Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ BA ĐỒN

TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2025/HS-ST

Ngày 22 - 5 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hữu Tình

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Hoàng Công Nghĩa – Công chức Tư pháp đã nghĩ hưu tại phường Ba Đồn, thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình;
  2. Ông Võ Xuân Vinh – Giáo viên đã nghĩ hưu tại phường Ba Đồn, thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình;

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phương Loan - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Phương Lý - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 14/2025/TLST-HS ngày 29 tháng 4 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2025/QĐXXST- HS ngày 09 tháng 5 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Hoài A (Tên gọi khác: Không), sinh ngày 19/12/2007, tại thị xã B, tỉnh Quảng Bình; Nơi cư trú: thôn C, xã Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Đoàn thể: không; Con ông Nguyễn Đ và bà Phạm Thị N; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không. Tại thời điểm phạm tội, bị cáo 16 tuổi 05 tháng 28 ngày. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “cấm đi khỏi nơi cư trú” và tạm hoãn xuất cảnh từ ngày 18/02/2025 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

2. Nguyễn Xuân G (Tên gọi khác: Không), sinh ngày 13/01/2007, tại thị xã B, tỉnh Quảng Bình; Nơi cư trú: thôn C, xã Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Trình độ học vấn: 11/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Đoàn thể: không; Con ông Nguyễn Văn N1 và bà Phạm Thị L; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không. Tại thời điểm phạm tội, bị cáo 17 tuổi 05 tháng 04 ngày. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “ Cấm đi khỏi nơi cư trú” và tạm hoãn xuất cảnh từ ngày 18/02/2025 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

3. Mai Văn H (Tên gọi khác: Không), sinh ngày 09/11/2006, tại thị xã B, tỉnh Quảng Bình; Nơi cư trú: thôn C, xã Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Đoàn thể: không; Con ông Mai L1 và Mai Thị B; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không. Tại thời điểm phạm tội, bị cáo 17 tuổi 07 tháng 13 ngày. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “ Cấm đi khỏi nơi cư trú” và tạm hoãn xuất cảnh từ ngày 18/02/2025 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

4. Mai Quang V (Tên gọi khác: Không), sinh ngày 13/10/2006, tại thị xã B, tỉnh Quảng Bình; Nơi cư trú: thôn C, xã Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Trình độ học vấn: Lớp 11/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Đoàn thể: Không; Con ông Mai Q và bà Hoàng Thị S; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không. Tại thời điểm phạm tội, bị cáo 17 tuổi 08 tháng 9 ngày. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “ Cấm đi khỏi nơi cư trú” và tạm hoãn xuất cảnh từ ngày 18/02/2025 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Hoài A: Ông Nguyễn Đ, sinh năm 1977 (Bố đẻ của bị cáo).

Địa chỉ: thôn C, xã Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình, có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Hoài A: ông Nguyễn Bá T – Trợ giúp viên, thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Q, có mặt.

- Bị hại:

  • Anh Cao Văn D, sinh năm 2003;
  • Địa chỉ: thôn C, xã Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.
  • Chị Cao Thị H1, sinh năm 1996;
  • Địa chỉ: thôn C, xã Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  • Anh Hoàng Văn H2, sinh năm 1992;
  • Địa chỉ: thôn C, xã Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.
  • Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 2006;
  • Địa chỉ: thôn C, xã Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.
  • Anh Nguyễn D1, sinh năm 1976;
  • Địa chỉ: thôn C, xã Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Để có tiền tiêu xài cá nhân, Nguyễn Hoài A cùng Nguyễn Xuân G, Mai Văn H và Mai Quang V đã thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản tại địa bàn thôn C, xã Q, thị xã B. Cụ thể:

Vụ thứ nhất: Vào tối ngày 16/6/2024, Nguyễn Hoài A đến nhà Mai Quang V để xem bóng đá thì gặp Nguyễn Xuân G đang ngồi chơi ở nhà V. Trong lúc xem bóng đá, A nói với G “Đi kiếm nhà ai có chi ăn trộm để có tiền mà tiêu”, G đồng ý. Đến khoảng 02 giờ sáng ngày 17/6/2024, Anh và G đi bộ dọc các trục đường của thôn C, xã Q, tìm kiếm nhà dân sơ hở để trộm cắp tài sản. Khi đi qua nhà anh Cao Văn D thì nghe tiếng nhạc đang mở to, cổng chính và cửa nhà không đóng. Anh và G đột nhập vào trong, thấy anh D đang nằm ngũ ở trên phản trong phòng khách, bên cạnh có đặt một điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu xanh, còn đang phát nhạc. G lấy điện thoại di động này rồi cùng Anh tẩu thoát ra ngoài. Anh và G mang điện thoại di động vừa lấy trộm được đem đến bán cho Hoàng Văn H2, là chủ tiệm kinh doanh dịch vụ Intenet ở thôn C, xã Q, thị xã B với giá 2.000.000 đồng (hai triệu đồng), số tiền này A và G cùng nhau sử dụng tiêu xài cá nhân hết.

Vụ thứ hai: Vào tối ngày 21/6/2024, Nguyễn Hoài A đến nhà Mai Quang V để xem bóng đá, tại đây Anh gặp Mai Quang V, Nguyễn Xuân G, Mai Văn H và Nguyễn Văn T1. Đến 0 giờ ngày 22/6/2024, H mượn xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Wave RSX màu đỏ đen, BKS: 73K1-164.68 của T1 rồi rủ A, G và V đi dạo. Anh điều khiển xe mô tô chở H, V và G đi thì H nói “Đi ăn trộm hè”, cả nhóm đồng ý. Anh điều khiển xe mô tô chở cả nhóm đi đến nhà chị Cao Thị H1, ở thôn C, xã Q, quan sát thấy cửa sau tầng 2 đang mở, H nói với cả nhóm “ Nhà ni giàu”, A điều khiển xe dừng lại sau nhà chị H1, cả nhóm xuống xe và đi bộ lại gần, V lấy áo bịt mặt lại rồi leo lên hàng rào phía sau nhà và đột nhập vào nhà theo cửa sau tầng 2 đang mở, còn A, H và G đứng bên ngoài cảnh giới. Khoảng 05 phút sau, V đi ra và cầm theo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Plus màu hồng. Sau đó, cả nhóm cùng nhau mang điện thoại vừa lấy trộm được đến bán cho Hoàng Văn H2, là chủ tiệm kinh doanh dịch vụ Intenet ở thôn C, xã Q, thị xã B, với giá 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng), số tiền này cả nhóm cùng nhau tiêu xài cá nhân hết.

Tại bản kết luận định giá tài sản số: 01/KL-HĐĐGTS ngày 07/02/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thị xã B xác định: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu xanh, dung lượng 128 Gb, số IMEI: 350141786427169, số IMEI 2: 350141786465102, đã qua sử dụng, tại thời điểm bị mất trộm trị giá 10.000.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Plus, màu hồng, dung lượng 128 Gb, số IMEI:35952982614843, số IMEI 2: 359529822647017, đã qua sử dụng, tại thời điểm bị mất trộm trị giá 19.000.000 đồng. Tổng trị giá tài sản bị thiệt hại là 29.000.000 đồng (hai mươi chín triệu đồng).

Vật chứng và xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu giữ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu xanh, dung lượng 128 Gb, số IMEI:350141786427169, số IMEI 2: 350141786465102, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Plus, màu hồng, dung lượng 128 Gb, số IMEI:35952982614843, số IMEI 2: 359529822647017, đã qua sử dụng. Quá trình điều tra, xác định số vật chứng trên là tài sản hợp pháp của các bị hại, nên Cơ quan điều tra đã xử lý trả cho chủ sở hữu.

Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại chị Cao Thị H1 và anh Cao Văn D đã nhận lại đủ tài sản bị mất, nên cam kết không khiếu nại, khiếu kiện gì về trách nhiệm dân sự. Các bị cáo Nguyễn Hoài A, Nguyễn Xuân G, Mai Văn H và Mai Quang V đã thỏa thuận với anh Hoàng Văn H2 hoàn trả đầy đủ số tiền mà anh H2 đã mua lại 02 điện thoại trên, anh H2 cam kết không khiếu nại, khiếu kiện gì về trách nhiệm dân sự.

Tại bản Cáo trạng số: 15/CT-VKSBĐ-HS ngày 28/4/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình đã truy tố Nguyễn Hoài A, Mai Văn H, Nguyễn Xuân G và Mai Quang V về tội “trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, o khoản 1 Điều 52; Điều 90, 91 và Điều 101 Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Hoài A từ 9 – 12 tháng tù; Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 90, 91 và Điều 101 Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Xuân G từ 8 – 10 tháng tù; Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 90, 91 và Điều 101 Bộ luật hình sự, xử phạt Mai Văn H từ 8 – 10 tháng tù; Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 90, 91 và Điều 100 Bộ luật hình sự, xử phạt Mai Quang V từ 15 - 18 tháng cải tạo không giam giữ. Miễn khấu từ thu nhập đối với bị cáo V trong thời gian chấp hành hình phạt.

Về trách nhiệm bồi thường dân sự: đã giải quyết xong trong giai đoạn điều tra, nên đề nghị không xem xét;

Về xử lý vật chứng: đã xử lý nên không đề nghị xem xét.

Buộc các bị cáo Nguyễn Hoài A, Nguyễn Xuân G, Mai Văn H và Mai Quang V phải chịu án phí hình sự sơ thẩm để nộp vào ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật.

Ý kiến của người bào chữa cho các bị cáo: Nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ba Đồn cũng như lời luận tội của kiểm sát viên tại phiên tòa đối với bị cáo Nguyễn Hoài A. Tuy nhiên về mức hình phạt đề nghị Hội xét xử xem xét xử phạt bị cáo ngang mức thấp nhất mà kiểm sát viên đã đề nghị, với lý do: Tại thời điểm phạm tội bị cáo chưa đủ tuổi thành niên, nên khả năng nhận thức pháp luật về tính nguy hiểm của hành vi phạm tội còn hạn chế; quá trình sinh sống tại địa phương, luôn chấp hành tốt các quy định của pháp luật, chưa có vi phạm gì; quá trình điều tra cho đến tại phiên tòa, bị cáo luôn thể hiện thái độ khai báo thành khẩn và đã cùng với các bị cáo khác hoàn trả đầy đủ số tiền thu lợi từ hành vi trộm cắp tài sản cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

Ý kiến người đại diện hợp pháp của bị cáo:

Ông Nguyễn Đ (Bố của bị cáo A) nhất trí với luận tội của kiểm sát viên và lời bào chữa của người bào chữa, không có ý kiến gì thêm.

Các bị cáo nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ba Đồn, luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa và lời bào chữa của người bào chữa, đề nghị Hội đồng xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Vì vậy hành vi và các quyết định tố tụng mà các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội: Để nhằm có tiền tiêu xài cá nhân, nên các bị cáo Nguyễn Hoài A, Nguyễn Xuân G, Mai Văn H và Mai Quang V đã cùng nhau đi trộm cắp tài sản của các bị hại sinh sống tại địa bàn thôn C, xã Q. Trong đó: Nguyễn Hoài A, Nguyễn Xuân G cùng tham gia hai vụ trộm cắp tài sản là điện thoại di động của anh Cao Văn D vào ngày 17/6/2024 và của chị Cao Thị H1 vào ngày 22/6/2024. Giá trị tài sản mà các bị cáo lấy trộm là 29.000.000 đồng. Còn Mai Quang V và M Văn Hóa tham gia 01 vụ trộm cắp tài sản vào ngày 22/6/2024, trị giá tài sản lấy trộm là 19.000.000 đồng.

Quá trình điều tra và tại phiên toà, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các chứng cứ, tài liệu đã thu thập trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên toà. Trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ về thời gian, địa điểm, loại tài sản, giá trị tài sản mà các bị cáo đã chiếm đoạt và ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để khẳng định các bị cáo Nguyễn Hoài A, Nguyễn Xuân G, Mai Văn H và Mai Quang V phạm tội “trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Như vậy quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ba Đồn và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa đối với các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, cố ý trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, nên cần được xử lý nghiêm.

[3] Xét vai trò, vị trí, tính chất đồng phạm cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Vụ án có nhiều bị cáo tham gia, tuy nhiên trước khi phạm tội các bị cáo không có sự bàn bạc, phân công vai trò, vị trí cho nhau, vì vậy tính chất đồng phạm chỉ mang tính giản đơn.

Trong vụ án này, bị cáo A và bị cáo H là người trực tiếp khởi xướng, rủ rê các bị cáo còn lại đi trộm cắp tài sản. Các bị cáo khác mặc dù phạm tội do bị xúi dục nhưng cũng thể hiện vai trò tích cực.

Bị cáo Nguyễn Hoài A, Nguyễn Xuân G thực hiện hai vụ trộm cáp tài sản nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS; Riêng hai bị cáo Nguyễn Hoài A và Mai Văn H là người trực tiếp xúi dục các bị cáo khác thực hiện hành vi phạm tội nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 BLHS. Quá trình điều tra các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt, nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Riêng bị cáo Mai Văn H và Mai Quang V phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 BLHS.

[4] Về hình phạt: xét thấy bị cáo Nguyễn Hoài A, Nguyễn Xuân G có nhiều tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo Mai Văn H với vai trò là người khởi xướng nên phải chịu mức hình phạt nghiêm khác hơn. Cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn để cách ly các bị cáo này ra ngoài xã hội một thời gian mới đủ tác dụng răn đe, cải tạo các bị cáo. Đối với bị cáo Mai Quang V mặc dù trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội cũng thể hiện vai trò tích cực, tuy nhiên bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nên chưa cần thiết cách ly bị cáo ra ngoài xã hội mà cho cải tạo tại địa phương dưới sự giám sát giáo dục của chính quyền địa phương và gia đình cũng đã đủ nghiêm.

Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo chưa đủ 18 tuổi, thuộc trường hợp người chưa thành niên phạm tội, vì vậy cần áp dụng các Điều 90, 91, 100 và 101 BLHS để quyết định mức hình phạt phù hợp đối với mỗi bị cáo.

[5] Xét ý kiến của người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Hoài A là có cơ sở, nên Hội đồng xét xử chấp nhận để xem xét quyết định mức án phù hợp đối với bị cáo.

[6] Về vật chứng vụ án: Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra đã xác định đúng chủ sở hữu và trả lại tài sản là đảm bảo đúng quy định của pháp luật, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại đã nhận lại tài sản, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã được các bị cáo hoàn trả đầy đủ số tiền mua tài sản và không có yêu cầu gì thêm, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Liên quan trong vụ án, có anh Hoàng Văn H2 là người đã nhiều lần mua lại điện thoại di động do các bị cáo bán nhưng do anh H2 không biết đó là tài sản phạm pháp; đối với anh Nguyễn Văn T1 là người cho H mượn xe mô tô BKS: 73K1-164.68, nhưng mục đích để đi dạo, sau đó cả nhóm sử dụng xe này để đi thực hiện hành vi phạm tội thì anh T1 không được biết trước nên không có căn cứ để xử lý. Ngoài ra, đối với Nguyễn Hoài A chưa có giấy phép lái xe theo quy định, nhưng đã điều khiển xe mô tô BKS: 73K1-164.68 chở 03 người nên Cơ quan điều tra đã chuyển hồ sơ đến Phòng C Công an tỉnh Q, đề nghị xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ theo quy định là phù hợp.

[9] Về án phí: Buộc các bị cáo Nguyễn Hoài A, Nguyễn Xuân G, Mai Văn H và Mai Quang V phải chịu án phí hình sự sơ thẩm để nộp vào ngân sách nhà nước.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Hoài A, Nguyễn Xuân G, Mai Văn H và Mai Quang V phạm tội: "Trộm cắp tài sản".

2. Về hình phạt:

- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g, o khoản 1 Điều 52; các Điều 90, 91, 101 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Hoài A 10 (Mười) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; các Điều 90, 91, 101 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân G 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

- Căn cứ khoản 1 Điều 173; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; các Điều 90, 91, 101 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Mai Văn H 08 (T2) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

- Căn cứ khoản 1 Điều 173; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 90, 91, 100 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Mai Quang V 18 (Mười tám) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn chấp hành phạt tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an tỉnh Q nhận được quyết định thi hành án.

Miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo Mai Quang V trong thời gian chấp hành hình phạt.

Giao bị cáo Mai Quang V về cho Ủy ban nhân dân xã Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình cùng phối hợp với gia đình giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian chấp hành hình phạt.

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc các bị cáo Nguyễn Hoài A, Nguyễn Xuân G, Mai Văn H và Mai Quang V mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng.

Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (22/5/2025) đối với người có mặt, hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ đối với người vắng mặt./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Quảng Bình;
  • - VKSND thị xã Ba Đồn;
  • - Công an tỉnh Quảng Bình;
  • - TAND tỉnh QB;
  • - Chi cục THADS thị xã Ba Đồn;
  • - Bị cáo; Người TGTT;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Bình;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Phạm Hữu Tình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 18/2025/HS-ST ngày 22/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN, TỈNH QUẢNG BÌNH về trộm cắp tài sản (hình sự)

  • Số bản án: 18/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN, TỈNH QUẢNG BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Hoài Anh cùng đồng phạm phạm tội trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger