|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAK ĐOA TỈNH GIA LAI Bản án số: 18/2025/HS-ST Ngày: 21 - 3 - 2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAK ĐOA, TỈNH GIA LAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Long
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lưu Thông
- Bà Nguyễn Thị Châu
- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Đức Quang – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Tiến - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Đak Đoa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 02/2025/TLST-HS ngày 22 tháng 1 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2025/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 2 năm 2025 đối với bị cáo:
DÊM, sinh ngày 01-01-2004 tại Gia Lai; căn cước công dân số [...]; nơi cư trú: Thôn K, xã K, huyện Đ, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: không; trình độ văn hoá: 0/12; dân tộc: Bana; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông D (đã chết) và bà P, sinh năm 1973; bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
Ngày 20-5-2021, bị Tòa án nhân dân huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội "Cướp tài sản" quy định tại điểm e khoản 2 Điều 168 của Bộ luật Hình sự theo Bản án số 27/2021/HS-ST.
Ngày 08-4-2022, bị Tòa án nhân dân huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai xử phạt 01 năm tù về tội "Trộm cắp tài sản" quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự theo Bản án số 20/2022/HS-ST. Tổng hợp với hình phạt tại Bản án số 27/2021/HS-ST, buộc Dêm chấp hành hình phạt của 2 bản án là 03 năm 06 tháng tù; ngày 23-3-2024, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28-9-2024. Có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Huỳnh Văn K – Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh G. Có mặt.
Bị hại:
- Bà H; địa chỉ: Làng D, xã K, huyện Đ, tỉnh Gia Lai; Vắng mặt.
- Anh W; địa chỉ: Làng T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Gia Lai; Vắng mặt.
- Ông Nguyễn Hữu V; địa chỉ:Thôn D, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Gia Lai; Vắng mặt.
- Ông H1; địa chỉ: Thôn K, xã K, huyện Đ, tỉnh Gia Lai; Vắng mặt.
- Chị Tống Thị T; địa chỉ: Thôn D, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Gia Lai; Vắng mặt.
- Anh L; địa chỉ: Làng D, xã A, huyện Đ, tỉnh Gia Lai; Có mặt.
- Anh H2; địa chỉ: Làng K, xã K, huyện Đ, tỉnh Gia Lai; Vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Anh T1; địa chỉ: Làng Đ - D, thị trấn K, huyện M, tỉnh Gia Lai; Vắng mặt.
- Anh D1; địa chỉ: Làng Đ - D, thị trấn K, huyện M, tỉnh Gia Lai; Vắng mặt.
- Anh T2; địa chỉ: Làng Đ - D, thị trấn K, huyện M, tỉnh Gia Lai; Vắng mặt.
- Anh K1; địa chỉ: Làng Đ - D, thị trấn K, huyện M, tỉnh Gia Lai; Vắng mặt.
Người phiên dịch: Bà H3; địa chỉ: Thôn P, xã A, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do không có nghề nghiệp và không có tiền tiêu xài nên từ ngày 4-7-2024 đến ngày 14-9-2024, D2 khai nhận đã thực hiện 07 lần trộm cắp xe mô tô trên địa bàn huyện Đ, tỉnh Gia Lai, cụ thể:
Lần thứ nhất: Tối ngày 4-7-2024, D2 đi bộ từ nhà đến làng Tul Đoa, xã Đak Sơ mei, huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai để chơi. Khi đi ngang qua nhà chị W1 (sinh năm 1991 trú tại làng T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Gia Lai) Dêm quan sát thấy 01 xe mô tô hiệu Sirius màu đen, không có biển số dựng trước sân nhà, chìa khóa cắm trên xe, nhà không có cổng và không có ai trông coi nên D2 lén lút đi vào lấy trộm xe mô tô trên rồi điều khiển đến nhà D1 (sinh năm 1999 trú tại làng Đ - D, thị trấn K, huyện M, tỉnh Gia Lai) để chơi, sau đó bán xe trên cho D1 với số tiền 1.300.000 đồng. Số tiền trên D2 đã tiêu xài cá nhân hết.
Tại Kết luận định giá tài sản số 118 ngày 28-10-2024, Hội đồng định giá tài sản huyện Đ kết luận xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius màu đen không có biển số, số máy 5C6H134973, số khung C6HOFY134960 trị giá 3.000.000 đồng.
Lần thứ hai: Sáng ngày 1-8-2024, D2 đi bộ từ làng T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Gia Lai để về nhà. Khi đi ngang qua rẫy cà phê thuộc làng K, xã K, huyện Đ, tỉnh Gia Lai của chị Tống Thị T (sinh năm 1981 trú tại Thôn D, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Gia Lai), D2 thấy xe mô tô hiệu Sirius biển số 81C1-082.00 để trong vườn cà phê không có ai trông coi, cách đó 10m có 01 túi balo để dưới đất. Dêm tìm trong balo thấy 01 chìa khóa xe nên D2 sử dụng chìa khóa để nổ máy rồi điều khiển xe mô tô trên đến nhà D1 rồi điều khiển xe trên đến nhà T2 (sinh năm 1999, trú tại làng Đ - D, thị trấn K, huyện M, tỉnh Gia Lai) để chơi và bán xe mô tô trên cho T2 với số tiền 1.500.000 đồng. Số tiền trên D2 đã tiêu xài cá nhân hết.
Tại Kết luận định giá tài sản số 108 ngày 03-10-2024, Hội đồng định giá tài sản huyện Đ kết luận xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius biển số 81C1-082.00 trị giá 7.000.000 đồng.
Lần thứ ba: Chiều ngày 16-8-2024, D2 đi bộ lên trên núi thuộc làng K, xã K để câu cá. Khi đến nơi, D2 thấy xe mô tô hiệu Sirius biển số 81P1-231.11 của anh L (sinh năm 2006, trú tại làng D, xã A, huyện Đ, tỉnh Gia Lai) không có người trông coi nên D2 lấy trộm xe mô tô trên, dắt bộ khoảng 10m sau đó dùng tay bẻ bửng trước của xe, đấu dây điện để nổ máy xe rồi điều khiển xe mô tô trên đến nhà D chơi. Đến ngày hôm sau Dêm gặp T1 (sinh năm 1998, trú tại làng Đ - D, thị trấn K, huyện M, tỉnh Gia Lai) nên D2 bán xe mô tô trên cho T1 với số tiền 900.000 đồng. Số tiền trên D2 đã tiêu xài cá nhân hết.
Tại Kết luận định giá tài sản số 106 ngày 03-10-2024, Hội đồng định giá tài sản huyện Đ kết luận xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius biển số 81P1-231.11 trị giá 8.000.000 đồng.
Lần thứ tư: Khoảng 22 giờ ngày 26-8-2024, D2 đi bộ ngang qua nhà anh H2 (sinh năm 2000, trú tại làng K, xã K, huyện Đ, tỉnh Gia Lai), D2 quan sát thấy 01 xe mô Sirius biển số 81E1-085.85 để trước sân nhà có cắm chìa khóa trên xe nhưng không có người trông coi, nhà không có cổng nên D2 lén lút lấy trộm xe mô tô trên rồi điều khiển đến làng Đ - D, thị trấn K, huyện M, tỉnh Gia Lai mục đích để bán xe nhưng không ai mua nên D2 điều khiển xe mô tô trên đến lô cao su thuộc làng K, xã K bỏ xe tại lô cao su rồi đi về. Ngày 09-9-2024, anh H2 đi làm ngang qua lô cao su thì nhìn thấy xe mô tô của mình nên đã điều khiển về nhà.
Tại Kết luận định giá tài sản số 139 ngày 16-12-2024, Hội đồng định giá tài sản huyện Đ kết luận xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, biển số 81E1-085.85 trị giá 12.000.000 đồng.
Lần thứ năm, lần thứ sáu và lần thứ bảy: Từ ngày 11-9-2024 đến ngày 14-9-2024, D2 thực hiện 3 lần trộm cắp tài sản, cụ thể:
Ngày 11-9-2024, D2 đi bộ đến làng K, xã K mục đích tìm tài sản để trộm cắp. Khi đi ngang qua nhà anh H1 (sinh năm 1989), D2 thấy xe mô tô Wave RSX biển số 81C1-176.98 để gần nhà bếp không có người trông coi nên D2 lấy trộm xe mô tô trên dắt bộ ra ngoài khoảng 10m thì dùng tay bẻ bửng trước của xe, đấu dây điện nổ máy xe rồi điều khiển đến làng D rơ, xã K. Trên đường đi D2 thấy xe mô tô Sirius 50 màu trắng, không có biển số dựng trước sân nhà chị H (sinh năm 1975) thuộc làng D rơ, xã K, trên xe có cắm chìa khóa, không có người trông coi, nhà không có cổng nên D2 điều khiển xe mô tô Wave biển số 81C1-176.98 đến rẫy cà phê cách đó khoảng 100m và bỏ xe Wave trong rẫy cà phê rồi đi bộ lại nhà chị H lấy trộm xe Sirius 50. Đến ngày 14-9-2024, D2 điều khiển xe Sirius 50 đi chơi tại làng T, xã Đ, huyện Đ, nhưng do xe không có ống bô nên D2 giấu xe trong bụi cỏ bên đường rồi tiếp tục đi bộ tìm tài sản để trộm cắp.
Trên đường đi ngang qua rẫy cà phê thuộc thôn D, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Gia Lai, D2 thấy xe mô tô Sirius màu đỏ biển số 81R4-3985 của anh Nguyễn Hữu V (sinh năm 1975) không có người trông coi, có cắm chìa khóa trên xe nên D2 lấy trộm xe mô tô trên rồi điều khiển đến nhà D1 chơi.
Trong lúc chơi tại nhà D1, thì D2 gặp K1 (sinh năm 2004 trú tại làng Đ - D, thị trấn K, huyện M, tỉnh Gia Lai) nên D2 bán xe mô tô trên cho K1 với giá 1.500.000 đồng. Số tiền trên D2 đã tiêu xài cá nhân hết.
Sau đó vài ngày (Dêm không nhớ rõ ngày), D2 nhờ T2 chở đến làng T, xã Đ, để lấy xe Sirius 50 do D2 giấu từ trước rồi D2 điều khiển xe Sirius 50 đến nhà anh C (sinh năm 1985, trú tại làng J, xã H, huyện M, tỉnh Gia Lai) để chơi. Khi đến nơi, D2 thấy ở sân nhà anh C có 01 biển số 81K1-000.70 để ở sân nên D2 tự ý lấy biển số gắn vào xe Sirius 50.
Ngày 27-9-2024, khi D2 đang điều khiển xe Sirius 50 đi chơi tại xã K, thì bị Công an xã K tuần tra, kiểm soát yêu cầu dừng xe để kiểm tra nhưng D2 không xuất trình được giấy tờ xe. Quá trình làm việc, D2 khai nhận xe mô tô trên là do D2 trộm cắp và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Tại Kết luận định giá tài sản số 116 ngày 28-10-2024, Hội đồng định giá tài sản huyện Đ kết luận xe mô tô Honda Wave RSX biển số 81C1- 176.98 trị giá 12.500.000 đồng.
Tại Kết luận định giá tài sản số 105 ngày 03-10-2024, Hội đồng định giá tài sản huyện Đ kết luận xe mô tô Sirius 50 trị giá 14.000.000 đồng.
Tại Kết luận định giá tài sản số 104 ngày 03-10-2024, Hội đồng định giá tài sản huyện Đ kết luận xe mô tô Yamaha Sirius biển số 81R4- 3985, số máy 5C63219772, số khung RLCSSC6309Y219769 trị giá 5.000.000 đồng.
Về vật chứng và xử lý vật chứng:
- Đối với xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius màu đen không có biển số, số máy 5C6H134973, số khung C6HOFY134960 do Duip giao nộp, quá trình điều tra xác định là của anh W, nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh W theo quy định.
- Đối với xe mô tô biển số 81C1-082.00 do Tựng giao nộp, quá trình điều tra xác định là của chị Tống Thị T, nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị T theo quy định.
- Đối với xe mô tô biển số 81P1-231.11 do Thê giao nộp, quá trình điều tra xác định là của anh L, nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh L theo quy định.
- Đối với xe mô tô biển số 81C1-176.98 do Cơ quan điều tra thu giữ tại rẫy cà phê của chị H do D2 cất giấu, quá trình điều tra xác định là của anh H1, nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh H1 theo quy định.
- Đối với xe mô tô Sirius 50 do Dêm giao nộp, quá trình điều tra xác định là của chị H, nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị H theo quy định.
- Đối với biển kiểm soát xe số 81K1-000.70 do Dêm giao nộp, quá trình điều tra xác định là của anh C, nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh C theo quy định.
- Đối với xe mô tô Yamaha Sirius biển số 81R4-3985 do Khim giao nộp, quá trình điều tra xác định là của anh Nguyễn Hữu V, nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh V theo quy định.
Về Dân sự:
- Các bị hại trong vụ án đã nhận lại tài sản bị trộm cắp, nên không có yêu cầu về mặt dân sự.
- Anh D1 yêu cầu D2 trả 1.300.000 đồng; anh T2 yêu cầu D2 trả 1.500.000 đồng; anh T1 yêu cầu D2 trả 900.000 đồng và anh K1 yêu cầu D2 trả 1.500.000 đồng. Hiện Dêm chưa trả theo yêu cầu của những người liên quan trên.
Tại Cáo trạng số 09/CT-VKS ngày 20-1-2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai đã quyết định truy tố bị cáo D2 về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo D2 khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
- Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo D2 phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
- Về hình phạt: Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự; đề nghị xử phạt bị cáo D2 từ 4 đến 5 năm tù.
- Về dân sự: Buộc bị cáo trả cho anh D1 1.300.000 đồng; trả cho anh T2 1.500.000 đồng; trả cho anh T1 900.000 đồng; trả cho anh K1 1.500.000 đồng
- Về án phí: Miễn toàn bộ án phí hình sự, dân sự sơ thẩm cho bị cáo.
- Người bào chữa cho bị cáo thống nhất với tội danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo như quan điểm luận tội của Kiểm sát viên, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành; các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo D2, lời khai của bị hại, của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và đối chiếu với các tài liệu, chứng cứ khác thu thập được có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để xác định:
Bị cáo D2 không có nghề nghiệp ổn định, lấy việc trộm cắp làm nghề nghiệp và tài sản trộm cắp được làm nguồn sống chính. Trong khoảng thời gian từ ngày 4 tháng 7 năm 2024 đến ngày 14 tháng 9 năm 2024, D2 đã liên tiếp thực hiện 7 vụ trộm cắp xe máy trên địa bàn xã Đ, K, Đ thuộc huyện Đ, chiếm đoạt tài sản của anh W, chị Tống Thị T, anh L, chị H, anh H1, anh Nguyễn Hữu V, anh H2; tổng tài sản bị chiếm đoạt trị giá 61.500.000 đồng.
Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Do đó, việc Viện kiểm sát nhân dân huyện Đak Đoa truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” với tình tiết định khung “Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp” và “Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng” theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng tội.
[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:
Hành vi phạm tội của bị cáo D2 là rất nghiêm trọng, đã xâm phạm đến tài sản và quyền sở hữu của cá nhân được pháp luật hình sự bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương và gây hoang mang, bất bình trong quần chúng và dư luận.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Bị cáo D2 liên tiếp 7 lần thực hiện hành vi trộm cắp, với giá trị tài sản bị chiếm đoạt trong các lần trộm cắp đều trên 2.000.000 đồng, nên bị áp dụng tình tiết “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;
- Về hình phạt:
Bị cáo D2 phạm tội rất nghiêm trọng, lấy việc trộm cắp làm nghề nghiệp, bản thân bị cáo là người có nhân thân xấu, nhiều lần bị xét xử về cùng hành vi chiếm đoạt tài sản, phải chấp hành hình phạt tù, nhưng không lấy đó làm bài học để cảnh tỉnh bản thân, ra tù vẫn tiếp tục phạm tội nhiều lần, mà nghiêm trọng hơn là lại phạm vào tội mà bản thân mình đã từng bị xét xử trước đó với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội ngày càng tăng, lần phạm tội này, bị cáo bị áp dụng 1 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhưng chỉ được hưởng 1 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nên Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt bị cáo mức án cao trong khung hình phạt để giáo dục, cải tạo bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
[5] Các vấn đề khác có liên quan:
Anh D1, anh K1, anh T1, anh T2 mua các xe mô tô do Dêm bán. Qua điều tra xác định việc Dêm trộm cắp tài sản thì anh D1, anh K1, anh T1, anh T2 không biết, không tham gia; khi mua lại tài sản trên, thì họ không biết được tài sản này do D2 phạm tội mà có. Do đó, việc Cơ quan điều tra không xem xét xử lý hình sự đối với anh D1, anh K1, anh T1, anh T2 về hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, là có căn cứ.
Anh T2 chở D2 chở đến làng T, xã Đ, để lấy xe Sirius 50 do Dêm giấu từ trước, qua điều tra xác định anh T2 không biết xe Sirius 50 là tài sản do Dêm trộm cắp, việc Cơ quan điều tra không xem xét xử lý hình sự đối với anh T2 về hành vi này, là có căn cứ.
[6] Về trách nhiệm dân sự:
Anh D1, anh K1, anh T1, anh T2 mua các xe mô tô, nhưng không biết tài sản đó là D2 phạm tội mà có; họ cũng đã giao nộp lại tài sản đã mua cho Cơ quan cảnh sát điều tra trong quá trình giải quyết vụ án, do đó, việc anh D1 yêu cầu D2 trả 1.300.000 đồng; anh T2 yêu cầu D2 trả 1.500.000 đồng; anh T1 yêu cầu D2 trả 900.000 đồng và anh K1 yêu cầu D2 trả 1.500.000 đồng, là có cơ cở để chấp nhận.
[7] Về án phí:
Bị cáo phải chịu án phí hình sự, dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật, tuy nhiên, do bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và tại phiên tòa, đã có đơn xin miễn án phí. Do đó, căn cứ quy định tại điểm đ, khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Hội đồng xét xử miễn toàn bộ án phí hình sự, dân sự sơ thẩm cho bị cáo.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh:
Tuyên bố bị cáo D2 phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
2. Về điều luật áp dụng và hình phạt:
Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo D2 5 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 28-9-2024.
3. Về trách nhiệm dân sự:
Áp dụng Điều 166 của Bộ luật Dân sự;
Buộc bị cáo D2 trả cho anh D1 1.300.000 đồng; trả cho anh T2 1.500.000 đồng; trả cho anh T1 900.000 đồng; trả cho anh K1 1.500.000 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền nêu trên, người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.
4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo D2 được miễn toàn bộ án phí hình sự, dân sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo:
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 21-3-2025), bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm. Người vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Nơi nhận:
- - TAND tỉnh Gia Lai
- - VKSND huyện Đak Đoa;
- - Phòng Hồ sơ nghiệp vụ Công an tỉnh;
- - Cơ quan CSĐT- CA tỉnh Gia Lai;
- - Sở Tư pháp tỉnh Gia Lai;
- - THADS huyện Đak Đoa;
- - Bị cáo;
- - Người TGTT khác;
- - Lưu HS, THS, VT.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thành Long |
9
Bản án số 18/2025/HS-ST ngày 21/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAK ĐOA, TỈNH GIA LAI về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 18/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAK ĐOA, TỈNH GIA LAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Dêm không có nghề nghiệp ổn định, lấy việc trộm cắp làm nghề nghiệp và tài sản trộm cắp được làm nguồn sống chính. Trong khoảng thời gian từ ngày 4 tháng 7 năm 2024 đến ngày 14 tháng 9 năm 2024, Dêm đã liên tiếp thực hiện 7 vụ trộm cắp xe máy trên địa bàn xã Đaksơmei, Kon Gang, Đak Krong thuộc huyện Đak Đoa, chiếm đoạt tài sản của anh Wun, chị Tống Thị Thủy, anh Luk, chị Hmưt, anh Hyim, anh Nguyễn Hữu Vượng, anh Hun; tổng tài sản bị chiếm đoạt trị giá 61.500.000 đồng.
