|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG Bản án số: 18/2025/HS-ST Ngày 21 tháng 3 năm 2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thuận Lợi
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Ngọc Khiêm và ông Đỗ Thanh Đoàn.
Thư ký phiên toà: Ông Lê Văn Hưng - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh An Giang
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thúy Chinh - Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao và ông Trần Văn H - Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang.
Ngày 21 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 15/2025/TLST-HS ngày 14 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 11/2025/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 02 năm 2025; Thông báo dời ngày xét xử số: 45/2025/TB-HS ngày 03 tháng 3 năm 2025, đối với các bị cáo:
-
Huỳnh Hữu T, sinh ngày 14 tháng 8 năm 1980, tại thành phố L, tỉnh An Giang; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở trước khi bị bắt: Số D đường số C, khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Nguyên Trạm trưởng Trạm Cảnh sát đường thủy T70, Công an tỉnh A; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: Là đảng viên Đ10 đã bị đình chỉ sinh hoạt đảng; con ông Huỳnh Hữu T1 và bà Phan Thị T2; vợ là Nguyễn Ngọc Minh P và có 02 con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/8/2024 cho đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh A (có mặt).
* Người bào chữa theo yêu cầu của bị cáo Huỳnh Hữu T: Bà Nguyễn Minh L, Luật sư, Văn Phòng L21, Đoàn Luật sư tỉnh A; địa chỉ: Số F - T, khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang;
-
Lê Văn P1, sinh ngày 09 tháng 12 năm 1986, tại thành phố L, tỉnh An Giang; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở trước khi bị bắt: Số D, khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Cán bộ Trạm Cảnh sát đường thủy T70, Công an tỉnh A; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: Là đảng viên Đ10 đã bị đình chỉ sinh hoạt đảng; con ông Lê Văn T3 và bà Trần Thị N; vợ là Huỳnh Thị Kiều T4 và có 02 con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/8/2024 cho đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh A (có mặt).
-
Đào Quốc V, sinh ngày 09/6/1991 tại thành phố L, tỉnh An Giang; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: Số H, đường số A, KĐT S, khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Nguyên Cán bộ Trạm Cảnh sát đường thủy T70, Công an tỉnh A đã bị tước danh hiệu Công an nhân dân; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; Đảng đoàn: Là đảng viên Đ10 đã bị đình chỉ sinh hoạt đảng; con ông Đào Văn H1 và bà Nguyễn Thị Bạch P2, vợ là Nguyễn Thị Thúy L1 và có 01 con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/8/2024 cho đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh A (có mặt).
Người có liên quan trong vụ án gồm:
- Trạm Cảnh sát giao thông đường thủy thị xã T, tỉnh An Giang; địa chỉ: Khóm L, phường L, thị xã T, An Giang (văng mặt);
- Ông Phạm Thanh T5, sinh năm 1999; nơi cư trú: Ấp D, B, thành phố G, tỉnh Tiền Giang (vắng mặt);
- Ông Phạm Văn S, sinh năm 1984; nơi cư trú: Ấp D, xã B, thành phố G, tỉnh Tiền Giang (vắng mặt);
- Ông Lê Tuấn V1, sinh năm 1974; nơi cư trú: Số A, T, xã B, huyện B, tỉnh Bến Tre (vắng mặt);
- Ông Mai Văn P3, sinh năm 1991; nơi cư trú: Ấp B, xã B, thành phố G, tỉnh Tiền Giang (vắng mặt);
- Ông Mai Văn P3, sinh năm 1968; nơi cư trú: Ấp B, xã B, thành phố G, tỉnh Tiền Giang (vắng mặt);
- Ông Phạm Hoài Â, sinh năm 1991; nơi cư trú: Ấp E, xã B, thành phố G, tỉnh Tiền Giang (vắng mặt);
- Ông Phạm Văn T6, sinh năm 1977; nơi cư trú: Ấp B, xã B, thành phố G, tỉnh Tiền Giang (vắng mặt);
- Ông Trần Thanh L2, sinh năm 1979; nơi cư trú: S, khu phố H, đường P, phường H, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt);
- Ông Phan Minh T7, sinh năm 1980; nơi cư trú: Ấp P, xã L, huyện T, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt);
- Ông Dương Hữu L3, sinh năm 1990; nơi cư trú: Ấp V, T, T, Long An (vắng mặt);
- Ông Nguyễn Đình K, sinh năm 1994; nơi cư trú: Ấp H, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt);
- Ông Huỳnh Văn T8, sinh năm 1960; nơi cư trú: Ấp N, xã T, huyện C, Trà Vinh (vắng mặt);
- Bà Lâm Ngọc N1, sinh năm 1975; nơi cư trú: Ấp G, Hiệp Mỹ T9, Cầu N, Trà Vinh (vắng mặt);
- Ông Đặng Hồng S1, sinh năm 1963; nơi cư trú: Số C đường L, phường L, TP ., TP . (vắng mặt);
- Ông Phạm Quốc H2, sinh năm 1977; nơi cư trú: Ấp T, xã Đ, huyện C, tỉnh Long An (vắng mặt);
- Ông Nguyễn Trung Q, sinh năm 1978; nơi cư trú: Ấp K, xã B, huyện B, tỉnh Long An (vắng mặt);
- Ông Nguyễn Văn L4, sinh năm 1977; nơi cư trú: Số A, ấp H, xã T, huyện C, Long An (vắng mặt);
- Ông Phạm Hùng E, sinh năm 1972; nơi cư trú: Số C ấp T, xã B, huyện B, tỉnh Bến Tre (vắng mặt);
- Ông Đặng Minh L5, sinh năm 1993; nơi cư trú: Ấp T, Đ, C, Long An (vắng mặt);
- Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1979; nơi cư trú: Ấp N, xã N, huyện H, Bạc Liêu (vắng mặt);
- Ông Nguyễn Văn T10, sinh năm 1973; nơi cư trú: Tổ H, ấp L, xã B, thị xã G, tỉnh Tiền Giang (vắng mặt);
- Ông Châu Văn G, sinh năm 1975; nơi cư trú: Khóm F, Phường A, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt);
- Ông Đỗ Văn P4, sinh năm 1990; nơi cư trú: Kv Đ, T, T, Thành phố Cần Thơ (vắng mặt);
- Ông Nguyễn Quốc T11, sinh năm 1988; nơi cư trú: Tổ B, Ấp B, A, C, Tiền Giang (vắng mặt);
- Ông Võ Văn T12, sinh năm 1972; nơi cư trú: Khóm T, Phường B, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng.
- Ông Võ Văn T13, sinh năm 1993; nơi cư trú: Ấp T, Đ, C, Long An (vắng mặt);
- Ông Tạ Thị Thùy D, sinh năm 1990; nơi cư trú: Ấp T, Đ, C, Long An (vắng mặt);
- Ông Đặng Ngọc H3, sinh năm 1969; nơi cư trú: Số A Ấp G, xã P, C, Long An (vắng mặt);
- Ông Huỳnh Văn S2, sinh năm 1966; nơi cư trú: Ấp T, Đ, C, Long An (vắng mặt);
- Bà Lê Thị Ngọc H4, sinh năm 1967; nơi cư trú: Ấp T, Đ, C, Long An (vắng mặt);
- Ông Nguyễn Văn L6, sinh năm 1974; nơi cư trú: 264/3, ấp B, T, C, Long An (vắng mặt);
- Bà Phạm Thị H5, sinh năm 1978; nơi cư trú: Ấp B, T, C, Long An (vắng mặt);
- Ông Phan Văn T14, sinh năm 1976; nơi cư trú: Số G, Ấp P, L, cần Giuộc, Long An (vắng mặt);
- Ông Trần Văn A, sinh năm 1996; nơi cư trú: Ấp T, xã T, C, Long An (vắng mặt);
- Ông Đỗ Hoàng V2, sinh năm 1979; nơi cư trú: Ấp T, xã Đ, huyện C, tỉnh Long An (vắng mặt);
- Ông Nguyễn Ngọc T15, sinh năm 1970; nơi cư trú: T, Đ, C, Long An (vắng mặt);
- Ông Nguyễn Ngọc T16, sinh năm 1963; nơi cư trú: Ấp T, xã Đ, huyện C, tỉnh Long An (vắng mặt);
- Ông Đặng Ngọc H6, sinh năm 1969; nơi cư trú: Tổ A, T, Đ, C, Long An (vắng mặt);
- Ông Nguyễn Văn V3, sinh năm 1982; nơi cư trú: T, T, C, Long An (vắng mặt);
- Ông Nguyễn Văn K1, sinh năm 1985; nơi cư trú: T, Đ, C, Long An (vắng mặt);
- Ông Trà Tấn P5, sinh năm 1982; nơi cư trú: Ấp C, xã L, huyện C, tỉnh Long An (vắng mặt);
- Ông Nguyễn Văn N2, sinh năm 1989; nơi cư trú: Tổ C, ấp S, xã N, huyện H, tỉnh Kiên Giang (vắng mặt);
- Ông Nguyễn Văn L6, sinh năm 1977; nơi cư trú: Ấp V, xã V, huyện A, tỉnh An Giang (vắng mặt);
- Ông Đào Minh L7, sinh năm 1978; nơi cư trú: Ấp L, xã H, huyện A, tỉnh Kiên Giang (vắng mặt);
- Ông Tiêu Thanh L8, sinh năm 1996; nơi cư trú: Tổ B ấp H, xã M, huyện C, tỉnh Kiên Giang (vắng mặt);
- Ông Bùi Trung T17, sinh năm 1985, nơi cư trú: KP S, thị trấn H, huyện H, tỉnh Kiên Giang (vắng mặt);
- Bà Phạm Thị D1, sinh năm 1990; nơi cư trú: KP S, thị trấn H, huyện H, tỉnh Kiên Giang (vắng mặt);
- Ông Trương Văn S3, sinh năm 1986; nơi cư trú: Ấp M, xã V, TP ., tỉnh An Giang (vắng mặt);
- Bà Nguyễn T18, sinh năm 1981; nơi cư trú: Ấp S, xã V, huyện C, tỉnh Kiên Giang (vắng mặt);
- Ông Trương Văn Q1, sinh năm 1990; nơi cư trú: Tổ A, ấp M, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang (vắng mặt);
- Ông Nguyễn Thanh T19, sinh năm 1990; nơi cư trú: Số I C, phường V, TP ., tỉnh Kiên Giang (vắng mặt);
- Ông Trần Văn P6, sinh năm 1991; nơi cư trú: Ấp T, xã D, huyện C, tỉnh Kiên Giang (vắng mặt);
- Ông Hồ Trọng D2, sinh năm 1978; nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện G, tỉnh Kiên Giang (vắng mặt);
- Ông Trần Văn H7, sinh năm 1974; nơi cư trú: Ấp S, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu (vắng mặt);
- Ông Nguyễn Lê M (Giám đốc Công ty TNHH M12); nơi cư trú: Số D N, phường A, thành phố R, tỉnh Kiên Giang (vắng mặt);
- Ông Ngô Văn C, sinh năm 1984; nơi cư trú: Số C N, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang (vắng mặt);
- Ông Trần Văn H8, sinh năm 1997; nơi cư trú: Số F L, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang (vắng mặt);
- Ông Nguyễn Ngọc V4, sinh năm 1964; nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện T, TP Cần Thơ (vắng mặt);
- Ông Lê Văn H9, sinh năm 1965; nơi cư trú: K, Khánh Hòa, C, An Giang (vắng mặt);
- Ông Lê Văn C1, sinh năm 1988; nơi cư trú: Ấp H, Khánh Hòa, U, Cà Mau (vắng mặt);
- Ông Võ Văn B1, sinh năm 1993; nơi cư trú: Khóm T, P2, thị xã N, Sóc Trăng (vắng mặt);
- Ông Phạm Tuấn D3, sinh năm: Tổ 66, M, Phường C, thành phố C, Đồng Tháp (vắng mặt);
- Ông Lê Thành L9, sinh năm 1985; nơi cư trú: Tổ G khóm M, Phường C, thành phố C, Đồng Tháp (vắng mặt);
- Ông Lê Trọng H10, sinh năm 1986; nơi cư trú: Tổ C, khóm D, phường D, thành phố C, Đồng Tháp (vắng mặt);
- Ông Trần Văn Q2, sinh năm 1972; nơi cư trú: Số F đường N, tổ A, ấp H, xã H, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp (vắng mặt);
- Ông Huỳnh Chí L10, sinh năm 1984; nơi cư trú: Ấp C xã H, T, Đồng Tháp (vắng mặt);
- Ông Lê Văn D4, sinh năm 1987; nơi cư trú: Tổ B, khóm D, phường A, TP C, tỉnh Đồng Tháp (vắng mặt);
- Ông Võ Hoàng M1, sinh năm 1990; nơi cư trú: Khóm A thị trấn M, T, Đồng Tháp (vắng mặt);
- Ông Nguyễn Ngọc N3, sinh năm 1982; nơi cư trú: Số F N, tổ A ấp H, H, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp (vắng mặt);
- Ông Lê Văn H11, sinh năm 1973; nơi cư trú: Ấp B, T, T, Đồng Tháp (vắng mặt);
- Ông Nguyễn Văn H12, nơi cư trú: Ấp A, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp (vắng mặt);
- Ông Lê Văn Đ, sinh năm 1987; nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện P, tỉnh An Giang (vắng mặt);
- Ông Trần Văn T20, sinh năm: 1988; nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp (vắng mặt);
- Ông Nguyễn Văn T21, sinh năm 1978; nơi cư trú: Ấp T, xã T, C, Đồng Tháp (vắng mặt);
- Ông Võ Văn P7, sinh năm 1986; nơi cư trú: Khóm B, phường A, thành phố C, Đồng Tháp (vắng mặt);
- Ông Nguyễn Huy V5, sinh năm 1976; nơi cư trú: Số B, khóm T, phường A, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp (vắng mặt);
- Ông Huỳnh Văn Đ1, sinh năm 1960; nơi cư trú: Khóm S, phường A, TP ., tỉnh Đồng Tháp (vắng mặt);
- Ông Trần Văn T22, sinh năm 1970; nơi cư trú: Ấp C, xã L, Đ, Bạc Liêu (vắng mặt);
- Ông Võ Hoàng P8, sinh năm 1971; nơi cư trú: Khóm S, phường A, TP ., tỉnh Đồng Tháp (vắng mặt);
- Ông Trần Minh Đ2, sinh năm 1988; nơi cư trú: Ấp T, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Tháp (vắng mặt);
- Ông Nguyễn Văn H13, sinh năm 1994; nơi cư trú: Ấp V, xã V, huyện L, tỉnh Đồng Tháp (vắng mặt);
- Ông Trần Văn H14, sinh năm 1989; nơi cư trú: Khóm S, phường A, TP ., tỉnh Đồng Tháp (vắng mặt);
- Bà Võ Thanh T23, sinh năm 1990; nơi cư trú: Số D khóm B, thị trấn L, tỉnh Đồng Tháp (vắng mặt);
- Ông Nguyễn Văn T24, sinh năm 1965, nơi cư trú: Khóm D, Phường A, TP ., tỉnh Đồng Tháp (vắng mặt);
- Ông Đặng Văn S4, sinh năm 1971; nơi cư trú: Ấp T, xã M, Chợ M, An Giang (vắng mặt);
- Ông Dương Văn Á, sinh năm 1973; nơi cư trú: Nhơn Lộc B, TT P, P, Cần Thơ (vắng mặt);
- Ông Nguyễn Chí N4, sinh năm 1991; nơi cư trú: Ấp G, Nguyễn Việt K2, P, tỉnh Cà Mau (vắng mặt);
- Ông Võ Út C2, nơi cư trú: P, P, P, tỉnh Hậu Giang (vắng mặt);
- Ông Trần Phi T25, sinh năm 1985; nơi cư trú: Ấp A, xã L, huyện L, tỉnh Hậu Giang (vắng mặt);
- Ông Nguyễn Văn P9, sinh năm 1972; nơi cư trú: Khóm T, thị trấn T, T, tỉnh Cà Mau (vắng mặt);
- Ông Võ Văn Đ3, sinh năm 1993; nơi cư trú: Ấp B xã P, huyện G, tỉnh Bạc Liêu (vắng mặt);
- Ông Tôn Văn K3, sinh năm 1983; nơi cư trú: Ấp D, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu (vắng mặt);
- Ông Bùi Tấn Đ4, nơi cư trú: Số 497/TTH, T, B, B, tỉnh Bến Tre (vắng mặt);
- Ông Huỳnh Thị V6, sinh năm 1973; nơi cư trú: Số B T, B, B, tỉnh Bến Tre (vắng mặt);
- Ông Hứa Lâm Hồng Y, sinh năm 1977; nơi cư trú: Số C, T, B, B, tỉnh Bến Tre (vắng mặt);
- Bà T47, sinh năm 1990; nơi cư trú: Số B Ấp T, xã B, huyện B, tỉnh Bến Tre (vắng mặt);
- Ông Phan Văn B2, sinh năm 2003; nơi cư trú: Số B T, B, B, tỉnh Bến Tre (vắng mặt);
- Bà Trần Thị Kim S5, sinh năm 1977; nơi cư trú: Số I, xã T, B, B, tỉnh Bến Tre (vắng mặt);
- Bà Phạm Thị Ngọc C3, sinh năm 1983; nơi cư trú: Số A xã B, huyện B, tỉnh Bến Tre (vắng mặt);
- Ông Ngô Văn P10, nơi cư trú: Số B, xã B, huyện B, tỉnh Bến Tre (vắng mặt);
- Ông Nguyễn Văn K1, sinh năm 1966; nơi cư trú: Số D, Ấp L, huyện G, tỉnh Bến Tre (vắng mặt);
- Ông Mai Thanh L11, sinh năm 1988; nơi cư trú: Số A, T, B, B, tỉnh Bến Tre (vắng mặt);
- Ông Lê Văn Đ5, sinh năm 1971; nơi cư trú: Ấp T, xã B, huyện B, tỉnh Bến Tre (vắng mặt);
- Ông Vũ Thanh T26, sinh năm 2000; nơi cư trú: Số A, ấp T, xã B, huyện B, tỉnh Bến Tre (vắng mặt);
- Ông Nguyễn Chí H15, sinh năm 1976; nơi cư trú: Số C ấp T, xã B, huyện B, tỉnh Bến Tre (vắng mặt);
- Ông Nguyễn Chí T27, sinh năm 1995; nơi cư trú: Số D ấp T, xã B, huyện B, tỉnh Bến Tre (vắng mặt);
- Bà Ngô Thị P11, sinh năm 1982; nơi cư trú: Số B T, B, B, tỉnh Bến Tre (vắng mặt);
- Bà Trần Thị M2, sinh năm 1969; nơi cư trú: Số B T, T, B, tỉnh Bến Tre (vắng mặt);
- Ông Lâm Quốc V7, sinh năm 1988; nơi cư trú: Số B T, B, B, tỉnh Bến Tre (vắng mặt);
- Ông Đinh Văn Dũng E1, nơi cư trú: Số B T, B, B, tỉnh Bến Tre (vắng mặt);
- Bà Đỗ Thị H16, sinh năm 1986; nơi cư trú: T, T, M, tỉnh Bến Tre (vắng mặt);
- Ông Võ Văn M3, sinh năm 1992; nơi cư trú: Ấp G, C, V, tỉnh Bạc Liêu (vắng mặt);
- Ông Thạch Văn K4, sinh năm 1991; nơi cư trú: Ấp C, L, D, tỉnh Trà Vinh (vắng mặt);
- Ông Nguyễn Hồng V8, sinh năm 1980; nơi cư trú: Số D, khóm G, phường E, TP ., tỉnh Bạc Liêu (vắng mặt);
- Ông Trần Văn K5, sinh năm 1979; nơi cư trú: Ấp B, xã V, huyện P, tỉnh Bạc Liêu (vắng mặt);
- Bà Nguyễn Thị L12, nơi cư trú: Ấp T, T, T, tỉnh An Giang (vắng mặt);
- Ông Nguyễn Ngọc C4, sinh năm 1983; nơi cư trú: Khóm H, phường M, TP ., tỉnh An Giang (vắng mặt);
- Ông Lê Văn T28, sinh năm 1969; nơi cư trú: Ấp C, xã C, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt);
- Ông Nguyễn Văn C5, sinh năm 1979; nơi cư trú: Phường V, TP C, tỉnh An Giang (vắng mặt);
- Ông Hà Thanh T29, nơi cư trú: Ấp B, xã A, C, tỉnh An Giang (vắng mặt);
- Bà Hà Thị Giác M4, sinh năm 1994; nơi cư trú: Ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt);
- Bà Lê Vũ P12, sinh năm 1972; nơi cư trú: Khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang (vắng mặt);
- Ông Nguyễn Thanh P13, sinh năm 1989; nơi cư trú: Ấp L, xã L, thị xã T, tỉnh An Giang (vắng mặt);
- Ông Nguyễn Quốc H17, sinh năm 1995; nơi cư trú: Ấp V, TX T, tỉnh An Giang (vắng mặt);
- Ông Nguyễn Thanh C6, sinh năm 1986; nơi cư trú: Ấp V, xã C, thị xã T, tỉnh An Giang (vắng mặt);
- Bà Nguyễn Thanh Bảo X, sinh năm 1992; nơi cư trú: Ấp V, xã C, thị xã T, tỉnh An Giang (vắng mặt);
- Ông Nguyễn Thanh H18, sinh năm 1981; nơi cư trú: Ấp V, xã C, thị xã T, tỉnh An Giang (vắng mặt);
- Ông Phạm Công B3, sinh năm 1980; nơi cư trú: Số F T, T, Chợ L, tỉnh Bến Tre (vắng mặt);
- Ông Nguyễn Thanh T30, sinh năm 1969; nơi cư trú: Tổ B ấp V, xã C, thị xã T, tỉnh An Giang (vắng mặt);
- Ông Nguyễn Thành N5, sinh năm 1996; nơi cư trú: Ấp P, thị trấn C, huyện P, tỉnh An Giang (vắng mặt);
- Bà Mã Thị Kim L13, sinh năm 1995; nơi cư trú: Ấp B, xã P, huyện P, tỉnh An Giang (vắng mặt);
- Ông Nguyễn Văn S6, sinh năm: 1973; nơi cư trú: Ấp B, xã H, huyện P, tỉnh An Giang (vắng mặt);
- Ông Trần Thanh T31, sinh năm 1986; nơi cư trú: Ấp H, xã H, huyện P, tỉnh An Giang (vắng mặt);
- Ông Nguyễn Văn H19, sinh năm 1989; nơi cư trú: Số A tổ A ấp V, xã V, huyện A, tỉnh An Giang (vắng mặt);
- Ông Nguyễn Thành T32, sinh năm 1994; nơi cư trú: Ấp T, xã N, huyện T, tỉnh An Giang (vắng mặt);
- Ông Nguyễn Văn Q3, sinh năm 1991; nơi cư trú: Số A, tổ H ấp Đ, xã M, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt);
- Bà Phạm Thị N6, sinh năm 1963; nơi cư trú: Số nhà B, tổ H, ấp L, xã K, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt);
- Bà Nguyễn Thị N7, sinh năm 1983; nơi cư trú: Số nhà B, tổ C, ấp L, thị trấn C, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt);
- Bà Lê Thị Thúy L14, sinh năm 1964; nơi cư trú: Ấp P, Xã T, T, tỉnh An Giang (vắng mặt);
- Ông Trần Hoàng D5, sinh năm 1964; nơi cư trú: L, Ô Long M5, C, tỉnh An Giang (vắng mặt);
- Ông Nguyễn Văn K6, sinh năm 1995; nơi cư trú: Ấp P, xã T, huyện P, tỉnh Hậu Giang (văng mặt);
- Ông Lê Văn H20, sinh năm 1970; nơi cư trú: L, xã L B, Chợ M, tỉnh An Giang (vắng mặt);
- Ông Lê Quốc K7, sinh năm 1986; nơi cư trú: Ấp B, xã B, P, tỉnh An Giang (vắng mặt);
- Ông Lê Văn P14, sinh năm 1982; nơi cư trú: Ấp H, xã Đ, T, tỉnh An Giang (vắng mặt);
- Bà Nguyễn Thị Thúy V9, sinh năm 1987; nơi cư trú: 281, tổ H, ấp M, xã M, C, tỉnh An Giang (vắng mặt);
- Bà Tô Thu V10, sinh năm 1969; nơi cư trú: Khóm V, thị trấn C, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt);
- Ông Nguyễn Văn H21, nơi cư trú: Khóm V, thị trấn C, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt);
- Ông Nguyễn Thành T33, sinh năm 1956; nơi cư trú: Ấp A, xã H, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt);
- Bà Lê Thị T34, sinh năm 1953; nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt);
- Ông Nguyễn Quốc P15, sinh năm 1980; nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt);
- Bà Huỳnh Thị Cẩm H22, sinh năm 1988; nơi cư trú: Khóm L, L, T, tỉnh An Giang (vắng mặt);
- Ông Võ Văn N8, sinh năm 1959; nơi cư trú: Khóm L, L, thị xã T, tỉnh An Giang (vắng mặt);
- Ông Võ Văn Ở, nơi cư trú: Khóm L, L, thị xã T, tỉnh An Giang (vắng mặt);
- Ông Thái C7, sinh năm 1987; nơi cư trú: Ấp P, xã P, thị xã T, tỉnh An Giang (vắng mặt);
- Bà Đặng Thị Ngọc T35, sinh năm 1976; nơi cư trú: Ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt);
- Ông Lê Phú H23, sinh năm 1987, nơi cư trú: Ấp M, xã M, C, tỉnh An Giang (vắng mặt);
- Ông Cao Văn T36, sinh năm 1984; nơi cư trú: Khóm B, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (vắng mặt);
- Bà Trần Thị T37, nơi cư trú: Ấp T, T, thị xã T, tỉnh An Giang (vắng mặt);
- Ông Thái Công H24, nơi cư trú: Ấp H, xã H, huyện P, tỉnh An Giang (vắng mặt);
- Ông Phạm Văn H25, nơi cư trú: Ấp H, xã Đ, huyện T, tỉnh An Giang (vắng mặt);
- Bà Lê Thị T38, sinh năm 1983; nơi cư trú: Ấp V, xã V, huyện A, tỉnh An Giang (vắng mặt);
- Ông Phạm Văn H26, nơi cư trú: Ấp H, xã C, huyện T, tỉnh An Giang (vắng mặt);
- Bà La Mỹ L15, sinh năm 1974; nơi cư trú: Ấp P, xã V, huyện P, tỉnh Bạc Liêu (vắng mặt);
- Ông Lâm Văn H27 (Giám đốc Công ty C11) sinh năm 1947, nơi cư trú: Số B H, khóm C, phường C, TP B, tỉnh Bạc Liêu (vắng mặt);
- Ông Nguyễn Văn C5, sinh năm 1967; nơi cư trú: Ấp P, xã V, huyện P, tỉnh Bạc Liêu (vắng mặt);
- Ông Nguyễn Hoàng E2, sinh năm 1990; nơi cư trú: Ấp N, C, L, Sóc Trăng (vắng mặt);
- Ông Nguyễn Văn Minh T39, sinh năm 1990; nơi cư trú: Số E Quí Điền B, Thạnh Phú Đ6, G, tỉnh Bến Tre (vắng mặt);
- Bà Phạm Thị Kim T40, sinh năm 1988; nơi cư trú: Số C ấp A, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp (vắng mặt);
- Ông Nguyễn Văn T41, sinh năm 1976; nơi cư trú: B, B, tỉnh Bến Tre (vắng mặt);
- Bà Trần Thị Hồng C8, sinh năm 1985; nơi cư trú: Số F ấp T, B, B, tỉnh Bến Tre (vắng mặt);
- Ông Lê Minh L16, sinh năm 1979; nơi cư trú: Số D T, B, B, tỉnh Bến Tre (vắng mặt);
- Ông Lê Văn T42, sinh năm 1967; nơi cư trú: Số C T, B, huyện B, tỉnh Bến Tre (vắng mặt);
- Ông Nguyễn Văn D6, sinh năm 1961; nơi cư trú: Số C, KP4, Phường G, thành phố B, tỉnh Bến Tre (vắng mặt);
- Ông Lâm Văn T43, sinh năm 1961; nơi cư trú: Số B T, B, B, tỉnh Bến Tre (vắng mặt);
- Ông Nguyễn Văn Ú, nơi cư trú: Ấp B, xã L, huyện G, tỉnh Bến Tre (vắng mặt);
- Ông Bùi Văn T44, nơi cư trú: Số D T, B, huyện B, tỉnh Bến Tre (vắng mặt);
- Ông Trần Quốc D7, nơi cư trú: Số A T, B, huyện B, tỉnh Bến Tre (vắng mặt);
- Bà Nguyễn Ngọc Đ7, sinh năm 1972; nơi cư trú: Ấp H, K, huyện U, tỉnh Cà Mau (vắng mặt);
- Ông Lâm H28, sinh năm 1974; nơi cư trú: xã V, Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu (vắng mặt);
- Ông Lê Hoàng A1, sinh năm 1966; nơi cư trú: Ấp P, xã V, huyện P, tỉnh Bạc Liêu (vắng mặt);
- Ông Hồng Minh T45, sinh năm 1979; nơi cư trú: Khóm A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Cà Mau (vắng mặt);
- Bà Nguyễn Vũ L17, sinh năm 1978; nơi cư trú: Ấp V, xã P, huyện P, tỉnh Cà Mau (vắng mặt);
- Ông Phạm Văn K8, sinh năm 1972; nơi cư trú: Ấp E xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau (vắng mặt);
- Ông Phạm Văn T46, sinh năm 1982; nơi cư trú: N, T, tỉnh An Giang (vắng mặt);
- Bà Dương Thị Ngọc B4, nơi cư trú: Khóm G, phường F, thành phố C, tỉnh Cà Mau (vắng mặt);
- Ông Đỗ Minh N9, nơi cư trú: A, thành phố R, tỉnh Kiên Giang (vắng mặt);
- Ông Nguyễn Tấn H29, nơi cư trú: A T, phường H, quận N, thành phố Cần Thơ (vắng mặt);
- Ông Trần Văn H30, sinh năm 1979; nơi cư trú: Khóm M, phường M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp (vắng mặt);
- Ông Lâm Vũ Trường G1, sinh năm 1992; nơi cư trú: Xã Đ, huyện C, tỉnh Long An (vắng mặt);
- Ông Trần Phước N10, sinh năm 1965; nơi cư trú: Tổ A, Ấp M, xã M, huyện T, Đồng Tháp (vắng mặt);
- Ông Huỳnh Sơn Đ8, sinh năm 1979; nơi cư trú: Ấp R, xã C, Cầu K, Trà Vinh (có mặt);
- Bà Nguyễn Thị Thùy T47, nơi cư trú: Ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp (vắng mặt);
- Ông Lê Văn B5, sinh năm 1964; nơi cư trú: Ấp B, T, T, Đồng Tháp (vắng mặt);
- Ông Lê Văn M6, sinh năm 1951; nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện T, Đồng Tháp (vắng mặt);
- Ông Lê Phi H31, sinh năm 1951; nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện T, Đồng Tháp (vắng mặt);
- Ông Nguyễn Thành T48, sinh năm 1979; nơi cư trú: T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp (vắng mặt);
- Ông Hồ Văn V11, sinh năm 1985; nơi cư trú: Ấp V, xã Q, huyện V, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt);
- Bà Đào Thị Phương K9, sinh năm 1975; nơi cư trú: Tổ G, Đ, H, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp (vắng mặt);
- Ông La Văn T49, nơi cư trú: Ấp E, T, T, tỉnh Đồng Tháp (vắng mặt);
- Ông Nguyễn Văn M7, sinh năm 1986; nơi cư trú: 22 ấp Đ, xã L, C, Long An (vắng mặt);
- Ông Lê Tuấn K10, sinh năm 1982; nơi cư trú: Tổ A, khóm M, Phường C, thành phố C, Đồng Tháp (vắng mặt);
- Ông Trần Văn T22, sinh năm 1970; nơi cư trú: Ấp C, L, Đ, Bạc Liêu (vắng mặt);
- Ông Đặng Văn H32, nơi cư trú: Khu vực 5, T, thị xã L, tỉnh Hậu Giang (vắng mặt);
- Ông Lê Văn A2, nơi cư trú: Ấp M, thị trấn C, huyện P, tỉnh Hậu Giang (vắng mặt);
- Bà Phạm Thị N6, nơi cư trú: Ấp M, thị trấn C, huyện P, tỉnh Hậu Giang (vắng mặt);
- Ông Trần Văn Đ9, sinh năm 1977; nơi cư trú: Tổ C ấp S, thị trấn H, huyện H, tỉnh Kiên Giang (vắng mặt);
- Ông Lê Hoàng N11, nơi cư trú: Số I N, phường A, TP R, tỉnh Kiên Giang (vắng mặt);
- Ông Lâm Văn T50, nơi cư trú: V, huyện C, tỉnh Kiên Giang (vắng mặt);
- Công ty TNHH MTV C12, nơi cư trú: Tổ A B, H, TP P, tỉnh Kiên Giang (vắng mặt);
- Ông Nguyễn Văn L18, sinh năm 1980; nơi cư trú: Ấp Ô, xã L, huyện C, tỉnh Long An (vắng mặt);
- Bà Nguyễn Thị Lệ T51, sinh năm 1986; nơi cư trú: 92 ấp R, L, C, Long An (vắng mặt);
- Ông Nguyễn Hoàng T52, nơi cư trú: Ấp T, xã Đ, huyện C, tỉnh Long An (vắng mặt);
- Bà Huỳnh Thị N12, sinh năm 1989; nơi cư trú: Ấp A, An Lạc T53, K, Sóc Trăng (vắng mặt);
- Bà Nguyễn Thị V12, sinh năm 1961; nơi cư trú: Ấp A, An Lạc T53, K, Sóc Trăng (vắng mặt);
- Ông Phan Văn D8, sinh năm 1981; nơi cư trú: T, T, T, An Giang (vắng mặt);
- Ông Tàu Vĩnh T54, sinh năm 1985; nơi cư trú: Nội ô thị trấn H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt);
- Ông Đặng Thanh D9, sinh năm 1971; nơi cư trú: Ấp B, xã H, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt);
- Ông Phạm Ngọc T55, sinh năm 1970; nơi cư trú: Số B Ấp A xã T, thành phố M, tỉnh Tiền Giang (vắng mặt);
- Ông Nguyễn Ngọc G2, sinh năm 1994; nơi cư trú: B, tỉnh Bến Tre (vắng mặt);
- Ông Huỳnh Văn T56 (Giám đốc Công ty TNHH Đ11); nơi cư trú: Số A K đường L, phường T, Quận G, TP . (vắng mặt);
- Ông Nguyễn Minh H33, sinh năm 1986; nơi cư trú: Ấp T, xã Đ, huyện C, Long An (vắng mặt);
- Bà Mai Thị M8, nơi cư trú: Số F đưởng A, KDC B, Phường A, Quận F, TP . (vắng mặt);
- Ông Tuấn P16, sinh năm 1985; nơi cư trú: Số E khóm C, phường F, TP ., tỉnh Trà Vinh (vắng mặt);
- Ông Nguyễn Trung T57, sinh năm 1987; nơi cư trú: Khóm D, thị trấn C, huyện T, tỉnh Trà Vinh (vắng mặt);
- Ông Nguyễn Tấn C9, nơi cư trú: Ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh (vắng mặt);
- Ông Nguyễn Công K11, nơi cư trú: Ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh (vắng mặt);
- Ông Nguyễn Văn H34, sinh năm 1992; nơi cư trú: Khóm A, phường I, TP ., tỉnh Trà Vinh (vắng mặt);
- Ông Nguyễn Văn H35, sinh năm 1990; nơi cư trú: Khóm A, phường I, TP ., tỉnh Trà Vinh (vắng mặt);
- Ông Trần Vĩnh N13, nơi cư trú: Ấp T, xã A, huyện C, tỉnh Trà Vinh (vắng mặt);
- Ông Đinh Thị L19, sinh năm 1962; nơi cư trú: Ấp M, xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt);
- Ông Nguyễn Văn N14, sinh năm 1990; nơi cư trú: Ấp M, xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt);
- Bà Lê Thị Minh T58 (Giám đốc Công ty TNHH MTV V13), sinh năm 1979; nơi cư trú: Ấp P, xã P, L, Vĩnh Long (vắng mặt);
- Ông Hồ Văn T59, sinh năm 1986; nơi cư trú: Số A khóm D, phường I, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt);
- Ông Trịnh Văn S7, sinh năm 1990; nơi cư trú: Ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Trà Vinh (vắng mặt);
- Bà Nguyễn Ngọc L20, sinh năm 1962; nơi cư trú: Số G khóm C, phường C, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt);
- Bà Nguyễn Ngọc H36, nơi cư trú: Số H, khóm F, phường D, TP V, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt);
- Ông Đào Văn K12, nơi cư trú: Ấp M, xã M, huyện M, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt);
- Ông Nguyễn Văn T60, nơi cư trú: Ấp V, xã V, huyện T, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt);
- Ông Nguyễn Văn T61, nơi cư trú: Ấp D, xã B, thành phố G, tỉnh Tiền Giang (vắng mặt);
- Bà Bùi Thị Hồng T62, nơi cư trú: Ấp C, xã B, thành phố G, tỉnh Tiền Giang (vắng mặt);
- Ông Phạm Văn T63, nơi cư trú: Ấp E, xã B, thành phố G, tỉnh Tiền Giang (vắng mặt);
- Ông Ngô Ngọc T64, nơi cư trú: Số C T, B, B, Bến Tre (vắng mặt);
- Ông Nguyễn Minh H37, nơi cư trú: Số B T, B, Ba tri, Bến Tre (vắng mặt);
- Ông Nguyễn Thanh P17, nơi cư trú: Ấp T, B, G, Tiền Giang (vắng mặt);
- Ông Nguyễn Hữu C10, nơi cư trú: số 269/TL T, B, B, Bến Tre (vắng mặt);
- Ông Huỳnh Thanh H38, nơi cư trú: Ấp B, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu (vắng mặt);
- Bà Bùi Thị Kim X1, nơi cư trú: Ấp D, xã B, thành phố G, tỉnh Tiền Giang (vắng mặt);
- Ông Cao Văn M9, nơi cư trú: Ấp D, xã B, thành phố G, tỉnh Tiền Giang (vắng mặt);
- Ông Nguyễn Quốc N15, nơi cư trú: Ấp E, xã B, thành phố G, tỉnh Tiền Giang (vắng mặt);
- Ông Phạm Hữu N16, nơi cư trú: Ấp F, xã B, thành phố G, tỉnh Tiền Giang (vắng mặt);
- Ông Trần Văn D10, nơi cư trú: Ấp E, xã B, thành phố G, tỉnh Tiền Giang (vắng mặt);
- Bà Võ Phương T65, nơi cư trú: Ấp B, xã B, thành phố G, tỉnh Tiền Giang (vắng mặt);
- Ông Trương Minh T66, nơi cư trú: Ấp T, xã K, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trạm Cảnh sát đường thủy T70 (viết tắt là T70), địa chỉ: Khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang thuộc Phòng C13 Công an tỉnh A, được thành lập theo Quyết định số 2055/QĐ-BCA-X11 ngày 15/5/2012 và có chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy quy định tại Quyết định số 3025/QĐ-BCA-X11 ngày 13/7/2012 của Bộ trưởng Bộ C14. Theo đó, T70 có 2 chức năng chính là tổ chức thực hiện công tác bảo đảm trật tự an toàn giao thông đường thủy nội địa trên các tuyến đường thủy do Trạm phụ trách; tổ chức công tác tuần tra kiểm soát theo quy trình, kiểm tra các hoạt động của người, phương tiện giao thông nhằm phát hiện, xử lý kịp thời vi phạm giao thông đường thủy...T70 có Trạm trưởng Huỳnh Hữu T, được Giám đốc Công an tỉnh A bổ nhiệm từ tháng 8/2022 và 2 Phó trưởng Trạm là Nguyễn Văn N17, Lê Thành N18, các cán bộ gồm: Võ Quốc T67, Lê Văn P1, Nguyễn Sơn H39, Đào Quốc V và Ôn Vĩnh P18. Cán bộ T70 thực hiện nhiệm vụ cụ thể theo “Bảng phân công phụ trách công việc trong Trạm Cảnh sát đường thủy T70” được Phòng PC08 duyệt ngày 15/4/2024. Theo bảng phân công, công tác chuyên môn của Trạm chia làm 3 tổ: Tổ tuần tra kiểm soát, xử lý vi phạm hành chính gồm: Huỳnh Hữu T, Lê Thành N18, Nguyễn Văn N17, Lê Văn P1 và Đào Quốc V; Tổ Phòng, chống tội phạm và Tổ Tổng hợp.
Tổ Tuần tra kiểm soát thực hiện nhiệm vụ theo quy định tại Điều 3, Điều 9 Thông tư 36/2023/TT-BCA của Bộ C14 quy định quy trình tuần tra, kiểm soát và xử lý vi phạm hành chính của Cảnh sát đường thủy và theo Quyết định số 2940/QĐ-CAT-PX01 ngày 12/12/2003 của Giám đốc Công an tỉnh A, theo Lịch trực tuần tra kiểm soát do Trạm trưởng phân công. Tuần từ 06/5/2024 đến ngày 12/5/2024, Huỳnh Hữu T phân công: Mỗi ngày có 2 ca trực chia làm 2 tổ gồm tổ tuần tra lưu động và tổ trực tại trạm; Mỗi ca trực có Trạm trưởng hoặc Phó Trạm trưởng là tổ trưởng, thành viên tổ gồm Lê Văn P1 và Đào Quốc V trực cả hai ca trong các ngày. Đối với ca tuần tra lưu động thực hiện: Tổ tuần tra sử dụng xuồng máy Công an nhân dân di chuyển đến gần phương tiện, ra tín hiệu dừng phương tiện, cập mạn, lên tàu kiểm tra, kiểm tra độ chìm của phương tiện so với vạch dấu mớn nước an toàn, số lượng thuyền viên, trang thiết bị cứu sinh, cứu đắm... rồi chở thuyền viên vào Trạm (vị trí nhà nổi) để tiến hành kiểm tra hồ sơ phương tiện, hóa đơn hàng hóa (nếu chở hàng). Nếu phát hiện lỗi vi phạm sẽ tiến hành lập biên bản xử lý vi phạm hành chính.
Đầu tháng 5/2024, Huỳnh Hữu T chỉ đạo Lê Văn P1 và Đào Quốc V nhận tiền của chủ phương tiện, tài công điều khiển sà lan vận chuyển cát từ thượng nguồn sông T đi qua Trạm, để không kiểm tra thực tế phương tiện và bỏ qua lỗi phương tiện, người điều khiển. Sau đó, Lê Văn P1 và Đào Quốc V thực hiện theo chỉ đạo của Huỳnh Hữu T, khi các sà lan chở cát đến Trạm T thì P1 hoặc V chỉ ngồi trực ở nhà nổi, không dùng xuống máy cập mạn tàu để kiểm tra thực tế, đưa người vào Trạm kiểm tra giấy tờ, hóa đơn mà cho phép Dương Thanh P19 - sinh năm 1966, trú tại: Ấp E, V, thị xã T, An Giang điều khiển 01 chiếc đò gỗ từ Trạm T ra cập mạn sà lan để đón tài công hoặc chủ phương tiện vào Trạm. P19 thu tiền phí vận chuyển 30.000 đồng/lượt người. Khi đến nhà nổi của T68, chủ phương tiện hoặc tài công kẹp tiền vào giấy tờ, hồ sơ phương tiện, đưa cho Lê Văn P1 hoặc Đào Quốc V ngồi tại ô cửa kính của nhà nổi. Phát hoặc V nhận hồ sơ, cất tiền vào ngăn kéo bàn làm việc rồi trả lại giấy tờ cho chủ phương tiện hoặc tài công. Lê Văn P1 hoặc Đào Quốc V ghi số tiền nhận, biển số phương tiện vào tờ giấy A4 (mẫu tự soạn, được đánh máy số thứ tự từ 01 đến 100), các bị can thống nhất cách ghi tiền theo đơn vị tính ký hiệu là “cm”, 1 cm tương đương 100.000 đồng). Đến cuối ca trực trong ngày, Lê Văn P1 và Đào Quốc V dùng tờ giấy A4 đã viết số tiền, biển phương tiện gói tiền đã nhận được và đưa cho Huỳnh Hữu T.
Vào hồi 17 giờ 15 phút ngày 12/5/2024, Tổ Thanh tra đặc biệt liên ngành của Bộ C14 tiến hành kiểm tra T70, phát hiện: Lê Văn P1 đang ngồi trực tại nhà nổi, trực tiếp nhận tiền của 04 tài công, chủ sà lan đến trình giấy tờ, gồm: Anh Lê Văn M10 - sinh năm 1992, trú tại: thị trấn R, huyện C, tỉnh Hậu Giang, điều khiển sà lan số hiệu HGi-5899 đưa 500.000 đồng; anh Phan Văn T69 - sinh năm 1974, trú tại: Ấp T, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang, điều khiển sà lan số hiệu ĐT-187.29 đưa 400.000 đồng; chị Nguyễn Thị M11 - sinh năm 1998, trú tại: phường P, thành phố H, tỉnh Kiên Giang, chủ sà lan số hiệu KG-582.07; anh Đỗ Minh S8 - sinh năm 1989, trú tại: phường L, thị xã T, tỉnh An Giang, điều khiển sà lan số hiệu AG-226.29, đang kẹp 200.000 đồng vào hồ sơ phương tiện nhưng chưa kịp đưa Lê Văn P1 thì bị kiểm tra. Từ ngày 10/5/2024 đến ngày 12/5/2024, Lê Văn P1 nhận 64.850.000 đồng và Đào Quốc V nhận 54.850.000 đồng của tổng số 269 lượt phương tiện, tương ứng với 249 chủ phương tiện hoặc tài công vào Trạm trình giấy tờ kiểm tra. Số tiền đưa của mỗi lượt từ 100.000 đồng đến 1.000.000 đồng. Lê Văn P1 và Đào Quốc V chưa kịp đưa tiền cho Huỳnh Hữu T vì là ngày nghỉ cuối tuần.
Mở rộng điều tra xác định, từ ngày 06/5/2024 đến ngày 09/5/2024, Lê Văn P1 và Đào Quốc V đã nhận tổng số tiền 368.700.000 đồng, số tiền đưa của mỗi lượt là từ 100.000 đồng đến 1.000.000 đồng, một ngày có khoảng 200 lượt chủ phương tiện, tài công vào Trạm trình giấy tờ và đưa tiền cho Lê Văn P1 và Đào Quốc V. Huỳnh Hữu T đã xé bỏ tờ giấy A4 mà Lê Văn P1, Đào Quốc V ghi theo dõi biển số phương tiện và số tiền nhận từ ngày 06/5/2024 đến ngày 09/5/2024 nên Cơ quan điều tra không thu giữ được. Trên cơ sở dữ liệu kiểm tra hóa đơn của phương tiện chở hàng, Cơ quan điều tra đã xác minh được 74 chủ phương tiện và ghi lời khai của chủ phương tiện, tài công, khai có đưa tiền cho Lê Văn P1 và Đào Quốc V để bỏ qua lỗi vi phạm và không kiểm tra thực tế phương tiện. Số tiền Lê Văn P1 và Đào Quốc V nhận được phù hợp với lời khai của Lê Văn P1 và Đào Quốc V, Dương Thanh P19, Huỳnh Hữu T, phù hợp với số tiền, chữ viết của T ghi mệnh giá tiền của T, phù hợp với lời khai của người trình giấy tờ, mục đích đưa tiền cho P1 là để không bị kiểm tra, xử lý vi phạm do chở cát quá tải trọng, vượt dấu mớn nước an toàn.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ C14 đã trưng cầu giám định chữ viết trên các tờ giấy A4 có chữ viết và tờ giấy lịch; phục hồi, trích xuất dữ liệu điện tử để xác định nguồn gốc mẫu giấy A4.
Tại Kết luận giám định số 4620/KL-KTHS ngày 30/8/2024 của Phân Viện Khoa học hình sự Bộ C14 kết luận: Chữ viết, chữ số bắt đầu số thứ tự 01 đến 51; số thứ tự 1 đến 68; số thứ tự 31 đến 36; số thứ tự 1 đến 10 trên 04 tờ bảng kê (thu tiền ngày 10, 11 và 12/5/2024) là do Lê Văn P1 viết ra; chữ viết, chữ số bắt đầu thứ tự 1 đến 30; số thứ tự 11 đến 39; số thứ tự 1 đến 43; số thứ tự 1 đến 25 trên 04 tờ bảng kê (thu tiền ngày 10, 11 và 12/5/2024) là do Đào Quốc V viết ra.
- Chữ viết, chữ số trên 05 tờ giấy lịch bọc tiền (thu tiền từ ngày 06/5/2024 đến ngày 09/5/2024) là do Huỳnh Hữu T viết ra.
Tại Kết luận giám định số 5138/KL-KTHS ngày 20/9/2024 của Phân Viện Khoa học hình sự Bộ C14 kết luận: Phục hồi, trích xuất được dữ liệu trong máy laptop và ổ cứng máy tính thu giữ tại Trạm Cảnh sát đường thủy T70 (dữ liệu được trích xuất ra 01 thiết bị lưu DVD). Qua kiểm tra, rà soát dữ liệu thu giữ được, không phát hiện mẫu tờ giấy A4 mà Lê Văn P1 và Đào Quốc V ghi theo dõi việc thu tiền của người vào trình trạm.
Tại Cơ quan điều tra, Huỳnh Hữu T, Lê Văn P1 và Đào Quốc V thừa nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Theo đó, Huỳnh Hữu T là người chỉ đạo Lê Văn P1 và Đào Quốc V nhận tiền. Huỳnh Hữu T, Lê Văn P1 và Đào Quốc V khai T không chỉ đạo chung mà gọi riêng từng người, tuy nhiên từ ngày 06/5/2024 đến ngày 12/5/2024, V và P1 đều trực tuần tra, kiểm soát trong cùng 01 Tổ công tác, thay nhau ngồi tại nhà nổi để nhận tiền của người vào trình trạm rồi đưa tiền cho T. Tại các tờ giấy A4 ghi số phương tiện, số tiền thu từ ngày 10/5 đến 12/5/2024 (đã thu giữ) thể hiện trong ngày 10/5/2024 và ngày 12/5/2024, Lê Văn P1 và Đào Quốc V ghi chung số tiền thu của các chủ phương tiện trong ngày trên cùng 01 tờ giấy A4. Mặt khác, Lê Văn P1 và Đào Quốc V đã thống nhất về cách ghi ký hiệu “cm” tương ứng số tiền 100.000 đồng để tránh bị phát hiện. Vì vậy, Lê Văn P1 và Đào Quốc V cùng chung ý chí trong việc thực hiện chỉ đạo của Huỳnh Hữu T, thu tiền của người trình trạm để chuyển cho T, nên Huỳnh Hữu T, Lê Văn P1 và Đào Quốc V đồng phạm và cùng phải chịu trách nhiệm hình sự với tổng số tiền nhận hối lộ là 488.400.000 đồng.
Vật chứng, tài liệu, tài sản đã thu giữ gồm:
Thu giữ của Lê Văn P1 tổng số 116.650.000 đồng (trong đó có 64.850.000 đồng là tiền P1 nhận hối lộ); 3 tờ giấy A4 có chữ viết ghi theo dõi số tiền nhận và 17 tờ giấy A4 mẫu. Thu giữ của Đào Quốc V số tiền 106.650.000 đồng (trong đó có 54.850.000 đồng là tiền Vĩ nhận hối lộ); 3 tờ giấy A4 có chữ viết ghi theo dõi số tiền đã nhận. Thu giữ của Huỳnh Hữu T 761.700.000 đồng (trong đó có 368.700.000 đồng là tiền Lê Văn P1 và Đào Quốc V nhận hối lộ từ ngày 06/5/2024 đến ngày 09/5/2024). Thu giữ của Dương Thanh P19 3.060.000 đồng là tiền của người vào trình trạm trả phí đưa đò cho P19 ngày 12/05/2024.
Thu giữ khi khám xét nơi làm việc của Huỳnh Hữu T: 01 laptop, nhãn hiệu ASUS màu đen, có số seri: CAN0 CV588431441 và 01 cây máy tính, nhãn hiệu: Desktop, số P ID: 00330-8000-00000-AA902. Quá trình điều tra xác định những tài sản này không liên quan đến vụ án nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là T70.
Tại Cáo trạng số: 2167/CT-VKSTC-V3 ngày 10/02/2025, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã truy tố Huỳnh Hữu T, Lê Văn P1 và Đào Quốc V về tội “Nhận hối lộ” theo điểm c khoản 2 Điều 354 của Bộ luật Hình sự.
Tại Cơ quan điều tra và phiên tòa sơ thẩm các bị cáo Huỳnh Hữu T, Lê Văn P1 và Đào Quốc V khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên.
Người có liên quan trong vụ án và người làm chứng có mặt, vắng mặt tại phiên tòa khai phù hợp với nội dung Cáo trạng đã nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với các bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 354; điểm s, điểm v khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Huỳnh Hữu T từ 05 năm đến 06 năm tù, Lê Văn P1 từ 04 năm đến 05 năm tù và Đào Quốc V từ 04 năm đến 05 năm tù; miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo. Áp dụng Điều 46, 47, 48 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước tiền các bị cáo nhận hối lộ, trong đó tịch thu của bị cáo Huỳnh Hữu T 368.700.000 đồng; tịch thu của bị cáo Lê Văn P1 64.850.000 đồng; tịch thu của bị cáo Đào Quốc V 54.850.000 đồng. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 3.060.000 đồng là tiền của Dương Thanh P19 thu lợi bất chính từ những người vào trình trạm trả phí đưa đò cho P19. Trả lại cho các bị cáo số tiền cá nhân, trong đó trả lại cho bị cáo Huỳnh Hữu T 393.000.000 đồng; trả lại cho bị cáo Lê Văn P1 51.800.000 đồng; trả lại cho bị cáo Đào Quốc V 51.800.000 đồng.
Các bị cáo Huỳnh Hữu T, Lê Văn P1 và Đào Quốc V không bào chữa gì về tội danh và những vấn đề khác của vụ án.
Người bào chữa cho bị cáo Huỳnh Hữu T đồng ý với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về việc truy tố bị cáo Huỳnh Hữu T về tội “Nhận hối lộ” theo điểm c khoản 2 Điều 354 của Bộ luật Hình sự, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Căn cứ Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo dưới khung hình phạt mà điều luật quy định và thấp hơn mức hình phạt Viện kiểm sát đề nghị tại phiên toà đối với bị cáo Huỳnh Hữu T.
Bị cáo Huỳnh Hữu T nhất trí với bản luận cứ bào chữa của người bào chữa, đồng thời không bào chữa hoặc tranh luận thêm gì khác, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Các bị cáo Lê Văn P1 và Đào Quốc V không bào chữa và tranh luận gì, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Trong phần đối đáp một lần nữa đại diện Viện kiểm sát nhân dân vẫn giữ nguyên quan điểm như đã đề nghị tại bản luận tội nêu trên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét và quyết định hình phạt theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
- Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Tại phiên tòa, người có liên quan trong vụ án có mặt, vắng mặt. Xét thấy, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ vào Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Huỳnh Hữu T, Lê Văn P1 và Đào Quốc V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên; lời khai nhận tội của các bị cáo là phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của người có liên quan trong vụ án về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:
Huỳnh Hữu T là lãnh đạo, Lê Văn P1 và Đào Quốc V là cán bộ Trạm T, có nhiệm vụ, quyền hạn trong việc tuần tra, kiểm soát các phương tiện vận chuyển cát từ thượng nguồn sông T đi qua Trạm. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao, từ ngày 06/5/2024 đến ngày 12/5/2024, Huỳnh Hữu T đã chỉ đạo Lê Văn P1 và Đào Quốc V nhận tổng số 488.400.000 đồng của các chủ phương tiện, tài công, để không kiểm tra thực tế phương tiện, bỏ qua lỗi vi phạm của tài công, chủ phương tiện, vi phạm Điều 3, Điều 9 Thông tư 36/2023/TT-BCA, của Bộ C14 quy định quy trình tuần tra, kiểm soát và xử lý vi phạm hành chính của Cảnh sát đường thủy.
Hành vi nêu trên của các bị cáo Huỳnh Hữu T, Lê Văn P1 và Đào Quốc V đã phạm tội “Nhận hối lộ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 354 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) có khung hình phạt từ 07 năm đến 15 năm tù.
[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến hoạt động đúng đắn, bình thường, tính chuẩn mực trong công tác của cơ quan, tổ chức do nhà nước quy định, gây mất trật tự trị an và an toàn cho xã hội, làm quần chúng nhân dân lên án và bất bình.
[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, vai trò tham gia trong vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Các bị cáo đều là người đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bản thân đều là người có chức vụ, quyền hạn trong lực lượng Công an nhân dân, người có kiến thức hiểu biết về pháp luật nhưng không chịu tu dưỡng, rèn luyện bản thân, yên tâm công tác và cống hiến cho xã hội dẫn đến vi phạm pháp luật. Xét tính chất của vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội được thực hiện với lỗi cố ý, động cơ, mục đích của tội phạm là lợi dụng chức vụ quyền hạn để thu lợi bất chính.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo đã thành khẩn khai báo và thực sự ăn năn hối cải; người phạm tội là người có nhiều thành tích xuất sắc trong công tác; các bị cáo đều có thân nhân là người có công với đất nước được tặng thưởng H40, Huy chương. Đây là các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s, điểm v khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xét thấy: Hậu quả của tội phạm là rất nghiêm trọng, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù cách ly khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục cải tạo các bị cáo trở thành người lương thiện, người công dân có ích cho xã hội là có cơ sở, xét chấp nhận.
Trong vụ án này có nhiều bị cáo cùng thực hiện tội phạm, có bị cáo giữ vai trò chính, chỉ đạo thực hiện; có bị cáo là đồng phạm thực hiện hành vi tích cực, nên cần phân hoá vai trò của từng bị cáo để xử lý.
Trước hết đối với bị cáo Huỳnh Hữu T là người được sinh ra và lớn lên trong gia đình truyền thống cách mạng, bản thân T đi đào tạo cơ bản trong lực lượng Công an nhân dân, được bổ nhiệm làm Trường T70, lẽ ra bị cáo phải làm tốt công việc được phân công, chấp hành nghiêm quy định của pháp luật, gương mẫu để cấp dưới học tập noi theo, nhưng ngược lại bị cáo vì vụ lợi đã lợi dụng chức vụ quyền hạn chỉ đạo cấp dưới Lê Văn P1 và Đào Quốc V nhận tiền của các chủ phương tiện, tài công để không kiểm tra thực tế phương tiện, bỏ qua lỗi vi phạm của tài công, chủ phương tiện với tổng số tiền nhận hối lộ là 488.400.000 đồng. Bị cáo giữ vai trò chính trong vụ án, nên mức hình phạt đối với bị cáo cao hơn các bị cáo khác.
Đối với các bị cáo Lê Văn P1, Đào Quốc V, trong thời gian trong thời gian từ ngày 06/5/2024 đến ngày 12/5/2024 thực hiện nhiệm vụ được giao theo sự chỉ đạo của bị cáo T, bị cáo P1, V đã nhận tiền của các chủ phương tiện, tài công để không kiểm tra thực tế phương tiện, bỏ qua lỗi vi phạm của tài công, chủ phương tiện với tổng số tiền nhận hối lộ là 488.400.000 đồng. Sau khi nhận tiền, các bị cáo đưa lại cho bị cáo T và chưa được hưởng lợi. Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với vai trò đồng phạm, do đó cần áp dụng mức hình phạt nghiêm tương xứng với tính chất, hành vi của các bị cáo, nhưng thấp hơn bị cáo T.
Xét, các bị cáo có hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên cần áp dụng quy định tại khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự để quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà Điều luật quy định đối với các bị cáo cũng đủ tác dụng răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội như quan điểm đề nghị của đại diện Viên kiểm sát là có cơ sở.
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 354 của Bộ luật Hình sự thì người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 đến 05 năm, có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Xét thấy, việc áp dụng hình phạt bổ sung cấm đảm nhiệm chức vụ đối với bị cáo là cần thiết, đo đó, cần cấm các bị cáo Huỳnh Hữu T, Lê Văn P1 và Đào Quốc V đảm nhiệm chức vụ có liên quan đến lĩnh vực phạm tội một thời gian nhất định từ 01 đến 02 năm sau khi chấp hành xong hình phạt tù.
[6] Đối với những ý kiến, quan điểm của người bào chữa cho rằng bị cáo Huỳnh Hữu T được áp dụng nhiều tình tiết giảm nhẹ, đề nghị quyết định mức hình phạt thấp hơn đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị là không phù hợp với phân tích và nhận định của Hội đồng xét xử như đã nêu trên, do đó không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[7] Các vấn đề khác:
- Đối với 211 chủ phương tiện hoặc tài công có hành vi kẹp tiền vào hồ sơ đưa cho cán bộ Trạm Cảnh sát đường thủy T70 để không bị kiểm tra thực tế, được đi qua nhanh hoặc không bị xử phạt hành chính. Hành vi nêu trên có dấu hiệu của tội đưa hối lộ, tuy nhiên số tiền chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, Cơ quan điều tra đã chuyển hồ sơ, tài liệu cho Công an tỉnh A để xử lý hành chính là có căn cứ, đúng pháp luật.
- Đối với Nguyễn Văn N17 và Lê Thành N18 là Tổ trưởng Tổ tuần tra kiểm soát trong các ca trực; Dương Thanh P19 đã lái thuyền gỗ ra chở người vào Trạm đưa giấy tờ cho Lê Văn P1 và Đào Quốc V kiểm tra và thu tiền phí vận chuyển mỗi lượt là 30.000đ. Tuy nhiên, do không biết rõ động cơ, mục đích của tội phạm nên Cơ quan điều tra không xử lý là có căn cứ.
[8] Về vật chứng: Đối với số tiền nhận hối lộ; tiền thu giữ của Dương Thanh P19 3.060.000 đồng cần tịch thu để sung vào ngân sách Nhà nước. Đối với số tiền thu giữ của các bị cáo Huỳnh Hữu T, Lê Văn P1 và Đào Quốc V không liên quan tội phạm thì trả lại cho các bị cáo. Đối với các tờ giấy A4 có chữ viết ghi theo dõi số tiền nhận hối lộ và các tờ giấy A4 mẫu, đây là chứng cứ chứng minh tội phạm nên cần lưu giữ hồ sơ vụ án. Đối với máy laptop, cây máy tính thu giữ trong phòng làm việc của Huỳnh Hữu T, quá trình điều tra xác định những tài sản, đồ vật này không liên quan đến vụ án, Cơ quan điều tra đã trả lại cho T70 nên Hội đồng xét xử không đề cập xử lý tiếp.
[9] Về các vấn đề khác: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố các bị cáo Huỳnh Hữu T, Lê Văn P1 và Đào Quốc V đồng phạm tội “Nhận hối lộ”.
- Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 354; điểm s, điểm v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1 Điều 54; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017): Xử phạt bị cáo Huỳnh Hữu T 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 06/8/2024).
- Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 354; điểm s, điểm v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1 Điều 54; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017): Xử phạt bị cáo Lê Văn P1 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 06/8/2024).
- Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 354; điểm s, điểm v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1 Điều 54; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017): Xử phạt bị cáo Đào Quốc V 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 06/8/2024).
Căn cứ Điều 41; khoản 5 Điều 354 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017): Cấm các bị cáo Huỳnh Hữu T, Lê Văn P1 và Đào Quốc V đảm nhiệm chức vụ có liên quan đến lĩnh vực vi phạm trong thời hạn 01 (một) năm, kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù.
Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước của bị cáo Huỳnh Hữu T 368.700.000 đồng; bị cáo Lê Văn P1 64.850.000 đồng; bị cáo Đào Quốc V 54.850.000 đồng; của Dương Thanh P19 3.060.000 đồng.
- Trả lại cho các bị cáo số tiền cá nhân của các bị cáo, trong đó trả lại cho bị cáo Huỳnh Hữu T 393.000.000 đồng; trả lại cho bị cáo Lê Văn P1 51.800.000 đồng; trả lại cho bị cáo Đào Quốc V 51.800.000 đồng.
- (Theo Ủy nhiệm chi ngày 28/02/2025 tại Kho bạc nhà nước Thành phố H giữa Văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ C14 (C01) với Cục Thi hành án dân sự tỉnh An Giang).
- Tiếp tục lưu hồ sơ vụ án các tờ giấy A4 có chữ viết ghi theo dõi số tiền nhận hối lộ và các tờ giấy A4 mẫu.
Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTV-QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Các bị cáo Huỳnh Hữu T, Lê Văn P1 và Đào Quốc V mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Các bị cáo, người có liên quan trong vụ án có mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với người có liên quan trong vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thuận Lợi |
Bản án số 18/2025/HS-ST ngày 21/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về hình sự (nhận hối lộ)
- Số bản án: 18/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Nhận hối lộ)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nhận hối lộ
