàng Văn C, Lê Văn T3 và Thái Doãn C1 đều phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, vì vậy các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo Hoàng Minh H1 quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi phạm tội đã ra đầu thú về hành vi của mình, vì vậy bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4] Xét tính chất, vai trò và nhân thân của các bị cáo trong vụ án thì thấy rằng: Vụ án có tính chất ít nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, làm ảnh hưởng xấu đến cuộc sống chung của nhiều gia đình và các hoạt động bình thường của xã hội, làm cho quần chúng nhân dân bức xúc, lo lắng trước tệ nạn này và là một trong những nguyên nhân gây nên một số loại tội phạm khác. Khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo nhận thức được việc đánh bạc bằng hình thức đánh bài thắng thua bằng tiền nhằm thu lợi bất chính là vi phạm pháp luật và bị pháp luật trừng trị, nhưng chỉ vì động cơ, mục đích hám lợi và có thái độ coi thường pháp luật, nên bị cáo vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội. Để đấu tranh, ngăn chặn tệ nạn cờ bạc trong xã hội, giữ gìn trật tự công cộng, cần có đường lối xử phạt nghiêm minh, tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện.

Trong vụ án này, các bị cáo khi thực hiện hành vi phạm tội không có sự bàn bạc, tổ chức, cấu kết chặt chẽ nên vụ án mang tính chất đồng phạm giản đơn.

Phân hóa vai trò trong vụ án: Các bị cáo Nguyễn Việt D, Phan Văn B, Hoàng Văn C, Lê Văn T3, đều tham gia đánh bạc từ đầu và sử dụng số tiền đánh bạc tương đương nhau nên có mức án tương đương nhau. Bị cáo Thái Doãn C1 vào tham gia đánh bạc sau, bị cáo sử dụng số tiền ít nhất nên mức án của bị cáo C1 thấp nhất trong các bị cáo. Xét thấy các bị cáo phạm tội lần đầu, ít nghiêm trọng, các bị cáo đều có nơi cư trú ổn định rõ ràng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự vì vậy áp dụng Điều 36 Bộ luật hình sự cho các bị cáo hưởng hình phạt cải tạo không giam giữ như đề nghị của Viện kiểm sát cũng đủ nghiêm.

Xét thấy các bị cáo có thu nhập thấp từ nghề lao động tự do nên miễn khấu trừ thu nhập cho các bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ.

Bị cáo Hoàng Minh H1 có nhân thân xấu vì vậy mức án của bị cáo H1 sẽ cao nhất, nhưng xét thấy bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, có 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 và 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo có nơi cư trú ổn định rõ ràng. Căn cứ nghị Quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022; Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo hưởng hình phạt tù cho hưởng án treo như đề nghị của Viện kiểm sát cũng đủ nghiêm.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 321 của Bộ luật hình sự, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền, nhưng xét thấy qua kết quả xác minh tài sản, các bị cáo không có tài sản nào được tạo lập từ việc phạm tội, thu nhập thấp, nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[6] Về vật chứng: Số tiền: 7.100.000 đồng (Bảy triệu một trăm nghình đồng), là số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc vì vậy áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 BLTTHS, sung công quỹ Nhà nước.

Tiêu hủy: 36 quân bài từ “A” đến “9”.

[7] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Việt D, Phan Văn B, Hoàng Văn C, Lê Văn T3, Hoàng Minh H1 và Thái Doãn C1 phạm tội “Đánh bạc”.

    - Áp dụng: Khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 36 Bộ luật hình sự.

    Xử phạt: + Bị cáo Phan Văn B 12 (Mười hai) tháng cải tạo không giam giữ, được trừ 9 ngày tạm giữ (từ ngày 6/01/2025 đến ngày 15/01/2025) bằng 27 ngày cải tạo không giam giữ. Buộc bị cáo còn phải chấp hành 11 tháng 3 ngày cải tạo không giam giữ.

    + Bị cáo Nguyễn Việt D 12 (Mười hai) tháng cải tạo không giam giữ, được trừ 9 ngày tạm giữ (từ ngày 6/01/2025 đến ngày 15/01/2025) bằng 27 ngày cải tạo không giam giữ. Buộc bị cáo còn phải chấp hành 11 tháng 3 ngày cải tạo không giam giữ.

    + Bị cáo Lê Văn T3 12 (Mười hai) tháng cải tạo không giam giữ, được trừ 9 ngày tạm giữ (từ ngày 6/01/2025 đến ngày 15/01/2025) bằng 27 ngày cải tạo không giam giữ. Buộc bị cáo còn phải chấp hành 11 tháng 3 ngày cải tạo không giam giữ.

    + Bị cáo Hoàng Văn C 12 (Mười hai) tháng cải tạo không giam giữ, được trừ 9 ngày tạm giữ (từ ngày 6/01/2025 đến ngày 15/01/2025) bằng 27 ngày cải tạo không giam giữ. Buộc bị cáo còn phải chấp hành 11 tháng 3 ngày cải tạo không giam giữ.

    + Bị cáo Thái Doãn C1 11 (Mười một) tháng cải tạo không giam giữ, được trừ 9 ngày tạm giữ (từ ngày 6/01/2025 đến ngày 15/01/2025) bằng 27 ngày cải tạo không giam giữ. Buộc bị cáo còn phải chấp hành 10 tháng 3 ngày cải tạo không giam giữ.

    Miễn khấu trừ thu nhập cho các bị cáo.

    Giao các bị cáo các bị cáo Nguyễn Việt D cho UBND xã H, huyện T, tỉnh Nghệ An; bị cáo Phan Văn B cho UBND xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An; các bị cáo Hoàng Văn C, Lê Văn T3, Thái Doãn C1 cho UBND xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian các bị cáo chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Thời gian cải tạo không giam giữ của các bị cáo được tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản án. Trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì việc giám sát bị cáo thực hiện theo Điều 100 Luật thi hành án hình sự.

    - Áp dụng: Khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 65 Bộ luật hình sự.

    Xử phạt: Bị cáo Hoàng Minh H1 8 (Tám) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 16 (Mười sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 26/3/2025).

    Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

    Giao bị cáo Hoàng Minh H1 về cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An, quản lý giáo dục trong thời gian thử thách, gia đình bị cáo có trách nhiệm với địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

    Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự năm 2019. Trong thời gian thử thách các bị cáo được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo quy định tại khoản 5 điều 65 bộ luật hình sự.

  2. Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 BLTTHS, sung công quỹ Nhà nước số tiền: 7.100.000 đồng (Bảy triệu một trăm nghình đồng). Số tiền đang được tạm gửi tại Kho bạc Nhà nước huyện T, theo biên bản giao nhận tài sản số 10.01/2025/BBBG-KBTK lập ngày 10/01/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T với Kho bạc Nhà nước huyện T, tỉnh Nghệ An.

    Tiêu hủy: 01 bộ bài tu lơ khơ gồm 36 quân bài từ “A” đến “9”, có mặt lưng có các lá bài in hoa văn màu xanh, vàng trên nền màu trắng.

    Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 26 tháng 2 năm 2025 giữa Công an huyện T và Chi cục thi hành án huyện Tân Kỳ.

  3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án, buộc các bị cáo Nguyễn Việt D, Phan Văn B, Hoàng Văn C, Lê Văn T3, Hoàng Minh H1 và Thái Doãn C1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Nghệ An;
  • - Sở Tư pháp;
  • - Công an huyện Tân Kỳ;
  • - VKSND huyện Tân Kỳ;
  • - Chi cục THADS Tân Kỳ;
  • - Bị cáo;
  • - UBND xã nơi BC cư trú;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;

T.M/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thu Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 18/2025/HS-ST ngày 26/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN KỲ - TỈNH NGHỆ AN về vụ án hình sự về tội "đánh bạc"

  • Số bản án: 18/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội "Đánh bạc"
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN KỲ - TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đánh bạc
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger