Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2025/HS-ST

Ngày 24 - 03 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Thân Thị Quyên
  2. Bà Vũ Thị Lệ

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình tham gia phiên tòa: Bà Lý Thị Tuyết - Chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 03 năm 2025, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 29/2025/TLST-HS, ngày 07 tháng 03 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2025/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 03 năm 2025, đối với bị cáo:

Họ và tên: HOÀNG VĂN B (Tên gọi khác: Không), S năm 1977

Nơi thường trú: Xóm L, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 10/12; Dân tộc: Nùng; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hoàng Văn M, sinh năm 1951 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1949; Gia đình có 05 anh, chị, em, bị cáo là con thứ năm trong gia đình; Có vợ: Hà Thị L, sinh năm 1983; Có 03 con, con lớn sinh năm 2002, con nhỏ sinh năm 2014;

Tiền án: Không có.

Tiền sự: 01 - Ngày 07/01/2024 UBND huyện P ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền, mức phạt 15.000.000 đồng về hành vi "Làm chủ lô, đề", đã nộp phạt ngày 11/01/2024.

Nhân thân: Ngày 29/01/2016, TAND huyện Phú Bình xủ phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội "đánh bạc".

Bị cáo không bị bắt tạm giữ, tạm giam. Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại tại địa phương.

(Có mặt tại phiên tòa)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Đoàn Văn V, sinh năm 1976
  2. Nơi thường trú: Xóm N, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên

    (Vắng mặt – Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

  3. Anh Ngọ Văn H, sinh năm 1991
  4. Nơi thường trú: Xóm N, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên

    (Vắng mặt – Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hoàng Văn B và Đoàn Văn V có mối quan hệ bạn bè, V biết B đã từng có hành vi làm chủ lô, đề nên chiều ngày 23/12/2024 V nảy sinh ý định mua số đề của B. Khoảng 17 giờ 00 phút cùng ngày, V lấy bút ghi ra một vỏ phong bì 16 (mười sáu) số đề cụ thể là: 20, 21, 22, 23, 24, 25, 27, 28, 90, 91, 92, 93, 94, 95, 97, 98 nhân (x) giá 50.000 đồng/1 số (Năm mươi nghìn đồng trên một số đề) tổng là 800.000 đồng. Đến khoảng 17 giờ 34 phút cùng ngày, V dùng điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy Note 9 của mình chụp ảnh tờ giấy ghi 16 số đề nêu trên rồi kết nối mạng Internet, truy cập vào mạng xã hội Zalo tên "Đoàn Văn V" gửi hình ảnh nêu trên đến tài khoản zalo "H" (Vịnh lưu tên B trong danh bạ là "bình lá. lẻ") cho B. B nhận được tin nhắn, hiểu ý là V muốn mua các số đề trên nên đã thả 3 trái tim vào ảnh của V để xác nhận đã nhận bán các số đề trên cho V. Ngay lúc đó, V gửi tiếp cho B 01 ảnh chụp dãy 30 số đề gồm các số: 35, 36, 37, 38, 39, 45, 46, 47, 48, 49, 56, 57, 58, 59, 65, 67, 68, 69, 75, 76, 78, 79, 85, 86, 87, 89, 95, 96, 97, 98 x giá 20.000 đồng/1 số (Hai mươi nghìn đồng trên một số) để mua các số đề này. Sau khi gửi hai ảnh có nội dung như trên,V gọi qua zalo cho B để xác nhận nhưng B không nghe máy, V ngầm hiểu là B chỉ thả tim và xác nhận đã nhận bán 16 số đề ở ảnh thứ nhất, không nhận bán 30 số đề ở ảnh thứ hai. Đến 18 giờ 30 phút cùng ngày, V và B so sánh 16 số đề nêu trên với hai số cuối của giải đặc biệt xổ số kiến thiết miền Bắc mở thưởng cùng ngày 23/12/2024 thì không trúng số nào. Sau đó, B đã gọi zalo cho V 03 (Ba) cuộc để đòi số tiền 800.000 đồng mà V đã thua nhưng V không nghe máy. Ngày 24/12/2024, Công an huyện P phối hợp với Công an xã T, huyện P mời Đoàn Văn V (là người nghiện đang điều trị cai nghiện bằng thuốc thay thế - M) đến để xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể, quá trình kiểm tra V không sử dụng ma túy và khai buổi chiều ngày 23/12/2024 V có hành vi mua 16 (mười sáu) số đề của Hoàng Văn B nêu trên nhưng không trúng, bị thua và chưa trả tiền cho B. Đồng thời Vịnh giao nộp 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, vỏ màu bạc, tình trạng điện thoại cũ, đã qua sử dụng, đây là chiếc điện thoại mà V sử dụng để gửi mua các số đề của Hoàng Văn B vào buổi chiều ngày 23/12/2024.

Cơ quan điều tra kiểm tra điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, vỏ màu bạc của Đoàn Văn V, kết quả: Kiểm tra thư mục "Bộ sưu tập" phát hiện:

  • + 01 (một) ảnh chụp hai nhóm chữ số tự nhiên được viết bằng mực màu đen trên mặt giấy màu trắng, có viền màu xanh đỏ giống phong bì, góc trên bên trái có ghi chữ giống chữ "Đ", cạnh bên phải chữ "Đ" là nhóm số tự nhiên gồm các số: 20, 21, 22, 23, 24, 25,27, 28 - (gạch ngang) 50; cạnh bên phải nhóm số nêu trên là nhóm số thứ hai gồm: 90, 91, 92, 93, 94, 95, 97, 98 - (gạch ngang) 50. Theo V khai nhận: Chữ giống chữ "Đ" nêu trên chính là chữ "Đ" tức là "Đề", hai dãy số nêu trên là do V viết vào vỏ phong bì, gạch ngang "-" 50 có nghĩa là mỗi số nhân (x) 50.000 đồng, tổng 16 số x 50.000 đồng = 800.000 đồng (tám trăm nghìn đồng). Vịnh viết và chụp ảnh vào ngày 23/12/2024 nhằm mục đích để gửi cho Hoàng Văn B để mua số đề của B.
  • + 01 (một) ảnh chụp màn hình hiển thị của một chiếc điện thoại khác, thể hiện một dãy số tự nhiên gồm 30 (ba mươi) số gồm: 35, 36, 37, 38, 39, 45, 46, 47, 48, 49, 56, 57, 58, 59, 65, 67, 68, 69, 75, 76, 78, 79, 85, 86, 87, 89, 95, 96, 97, 98 X... (sau chữ x chưa xác định được là chữ hay số nào do ảnh bị thiếu). Theo V khai nhận đây là 30 (ba mươi) số đề mà V viết ra một tờ giấy rồi chụp lại bằng một chiếc điện thoại khác (chiếc điện thoại này đã bị hỏng, V đã vứt bỏ vào ngày 23/12/2024), ngày 23/12/2024 V dùng chiếc điện thoại trên để chụp lại ảnh lưu trong chiếc điện thoại đã bị hỏng nêu trên) nhằm mục đích gửi cho B để mua số đề của B với giá 20.000 đồng (hai mươi nghìn đồng trên một số), sau chữ "x" là số 20, Vịnh chụp bị thiếu số "20".

Kiểm tra ứng dụng tin nhắn mạng xã hội "ZALO" phát hiện: Có nội dung tin nhắn Vịnh gửi 02 (hai) hình ảnh nêu trên cho một người dùng tài khoản "bình lá. lẻ" vào lúc 17 giờ 34 phút và 17 giờ 35 phút cùng ngày 23/12/2024, sau khi gửi hai hình ảnh nêu trên có phát sinh 03 cuộc gọi nhỡ từ tài khoản "bình lá.lẻ” vào lúc 19 giờ 14 phút ngày 23/12/2024; lúc 19 giờ 12 phút ngày 24/12/2024 và lúc 18 giờ 48 phút ngày 24/12/2024. Theo V khai đây là tài khoản zalo của Hoàng Văn B (có tên, tuổi và địa chỉ nêu trên), sử dụng số điện thoại là 0973.591.xxx, Vịnh lưu số của B trong danh bạ ghi tên là "bình lá. lẻ" có nghĩa là B ở xóm L, Vịnh viết sai chính tả chữ "la" thành "lá", ảnh chụp 16 chữ số nêu trên có hình trái tim và số 3 ở góc dưới bên phải, theo V khai là B đã thả tim hình ảnh này ba lần, V ngầm hiểu có nghĩa là B đã nhận bán cho V 16 số đề nêu trên, còn ảnh 30 số đề bên dưới thì B không thả tim có nghĩa là B không nhận bán các số đề này. Sau khi biết là bản thân không trúng đề nên khi B gọi 03 cuộc gọi qua Zalo cho V, V đã cố tình không nghe máy để tránh việc bị B đòi tiền.

Ngày 25/12/2024, Hoàng Văn B giao nộp 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi 11T Pro, vỏ màu đen bạc, số IMEI 1: 868253059640264 và số IMEI 2: 868253059640272, gắn thẻ sim của nhà mạng viettel số thuê bao 0973.591.xxx, tình trạng điện thoại cũ, đã qua sử dụng, B khai đây là chiếc điện thoại di động mà B sử dụng để bán, mua số đề cho Đoàn Văn V và Ngọ Văn H ngày 23/12/2024 và 24/12/2024. Kiểm tra điện thoại của Hoàng Văn B xác định có nội dung Bình bán 16 số đề cho V vào ngày 23/12/2024 nêu trên và mua số đề của Ngọ Văn H vào các ngày 23 và 24/12/2024 cụ thể:

  • + Khoảng 18 giờ ngày 23/12/2024, Hoàng Văn B truy cập mạng xã hội Facebook tên "H" nhắn tin mesenger cho Ngọ Văn H (sử dụng tài khoản tên "Hiếu Smart (A H1)") một tin nhắn với nội dung: "Đề 50x200k" tức là mua số đề 50 với giá 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng), H1 đồng ý bán nên đã nhấn và gửi cho B biểu tượng "Like". B không trúng đề và nợ H1 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
  • + Khoảng 18 giờ 05 phút ngày 24/12/2024, Hoàng Văn B tiếp tục nhắn tin messenger cho H1 một tin nhắn với nội dung: "787x100k" tức là mua hai số đề 78 và 87 mỗi số 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng). H1 đồng ý bán và đã nhấn và gửi cho B biểu tượng "Like". B không trúng đề và nợ H1 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

Cơ quan điều tra triệu tập Ngọ Văn H đến làm việc, H đã giao nộp 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 6s, vỏ màu vàng, số IMEI: 353271073145393, không gắn thẻ sim, tình trạng điện thoại cũ, đã qua sử dụng, H trình bày đây là chiếc điện thoại di động mà H sử dụng để bán số đề cho Hoàng Văn B ngày 23, 24/12/2024. Kết quả kiểm tra điện thoại của H xác định: Không còn lưu trữ tin nhắn messenger của B, H khai sau khi bán số đề cho B, H đã xóa hết toàn bộ 2 tin nhắn. Cách thức Hoàng Văn B mua, bán số đề như sau: Người chơi sẽ chọn, mua một hoặc nhiều cặp số tự nhiên có hai chữ số từ 00 đến 99 với giá tùy ý trước 18 giờ 15 phút cùng ngày. Dựa vào kết quả giải đặc biệt của Xổ số kiến thiết miền B, người chơi sẽ đối chiếu với những cặp số mình đã mua với hai số cuối của giải đặc biệt. Nếu trùng nhau thì người chơi thắng và được nhận số tiền với tỷ lệ 1:80 so với số tiền người chơi bỏ ra mua cặp số đề đó, nếu không trùng thì người chơi mất số tiền đã bỏ ra mua số đề.

Ngày 22/01/2025, Cơ quan CSĐT Công an huyện P đã ra Công văn đề nghị Công ty TNHH N cung cấp kết quả quay thưởng xổ số kiến thiết miền bắc ngày 23/12/2024 và ngày 24/12/2024. Kết quả: Giải đặc biệt của ngày 23/12/2024 là: 33629; ngày 24/12/2024 là: 55444. Căn cứ kết quả trên xác định: Các số đề mà Đoàn Văn V mua của Hoàng Văn B vào ngày 23/12/2024 và các số đề mà Hoàng Văn B mua của Ngọ Văn H vào ngày 23/12/2024 và ngày 24/12/2024 đều không trúng đề.

Vật chứng của vụ án: 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy Note 9, vỏ màu bạc, số IMEI 1 và số IMEI 2 trùng nhau là: 355534100281343, tình trạng điện thoại cũ, đã qua sử dụng được niêm phong trong bì ký hiệu "ĐTV1"; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi 11T Pro, vỏ màu đen - bạc, số IMEI 1: 868253059640264, số IMEI 2: 868253059640272, tình trạng điện thoại cũ, đã qua sử dụng được niêm phong vào bì ký hiệu "ĐTB1"; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 6s, vỏ màu vàng, số IMEI: 353271073145393, tình trạng điện thoại cũ, đã qua sử dụng được niêm phong vào bì ký hiệu "ĐTH1".

Tại Bản cáo trạng số 33/CT-VKSPB, ngày 07/03/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Hoàng Văn B về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình trình bày lời luận tội và đề nghị với Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn B phạm tội “Đánh bạc”.

Về hình phạt chính: Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Hoàng Văn B từ 06 đến 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án. Về hình phạt bổ sung: Đề nghị phạt bổ sung bị cáo từ 10.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng.

Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

  • - Buộc bị cáo nộp số tiền 400.000 đồng (Bốn trăm nghìn đồng), buộc anh Đoàn Văn V nộp số tiền 800.000 đồng (Tám trăm nghìn đồng) sung công quỹ Nhà nước.
  • - Tịch thu sung công quỹ Nhà nước những tài sản liên quan đến việc phạm tội gồm có: 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy Note 9, vỏ màu bạc, tình trạng điện thoại cũ, đã qua sử dụng của Đoàn Văn V; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi 11T Pro, vỏ màu đen - bạc, tình trạng điện thoại cũ, đã qua sử dụng của Hoàng Văn B; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 6s, vỏ màu vàng, tình trạng điện thoại cũ, đã qua sử dụng của Ngọ Văn H.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có tranh luận gì. Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và đề nghị miễn toàn bộ hình phạt bổ sung và án phí hình sự cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P, tỉnh Thái Nguyên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên, Điều tra viên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Đối với việc vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là Đoàn Văn V và Ngọ Văn H. Hội đồng xét xử xét thấy: Đoàn Văn V và Ngọ Văn H đều đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và không có yêu cầu, đề nghị gì đối với số tiền và chiếc điện thoại đang bị tạm giữ có liên quan đến việc phạm tội. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã có lời khai đầy đủ tại cơ quan điều tra, việc vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến việc giải quyết khách quan, toàn diện vụ án. Căn cứ Điều 292, 293 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt những người tham gia tố tụng nêu trên.

[3]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung cáo trạng đã truy tố, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với chính lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với Biên bản bắt quả tang, vật chứng của vụ án và lời khai của những người tham gia tố tụng khác, có đủ căn cứ để khẳng định:

Vào các ngày 23, 24/12/2024, Hoàng Văn B ở nhà thuộc xóm L, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên, là người đã bị xử lý hành chính về hành vi "làm chủ lô, đề" đã có hành vi sử dụng tài khoản zalo có tên "H" được cài đặt trên điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi 11T Pro để bán cho Đoàn Văn V, sinh năm 1976, trú tại xóm N, xã T, huyện P thông qua tài khoản zalo có tên "Đoàn Văn V" cài đặt trên điện thoại di động nhãn hiệu S1 9 bán 16 số đề với tổng số tiền là 800.000 đồng và mua của Ngọ Văn H, sinh năm 1991, trú tại xóm N, xã T, huyện P thông qua ứng dụng Messenger tài khoản của B với ứng dụng Messenger tài khoản "Hiếu Smart (A H1)" được cài đặt trên điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 6s mua 03 số đề tổng số tiền là 400,000 đồng. Như vậy, tổng số tiền Hoàng Văn B mua, bán số đề ngày 23, 24/12/2024 là 1.200.000 đồng (Một triệu hai trăm nghìn đồng). Mặc dù, số tiền B dùng vào việc đánh bạc dưới 5.000.000 đồng, nhưng do trước đó bị cáo B đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc mà chưa được xóa án tích. Vì vậy, hành vi đó của bị cáo B đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận bị cáo Bình phạm vào tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự năm 2015, như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Nội dung Điều 321 của Bộ luật hình sự năm 2015 quy định:

“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

2. ...

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.”

[4]. Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã cố ý xâm phạm đến trật tự công cộng được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội và nếp sống văn minh của địa phương, là nguyên nhân làm phát sinh các tội phạm hình sự khác, hành vi đó cần phải xử lý nghiêm minh bằng pháp luật hình sự, nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo, răn đe và phòng ngừa chung.

Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, thấy: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi thực hiện tội phạm của mình. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Ngoài ra, bị cáo còn có mẹ đẻ là bà Nguyễn Thị T được ban tặng kỷ niệm chương nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội 02 lần trở lên theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Từ những căn cứ nêu trên, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cần có một mức án phù hợp với nhân thân, tính chất mức độ tội phạm, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo.

[5]. Về hình phạt bổ sung: Xét hành vi phạm tội của bị cáo nhằm mục đích thu lời bất chính, do đó cần áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo là 10.000.000đ nộp sung công quỹ Nhà nước, theo khoản 3 Điều 321 của Bộ luật hình sự.

[6]. Ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Hoàng Văn B, buộc bị cáo không được phép đi khỏi nơi cư trú kể từ ngày 24 tháng 03 năm 2025 cho đến khi bị cáo chấp hành án. Giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú để quản lý, theo dõi.

[7]. Về xử lý vật chứng: Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 46, Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, xử lý vật chứng như sau:

  • - Đối với số tiền 1.200.000 đồng (Một triệu hai trăm nghìn đồng) mà cơ quan điều tra xác định được bị cáo B và các đối tượng đã sử dụng đánh bạc, nhưng bị cáo B vẫn chưa thanh toán số tiền 400.000 đồng mua số đề cho anh H1, anh Đoàn Văn V cũng chưa thanh toán số tiền 800.000 đồng đã mua số đề cho bị cáo B. Vì vậy, cần buộc bị cáo B phải nộp lại số tiền 400.000 đồng, anh Đoàn Văn V phải nộp lại số tiền 800.000 đồng, tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
  • - Đối với những vật chứng gồm: 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy Note 9, vỏ màu bạc, tình trạng điện thoại cũ, đã qua sử dụng của Đoàn Văn V; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi 11T Pro, vỏ màu đen - bạc, tình trạng điện thoại cũ, đã qua sử dụng của Hoàng Văn B; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 6s, vỏ màu vàng, tình trạng điện thoại cũ, đã qua sử dụng của Ngọ Văn H là phương tiện, công cụ liên quan đến việc phạm tội cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

[8]. Trong vụ án này có các đối tượng Đoàn Văn V và Ngọ Văn H hành vi đánh bạc với Hoàng Văn B nhưng số tiền đánh bạc dưới 5.000.000 đồng, bản thân V và H chưa có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc, tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc nên hành vi của V và H không phạm tội. Cơ quan CSĐT Công an huyện P đã chuyển tài liệu đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện P xử phạt vi phạm hành chính theo quy định là phù hợp.

[9]. Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát trong lời luận tội đối với bị cáo như đề nghị về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt chính, hình phạt bổ sung, biện pháp cải tạo là phù hợp với quy định của Pháp luật, do đó Hội đồng xét xử cần chấp nhận.

[10]. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

[11]. Thông báo quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ, áp dụng pháp luật:

  • - Khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1,2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật hình sự;
  • - Điều 46, Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 và Điều 106, Điều 123, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
  • - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn B phạm tội “Đánh bạc”.
  2. Hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Hoàng Văn B 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
  3. Hình phạt bổ sung (phạt tiền): Phạt bổ sung bị cáo Hoàng Văn B số tiền là 10.000.000đ (Mười triệu đồng) nộp sung quỹ Nhà nước.
  4. Ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Hoàng Văn B, buộc bị cáo không được phép đi khỏi nơi cư trú kể từ ngày 24 tháng 03 năm 2025 cho đến khi bị cáo chấp hành án. Giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú để quản lý, theo dõi.
  5. Xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp:
    • - Bị cáo B phải nộp lại số tiền 400.000 đồng (Bốn trăm nghìn đồng), anh Đoàn Văn V phải nộp lại số tiền 800.000 đồng (Tám trăm nghìn đồng), tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
    • - Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 (Một) Bì thư niêm phong còn nguyên vẹn được dán kín có dấu đỏ ký hiệu ĐTV1, bên trong có chứa 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy Note 9, vỏ màu bạc, số IMEI 1 và số IMEI 2 trùng nhau là: 355534100281343, tình trạng điện thoại cũ, đã qua sử dụng, đã bị nứt vỡ 02 vùng nhỏ ở mép kính màn hình bên trái, không đặt mật khẩu khóa màn hình; 01 (Một) Bì thư niêm phong còn nguyên vẹn được dán kín có dấu đỏ ký hiệu ĐTB1, bên trong có chứa 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi 11T Pro, vỏ màu đen – bạc, số IMEI 1: 868253059640264, số IMEI 2: 868253059640272, tình trạng điện thoại cũ, đã qua sử dụng, đã bị nứt vỡ phần vỏ lưng điện thoại, đặt mật khẩu khóa màn hình là dãy số “123456”; 01 (Một) Bì thư niêm phong còn nguyên vẹn được dán kín có dấu đỏ ký hiệu ĐTH1, bên trong có chứa 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 6s, vỏ màu vàng, số IMEI: 353271073145393, tình trạng điện thoại cũ, đã qua sử dụng, không đặt mật khẩu khóa màn hình.
    • (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/02/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra của Công an huyện P và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Bình).
  6. Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm sung vào ngân sách Nhà nước.
  7. Thông báo quyền kháng cáo: Án xét xử hình sự công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo (Hoàng Văn B). Báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (anh Đoàn Văn V, Ngọ Văn H). Báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định pháp luật ./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKS ND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKS ND huyện Phú Bình;
  • - Công an tỉnh Thái Nguyên;
  • - CC T.H.A DS huyện Phú Bình;
  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Sở tư pháp tỉnh Thái Nguyên;
  • - Lưu: HS, VP, T.H.A HS.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 18/2025/HS-ST ngày 24/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN về vụ án hình sự tội "đánh bạc"

  • Số bản án: 18/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự Tội "Đánh bạc"
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn Bình phạm tội “Đánh bạc
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger