Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN QUỲNH LƯU

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2025/HS-ST

Ngày: 19-3-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hải Yến.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Hồ Thị Huệ.
  2. Ông Phạm Văn Tình.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hà - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Mai Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 117/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2025/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 3 năm 2025, đối với các bị cáo:

1, Họ và tên: Bùi Thị L (tên gọi khác: không); sinh ngày: 01/7/1983 tại tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: xóm C, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Bùi Văn S và bà: Cao Thị L1; chồng: Lê Tuấn M và 07 con, lớn nhất sinh năm 2002, nhỏ nhất sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: không; tạm giữ: từ ngày 03/10/2024 đến ngày 09/10/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.

2, Họ và tên: Bùi Năng D (tên gọi khác: không); sinh ngày: 09/10/1985 tại tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: khối E, thị trấn C, huyện Q, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Quản lý bếp; trình độ học vấn: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Bùi Năng K và bà: Ngô Thị M1; vợ: Nguyễn Thị T và 03 con, lớn nhất sinh năm 2013, nhỏ nhất sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: không; tạm giữ: không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.

3, Họ và tên: Bùi Thị N (tên gọi khác: không); sinh ngày: 28/8/1976 tại tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: xóm I, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Bùi Xuân H và bà: Nguyễn Thị T1; chồng: Phạm Văn L2 (đã ly hôn) và 01 con sinh năm 1996; tiền án, tiền sự: không; tạm giữ: tạm giữ: từ ngày 03/10/2024 đến ngày 09/10/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1985. Nơi cư trú: khối E, thị trấn C, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Sáng ngày 01/10/2024, Bùi Thị L mua của một người đàn ông 01 (một) cá thể Tê tê với giá 4.000.000đ (bốn triệu đồng).

Chiều ngày 01/10/2024, một người đàn ông sử dụng số thuê bao “0941.440.371” gọi cho Bùi Năng D (quản lý bếp khách sạn Đ - T) đặt 01 (một) cá thể Tê tê chế biến thành món ăn. D sử dụng số thuê bao “0981.643.666” gọi đến số thuê bao “0978.641.076” của Lê Tuấn M thì Bùi Thị L (vợ M) nghe máy, D đặt mua 01 (một) cá thể Tê tê, L đồng ý bán cho D với giá 2.200.000 đồng/1 kg và hẹn sáng ngày 02/10/2024 sẽ mang đến bếp khách sạn Đ - T.

Đến khoảng 06h ngày 02/10/2024, người đàn ông sử dụng số thuê bao “0941.440.371” tiếp tục gọi vào số thuê bao “0911.166.789” của D để đặt món ăn chế biến từ cá thể Tê tê vào lúc 18h cùng ngày nên D gọi điện thoại cho L đưa cá thể Tê tê đến bếp. Đồng thời D gọi điện thoại cho Bùi Thị N (nhân viên nhận thực phẩm) thông báo việc sẽ có người đưa “hàng con” đến để N nhận, kiểm tra và cân hàng. Đến khoảng 08h cùng ngày, L điều khiển xe mô tô Honda Airblade, biển kiểm soát 37F2 - 562.03 đưa 01 (một) cá thể Tê tê bỏ trong bì xác rắn đến gặp N. L để cá thể Tê tê là sàn nhà, N biết đây là cá thể Tê tê mà D đã nói trước đó nên đặt lên cân và quan sát thấy cá thể Tê tê này có khối lượng là 3,85 kg (ba phẩy tám lăm ki lô gam). N lấy điện thoại di động chụp ảnh rồi gửi cho D qua tài khoản Z và gọi điện thông báo cho D đã nhận cá thể Tê tê. Sau đó, N viết phiếu cho L để hẹn thanh toán tiền sau, L bỏ cá thể Tê tê lại vào bì xác rắn, buộc kín rồi mang để bên phải cửa vào của bếp khách sạn Đ - T. Đến 15h ngày 02/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q tiến hành khám xét khẩn cấp khu vực bếp khách sạn Đ - T, thu giữ 01 (một) cá thể lớp thú còn sống, có 4 chân, toàn thân có lớp vảy cứng bao phủ da (nghi là cá thể Tê tê), có khối lượng 3,85 kg (ba phẩy tám lăm ki lô gam); 01 (một) điện thoại di động iPhone 14 Promax, màu xám; 01 (một) điện thoại di động iPhone 12, màu đen.

Đến 16h cùng ngày, Bùi Năng D, Bùi Thị L, Bùi Thị N đến Công an huyện Q đầu thú. Bùi Thị L giao nộp 01 (một) điện thoại di động iPhone XS màu vàng nhạt và 01 (một) xe mô tô Honda Airblade biển kiểm soát 37F2 - 562.03. Bùi Thị N giao nộp 01 (một) điện thoại di động Redmi Note 11 màu xanh.

Tại bản Kết luận giám định hình thái động vật số 1663/STTNSV ngày 03/10/2024 của V, kết luận:

  • Xác định tên loài động vật: Bản ảnh chụp cá thể động vật như mô tả trên là của loài Tê tê ja va, có tên khoa học M2 javanica.
  • Xác định tình trạng bảo tồn theo quy định của pháp luật:
    1. Loài Tê tê ja va (Manis javanica) có tên trong Phục lục I, Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ, ban hành kèm theo Nghị định 64/2019/NĐ-CP ngày 16/7/2019 của Chính phủ.
    2. Loài Tê tê ja va (Manis javanica) có tên trong Nhóm IB, Danh mục thực vật, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm, ban hành kèm theo Nghị định 84/2021/NĐ-CP ngày 22/9/2021 của Chính phủ.
    3. Loài Tê tê ja va (Manis javanica) có tên trong Phục lục I, Danh mục các loài động vật, thực vật hoang dã thuộc Phụ lục Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp (CITES) ban hành kèm theo Thông báo số 25/TB-CTVN ngày 17/02/2023 của Cơ quan quản lý C.

Bản cáo trạng số 126/CT-VKS-QL ngày 04/12/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu truy tố Bùi Thị L, Bùi Năng D, Bùi Thị N về tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 244 Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:

Điểm b khoản 1 Điều 244; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Bùi Thị L từ 18-21 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 36-42 tháng, bị cáo Bùi Năng D từ 15-18 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30-36 tháng, bị cáo Bùi Thị N từ 12-14 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24-28 tháng.

Hình phạt bổ sung: không áp dụng.

Vật chứng: áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động Redmi Note 11 của Bùi Thị N; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu iPhone XS của Bùi Thị L. Trả lại 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, biển kiểm soát 37F2-562.03 cho Bùi Thị L. Trả lại cho bà Nguyễn Thị T 01 (một) điện thoại di động iPhone 14 Promax, 01 (một) điện thoại di động iPhone 12. Tịch thu, tiêu huỷ 01 (một) bì xác rắn màu đỏ cam.

Án phí: buộc các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, các bị cáo Bùi Thị L, Bùi Năng D và Bùi Thị N khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, không tranh luận gì về tội danh. Lời nói sau cùng: rất hối hận, xin giảm nhẹ hình phạt, xin được ở nhà để cải tạo thành công dân có ích.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Nguyễn Thị T: xin được nhận lại điện thoại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Q, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, các bị cáo Bùi Thị L, Bùi Năng D và Bùi Thị N thừa nhận hành vi phạm tội. Lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với Biên bản khám xét, Kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án. Có đủ cơ sở kết luận vào ngày 02/10/2024, tại khu vực bếp khách sạn Đ - T (khối E, thị trấn C, huyện Q, tỉnh Nghệ An), Bùi Thị L bán cho Bùi Năng D 01 (một) cá thể Tê tê ja va (Manis javanica) để D chế biến món ăn bán cho khách hàng, Bùi Thị N giúp Bùi Năng D nhận, kiểm tra, cân và cất giấu cá thể Tê tê ja va (Manis javanica). Các bị cáo không được nhà nước cho phép, có hành vi mua bán Tê tê ja va (Manis javanica) là loài có tên trong Phục lục I Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ; có tên trong Nhóm IB Danh mục thực vật, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm và có tên trong Phục lục I Danh mục các loài động vật, thực vật hoang dã thuộc Phụ lục Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp (CITES). Các bị cáo nhận thức được hành vi của mình nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý của nhà nước về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm; đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý. Như vậy hành vi của các bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 244 Bộ luật Hình sự, như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Vụ án có tính chất nghiêm trọng. Các bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng, có tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đầu thú. Bị cáo L, D là người trực tiếp mua bán với nhau nên hình phạt phải cao hơn bị cáo N là người giúp sức. Xét thấy, các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng. Có khả năng tự cải tạo, việc được ở ngoài xã hội không gây nguy hiểm hay ảnh hưởng đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Quá trình thu giữ, cá thể Tê tê ja va vẫn còn sống, được thả về môi trường tự nhiên nên hành vi phạm tội của các bị cáo chưa gây thiệt hại nghiêm trọng đến sự sống của cá thể Tê tê ja va. Do đó, không cần thiết phải cách ly mà giao cho chính quyền địa phương cũng đủ để giáo dục, cải tạo các bị cáo thành công dân có ích. Xử phạt các bị cáo với mức như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.

[4] Hình phạt bổ sung: các bị cáo có thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

[5] Xử lý vật chứng: 01 (một) cá thể Tê tê ja va (Manis javanica) còn sống đã được cơ quan Cảnh sát điều tra đã bàn giao cho Vườn Quốc gia P để bảo quản, chăm sóc theo quy định. Điện thoại bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu, sung ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động Redmi Note 11 của bị cáo Bùi Thị N, 01 (một) điện thoại di động iPhone XS của bị cáo Bùi Thị L. Điện thoại của bà Nguyễn Thị T, bị cáo Bùi Năng D sử dụng liên lạc phạm tội, bà T không biết nên trả lại cho bà T 01 (một) điện thoại di động iPhone 14 Promax, 01 (một) điện thoại di động iPhone 12. Xe mô tô là phương tiện sử dụng đi lại hàng ngày của gia đình bị cáo Bùi Thị L nên trả lại cho bị cáo L 01 (một) xe mô tô Honda Airblade, biển kiểm soát 37F2-562.03. Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) bì xác rắn màu đỏ cam, nhãn hiệu UREA.

[6] Những vấn đề khác: Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh đối với người đàn ông bán cá thể Tê tê ja va cho Bùi Thị L, người đàn ông sử dụng số thuê bao “0941.440.371” đặt hàng mua cá thể Tê tê ja va chế biến món ăn nhưng không có căn cứ để xác minh làm rõ. Bùi Thị L sử dụng số điện thoại của chồng anh Lê Tuấn M, anh M không biết việc L trao đổi thông tin với D, nên không bị xử lý.

[7] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào:

Điểm b khoản 1 Điều 244; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt:

Bị cáo Bùi Thị L 18 (mười tám) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 (ba mươi sáu) tháng, về tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm”.

Bị cáo Bùi Năng D 15 (mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 (ba mươi) tháng, về tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm”.

Bị cáo Bùi Thị N 12 (mười hai) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (hai mươi tư) tháng, về tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm”.

Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Bùi Thị L cho Ủy ban nhân dân xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An để giám sát, giáo dục.

Giao bị cáo Bùi Năng D cho Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện Q, tỉnh Nghệ An để giám sát, giáo dục.

Giao bị cáo Bùi Thị N cho Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An để giám sát, giáo dục.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.

2. Xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động Redmi Note 11 màu xanh của bị cáo Bùi Thị N; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu iPhone XS màu vàng nhạt của bị cáo Bùi Thị L. Trả lại 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, biển kiểm soát 37F2- 562.03 cho bị cáo Bùi Thị L. Trả lại cho bà Nguyễn Thị T 01 (một) điện thoại di động iPhone 14 Promax, 01 (một) điện thoại di động iPhone 12. Tịch thu, tiêu huỷ 01 (một) bì xác rắn màu đỏ cam. Tình trạng theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 05/12/2024 giữa Công an huyện Q và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Lưu.

3. Án phí: áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 buộc các bị cáo Bùi Thị L, Bùi Năng D và Bùi Thị N, mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt, có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Nghệ An;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Công an tỉnh Nghệ An;
  • - VKSND huyện Quỳnh Lưu;
  • - CCTHA Dân sự huyện Quỳnh Lưu;
  • - THA hình sự;
  • - Sở Tư pháp;
  • - UBND thị trấn Cầu Giát, xã Quỳnh
  • Lâm, Diễn Đoài (để biết);
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ + Lưu trữ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Hải Yến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 18/2025/HS-ST ngày 19/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN về vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm

  • Số bản án: 18/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bùi Thị L và đồng phạm phạm tội
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger