|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH KIÊN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 18/2025/HS-ST Ngày 20/3/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ Tọa phiên tòa: Bà Tạ Thị Xuân
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Hà Ứng Cương
- Ông Trần Minh Nhựt
- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Trần Thị Như Ngọc – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Ông Trần Huy Phụng - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 3 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang, xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 11/2025/TLST-HS ngày 20 tháng 01 năm 2025, về tội “Trộm cắp tài sản và Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 02/2025/QĐST-HS ngày 13 tháng 3 năm 2025 đối với các bị cáo:
- Danh Tuấn V; sinh ngày 14 tháng 10 năm 1994 tại Kiên Giang; Nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Kiên Giang. ; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 7/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Khmer; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Danh D (chết) và bà Mai Thị T, sinh năm: 1970; Tiền án, tiền sự: Có 02 tiền án
- - Ngày 22/10/2021, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang xử phạt 01 năm tù về tội Trộm cắp tài sản, theo Bản án số 66/2021/HS-ST.
- - Ngày 16/11/2023, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo Bản án số 58/2023/HS-ST.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/11/2024 (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
- Nguyễn Văn L; sinh ngày 01 tháng 01 năm 1996 tại Kiên Giang; Nơi ĐKTT: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang; Chỗ ở hiện nay: Ấp P, xã M, huyện C, tỉnh Kiên Giang; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa:1/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1976 và bà Lê Thị Hồng T2, sinh năm 1975; Vợ Nguyễn Thị T3, sinh năm 1996. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/11/2024 (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
- Bị hại: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1985 (vắng mặt)
Nơi cư trú: Ấp H, xã T, huyện C, tỉnh Kiên Giang
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Nguyễn Văn L1, sinh năm 1991 (vắng mặt)
- Anh Đặng Hồng P, sinh năm 1993 (vắng mặt)
- Anh Nguyễn Văn T4, sinh năm 1986 (vắng mặt)
Nơi cư trú: Ấp P, xã M, huyện C, tỉnh Kiên Giang
Nơi cư trú: Số C C, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.
Nơi cư trú: Khu phố A, phường R, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 22 giờ, ngày 03/11/2024, Danh T5 V đi bộ trên đường lộ Kênh cấp 3 về hướng xã T, khi đi đến trước nhà anh Nguyễn Văn H, thuộc ấp H, xã T, huyện C (nhà anh H không có hàng rào), nhìn thấy bên hông nhà anh H có đỗ 03 chiếc xe mô tô, Vũ nhìn xung quanh không thấy người trông giữ nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản, bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. V lén lút đi vào bên hông nhà anh H, thấy trên xe mô tô, nhãn hiệu DAEVIMCKD, biển đăng ký số 68BA-009.82 (đứng tên Vũ Minh L2 đã bán lại cho anh H năm 2015, chưa sang tên chủ sở hữu) có cắm sẵn chìa khóa, V dẫn xe ra ngoài lộ rồi nổ máy chạy đến nhà Nguyễn Văn L (ấp P, xã M, huyện C), nhờ L bán xe, Lụm biết tài sản trên do V trộm cắp mà có nhưng vẫn đồng ý bán xe giúp V tiêu thụ. Lụm điện thoại cho anh Phạm Tuấn H1 để bán xe nhưng anh H1 không mua, V dẫn chiếc xe trên gửi tại nhà L. Không bán được xe, V rủ L đi trộm xe của anh H thì L đồng ý, L điều khiển xe mô tô hiệu Sirius (chủ sở hữu anh Nguyễn Minh T6, không biết L lấy xe đi trộm cắp tài sản) chở V phía sau,đi đến nhà anh H. Khi đến nhà anh H, L đứng ngoài lộ canh đường, V lén lút đi vào bên hông nhà anh H thấy xe mô tô nhãn hiệu WINNERX, biển đăng ký số 68BA-111.77 có cắm sẵn chìa khóa, V dẫn ra ngoài lộ rồi nổ máy chạy về nhà Lụm, Vũ tháo biển số 68BA-111.77 ra mang đi cất trong nhà L (không thu hồi được), L lấy biển số 63AS-004.27(do Lụm lượm được) cho Vũ lắp vào xe mô tô WINNERX, mục đích không cho người khác phát hiện nguồn gốc chiếc xe. Ngày 04/11/2024, V tháo biển số 68BA-009.82 của xe DAEVIMCKD ra và cất tại nhà L, xong mang xe đi bán phế liệu cho anh Nguyễn Văn L1 (anh L1 làm nghề mua bán phế liệu, không biết tài sản do phạm tội mà có) được 600.000 đồng. V chia cho L 100.000 đồng, số tiền còn lại tiêu xài cá nhân hết. Ngày 05/11/2024, Nguyễn Văn L lấy xe mô tô nhãn hiệu WINNERX gắn biển đăng ký số 63AS-004.27 nhờ anh Nguyễn Văn T4 bán dùm, anh T4 đồng ý và bán được cho anh Đặng Hồng P với giá 8.000.000 đồng. Lụm cho anh T4 500.000 đồng và chia cho V 3.000.000 đồng, số tiền còn lại Lụm để tiêu xài cá nhân. Anh T4 và anh P không biết tài sản trên do phạm tội mà có.
* Về vật chứng thu giữ: Trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu giữ:
- - 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu DAEVIMCKD, biển kiểm soát số 68BA-009.82, số máy VZS139FMB075755, số khung RLPDCHEHYBB005755, đã qua sử dụng;
- - 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại WINNERX, màu đỏ đen, biển kiểm soát số 63AS-004.27, số máy KC34E1190267, số khung RLHKC3715LY114727, đã qua sử dụng;
- - 01 (một) biển số 68BA-009.82;
- Tiền Việt Nam: 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng).
* Kết luận định giá tài sản số 20/KL-HĐĐGTS ngày 13/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự kết luận:
- - 01 (một) xe mô tô, nhãn hiệu DAEVIMCKD, biển kiểm soát số 68BA-009.82, số máy VZS139FMB075755, số khung RLPDCHEHYBB005755, đã qua sử dụng, không có mặt nạ trước, không có cánh bửng hai bên trái và bên phải, không có ốp chụp sườn hai bên trái và phải, mua cũ năm 2012, có giá trị: 2.167.000 đồng,tại thời điểm định giá tháng 11/2024.
- - 01 (một) xe mô tô, nhãn hiệu HONDA, loại WINNERX, biển kiểm soát số 63AS-004.27, số máy KC34E1190267, số khung RLHKC3715LY114727, đã qua sử dụng, mua năm 2021, có giá trị: 14.667.000 đồng, tại thời điểm định giá tháng 11/2024.
Tổng tài sản có giá trị là: 16.834.000 đồng.
Tại bản cáo trạng số: 19/CT-VKS-CT ngày 20/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Châu Thành, tỉnh Kiên Giang đã truy tố các bị cáo Danh Tuấn V về tội: “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự, truy tố bị cáo Nguyễn Văn L về tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 173 và khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo với tội danh trên và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 17 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Danh Tuấn V từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L từ 06 tháng đến 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản.
- Áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L từ 06 tháng đến 09 tháng tù về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có. Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt cả hai tội buộc bị cáo chấp hành.
* Về xử lý vật chứng:
Đề nghị Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân huyện Châu Thành áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự xử:
- - Tịch thu tiêu hủy 01 (một) biển kiểm soát số 63AS-004.27 (đã qua sử dụng).
- - Buộc các bị cáo giao nộp số tiền 600.000 đồng bán xe cho anh Nguyễn Văn L1 để tịch thu sung quỹ nhà nước.
* Về trách nhiệm dân sự:
Anh Đặng Hồng P yêu cầu các bị cáo trả lại số tiền mua xe là 8.000.000 đồng. Đề nghị buộc Nguyễn Văn L trả lại số tiền 5.000.000 đồng và Danh T5 V trả lại 3.000.000 đồng cho anh Đặng Hồng P.
Các bị cáo không có ý kiến tranh luận về quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành.
Các bị cáo được nói lời sau cùng, các bị cáo xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, các bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp lời khai tại Cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, thể hiện: Vào khoảng 22 giờ, ngày 03/11/2024, bị cáo Danh Tuấn V đi bộ một mình đến khu vực ấp H, xã T, huyện C, lấy trộm một xe mô tô nhãn hiệu Daevimckd biển kiểm soát số 68BA-009.82 có giá trị 2.167.000 đồng của anh Nguyễn Văn H chạy đến nhà Nguyễn Văn L nhờ bán, L biết tài sản trên do V trộm cắp mà có nhưng vẫn giúp V tiêu thụ. Sau đó V rủ L quay lại nhà anh H tại địa chỉ nêu trên để trộm cắp tài sản thì L đồng ý, cả hai lấy trộm xe mô tô nhãn hiệu Winerx biển kiểm soát số 68BA-111.77 có giá trị 14.667.000 đồng, bán lấy tiền chia nhau tiêu xài cá nhân.
Đối chiếu theo quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự thì: 1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác có trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng .... thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm... 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:.... g) Tái phạm nguy hiểm...”
Và khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự thì: “Người nào không hứa hẹn trước mà chứa chấp, tiêu thụ tài sản biết rõ là do người khác phạm tội mà có, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm....”
Quá trình điều tra thể hiện bị cáo V đã có 02 tiền án chưa được xoá án tích. Đối chiếu với quy định pháp luật thì hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” với tình tiết tăng nặng định khung là tái phạm nguy hiểm được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ pháp luật.
Còn hành vi của bị cáo L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” và “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 173 và khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự.
[3] Xét về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội không những xâm phạm trực tiếp đến tài sản hợp pháp của người bị hại mà còn gây ảnh hưởng đến lĩnh vực an ninh trật tự trên địa bàn nơi xảy ra vụ án án, gây bất an cho quần chúng nhân dân.
3.1 Trong vụ án này cho thấy, đối với V và L là người trưởng thành có đủ năng lực nhận thức được việc lấy trộm tài sản của người khác là hành vi sai trái và vi phạm pháp luật. Thế nhưng chỉ vì tham lam, lười lao động mà muốn thụ hưởng thụ nên khi đi đến trước nhà anh Nguyễn Văn H, nhìn thấy nhà anh H có đỗ 03 chiếc xe mô tô thì V đã lén lút lấy trộm xe mô tô nhãn hiệu Daevimckd biển kiểm soát số 68BA-009.82 rồi đem về nhà bị cáo L nhờ L bán dùm. Đồng thời, bị cáo V chủ động rủ bị cáo L quay lại nhà anh H tiếp tục lấy trộm xe mô tô nhãn hiệu Winerx biển kiểm soát số 68BA-111.77. Sau đó L nhờ anh Nguyễn Văn T4 bán dùm xe mô tô Winerx, anh T4 đồng ý và bán được cho anh Đặng Hồng P với giá 8.000.000 đồng. Lụm cho anh T4 500.000 đồng và chia cho V 3.000.000 đồng, số tiền còn lại 4.500.000 đồng Lụm để tiêu xài cá nhân. Hành vi phạm tội của các bị cáo không những vi phạm pháp luật mà còn gây ảnh hưởng đến đời sống vật chất của bị hại, tạo dư luận xấu trong xã hội, gây bất ổn cho người dân trong việc bảo quản tài sản của mình.
Qua hồ sơ thể hiện, bị cáo V và bị cáo L phạm tội khi có cùng 02 người trở lên và cố ý thực hiện một tội phạm nên là đồng phạm nhưng do các bị cáo không có sự cấu kết chặt chẽ nên đây chỉ là đồng phạm giản đơn.
3.2 Đối với bị cáo L, nhận thức được chứa chấp hay tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có là hành vi vi phạm pháp luật nhưng chỉ vì hám lợi nên khi được V nhờ bị cáo đem xe mô tô nhãn hiệu Daevimckd biển kiểm soát số 68BA-009.82 đi bán thì bị cáo đã đồng ý và cùng bị cáo V bán cho anh Nguyễn Văn L1 được 600.000 đồng, V nhận 500.000 đồng, L nhận 100.000 đồng. Mặc dù, biết rõ đây là tài sản trộm cắp nhưng bị cáo L vẫn đem đi tiêu thụ mà không nghĩ đến hậu quả gây ra nên bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành truy tố về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội.
Với hành vi phạm tội của các bị cáo, HĐXX nghị án thảo luận thống nhất cần xử phạt các bị cáo mức án nghiêm và cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội.
[4] Xét về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Danh Tuấn V có tình tiết tăng nặng là phạm tội 2 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Nguyễn Văn L không có tình tiết tăng nặng.
[5] Xét về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa, các bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Tài sản mất trộm đã được thu hồi và trao trả cho bị hại và các bị cáo đã tự nguyện đồng ý bồi thường số tiền 8.000.000 đồng cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Do đó, các bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Từ những phân tích nêu trên, HĐXX nghị án, thảo luận để xem xét hình phạt khi lượng hình đối với từng bị cáo nhằm có mức án phù hợp để cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành một công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội.
[6] Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về việc định tội danh, khung hình phạt cũng như việc áp dụng các điều luật để xử lý vụ án là có căn cứ pháp luật nên HĐXX ghi nhận để xem xét.
[7] Về trách nhiệm dân sự:
7.1. Do tài sản bị mất trộm, bị hại anh Nguyễn Văn H đã được nhận lại và không có yêu cầu gì thêm nên HĐXX không xem xét.
7.2 Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn L1 không yêu cầu các bị cáo trả lại số tiền 600.000 đồng mua xe mô tô Daevimckd biển kiểm soát số 68BA-009.82 nên HĐXX không xem xét.
7.3 Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Đặng Hồng P yêu cầu các bị cáo trả lại số tiền mua xe là 8.000.000 đồng. Bị cáo L đồng ý trả lại cho anh P số tiền 5.000.000 đồng (trong đó có số tiền 500.000 đồng bị cáo cho anh Nguyễn Văn T4) và bị cáo đã nộp cho cơ quan điều tra số tiền 3.000.000 đồng.
Bị cáo V đồng ý trả lại số tiền 3.000.000 đồng cho anh P và mẹ bị cáo (bà Mai Thị T) đã nộp số tiền 1.500.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0004902 ngày 10/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang.
[8] Về đánh giá vật chứng, xử lý vật chứng:
8.1 Trong quá trình điều tra Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C đã trao trả cho anh Nguyễn Văn H:
- - 01 (một) xe mô tô, nhãn hiệu DAEVIMCKD, biển kiểm soát số 68BA-009.82, số máy VZS139FMB075755, số khung RLPDCHEHYBB005755, đã qua sử dụng;
- - 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại WINNERX, màu đỏ đen, biển kiểm soát số 63AS-004.27, số máy KC34E1190267, số khung RLHKC3715LY114727, đã qua sử dụng;
Xét thấy việc trao trả các tài sản trên là phù hợp, không trái quy định pháp luật nên HĐXX không xem xét.
8.2. Đối với số tiền 3.000.000 đồng bị cáo L giao nộp tại cơ quan điều tra, xét thấy cần khấu trừ cho bị cáo L vào số tiền trả lại cho anh P.
8.3. Đối với số tiền 600.000 đồng anh Nguyễn Văn L1 không yêu cầu các bị cáo trả lại, xét thấy đây là tiền các bị cáo do bán tài sản trộm cắp mà có nên cần buộc các bị cáo nộp lại tịch thu sung quỹ nhà nước.
8.4. Đối với số tiền 500.000 đồng bị cáo L cho anh Nguyễn Văn T4, đây là tiền do bán tài sản trộm cắp mà có và anh P yêu cầu các bị cáo trả lại nên cần buộc anh T4 trả lại cho bị cáo L để trả cho anh P.
8.5. Đối với biển kiểm soát số 63AS-004.27 (đã qua sử dụng) không xác định được chủ sở hữu nên cần tịch thu tiêu hủy.
8.6. Đối với chiếc xe mô tô của anh Nguyễn Minh T6 mà bị cáo L tự lấy xe điều khiển chở bị cáo V đi trộm xe của anh H, do anh T6 không biết bị cáo lấy xe đi trộm cắp nên không có căn cứ để xử lý.
[9] Về những vấn đề khác:
Đối với anh Nguyễn Văn T4, anh Nguyễn Văn L1 và anh Đặng Hồng P, quá trình điều tra xác định việc mua tài sản của các bị cáo là ngay tình, không biết đây là tài sản do phạm tội mà có nên không có căn cứ xử lý hình sự.
[10] Về án phí: Xử buộc các bị cáo phải có nghĩa vụ nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về điều luật áp dụng và tội danh:
- Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 38 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tuyên bố: Bị cáo Danh Tuấn V phạm tội Trộm cắp tài sản.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội Trộm cắp tài sản.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 323; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.
2. Về hình phạt:
- Xử phạt bị cáo Danh Tuấn V 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính kể từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/11/2024.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 06 (sáu) tháng tù về tội Trộm cắp tài sản và 06 (sáu) tháng tù về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.
Áp dụng điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Buộc bị cáo Nguyễn Văn L chấp hành chung 02 tội Trộm cắp tài sản và tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có là 01 (một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính kể từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/11/2024.
3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017, xử:
- Buộc bị cáo Danh Tuấn V trả lại cho anh Đặng Hồng P số tiền 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng), bị cáo được khấu trừ số tiền 1.500.000 đồng do mẹ bị cáo (bà Mai Thị T) đã nộp theo biên lai thu tiền số 0004902 ngày 10/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang. Bị cáo còn phải trả số tiền 1.500.000 đồng.
- Buộc bị cáo Nguyễn Văn L trả lại cho anh Đặng Hồng P số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng), bị cáo được khấu trừ số tiền đã nộp 3.000.000 đồng theo Quyết định chuyển giao vật chứng số: 13/QĐ-VKSCT ngày 20/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang. Bị cáo còn phải trả số tiền 2.000.000 đồng.
- Buộc anh Nguyễn Văn T4 giao nộp số tiền 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) trả lại cho bị cáo L để trả cho anh Đặng Hồng P.
4. Về biện pháp tư pháp: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, xử:
- Buộc bị cáo Danh Tuấn V giao nộp số tiền 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) tịch thu sung quỹ nhà nước.
- Buộc bị cáo Nguyễn Văn L giao nộp số tiền 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng) tịch thu sung quỹ nhà nước.
- Tịch thu tiêu hủy biển kiểm soát số 63AS-004.27 (đã qua sử dụng).
Theo Quyết định chuyển giao vật chứng số: 13/QĐ-VKSCT ngày 20/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành.
5. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án:
Xử buộc các bị cáo Danh Tuấn V và bị cáo Nguyễn Văn L mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014”.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tạ Thị Xuân |
Bản án số 18/2025/HS-ST ngày 20/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH KIÊN GIANG về trộm cắp tài sản và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
- Số bản án: 18/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản và Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: * Danh Tuấn V cùng ĐB phạm tội Trộm cắp tài sản
