|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 18/2025/HS-PT Ngày: 28-02-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Minh Thư
Các Thẩm phán: Bà Trần Thị Thu Hiền
Ông Hồ Đức Quang
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Thành - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Ông Trần Tiến Dũng - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 119/2024/TLPT-HS ngày 01 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo Trần Hữu Đ và đồng phạm do có kháng cáo của các bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 51/2024/HS-ST ngày 17/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh.
* Các bị cáo có kháng cáo:
- Trần Hữu Đ; Giới tính: Nam; Sinh ngày 13/01/2007, tại thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Tổ dân phố G, phường B, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 11/12; Nghề nghiệp: Học sinh Trường THPT T21; Con ông: Trần Hữu H và bà Đặng Thị Tuyết M; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 28/02/2024 đến nay.
- Trần Hoài N; Giới tính: Nam; Sinh ngày 19/9/2006, tại thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh; Đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 17 tuổi 03 tháng 09 ngày; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Tổ dân phố D, phường B, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 10/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Trần Văn H1 và bà Nguyễn Thị Đ1; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 09/5/2024 bị Công an thành phố H khởi tố về tội “Gây rối trật tự công cộng” trong vụ án khác.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 28/02/2024 đến nay.
- Nguyễn Đức D; Giới tính: Nam; Sinh ngày 07/01/2007, tại thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh; Đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 16 tuổi 11 tháng 21 ngày; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Tổ dân phố B, phường H, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 11/12; Nghề nghiệp: Học sinh Trường T21; Con ông Nguyễn Hải H2 và bà Nguyễn Thị N1; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 28/02/2024 đến nay.
- Trần Quốc Nguyên D1; Giới tính: Nam; Sinh ngày 21/5/2007, tại huyện T, tỉnh Hà Tĩnh; Đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 16 tuổi 7 tháng 07 ngày; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 11/12; Nghề nghiệp: Học sinh Trường T21; Con ông Trần Quốc H3 và bà Nguyễn Thị H4; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 28/02/2024 đến nay.
- Dương Văn Q; Giới tính: Nam; Sinh ngày 24/10/2005, tại huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn N, xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Dương Văn N2 và bà Nguyễn Thị N3; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 28/02/2024 đến nay.
- Phạm Văn T; Giới tính: Nam; Sinh ngày 14/5/2007, tại huyện T, tỉnh Hà Tĩnh; Đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 16 tuổi 07 tháng 14 ngày; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn P, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 11/12; Nghề nghiệp: Học sinh Trường T21; Con ông Phạm Văn T1 và bà Nguyễn Thị O; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 28/02/2024 đến nay.
- Trần Phi H5; Giới tính: Nam; Sinh ngày 10/01/2004, tại huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn T, xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Trần Quang V và bà Phan Thị A; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 28/02/2024 đến nay.
- Nguyễn Lê Khánh M1; Giới tính: Nam; Sinh ngày 04/9/2007, tại thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh; Đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 16 tuổi 03 tháng 24 ngày; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Tổ dân phố C, phường T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 10/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Nguyễn Trọng T2 và bà Lê Thị T3; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 28/02/2024 đến nay.
- Phạm Minh Đ2; Giới tính: Nam; Sinh ngày 07/9/2007, tại thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh; Đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 16 tuổi 03 tháng 21 ngày; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Tổ dân phố C, phường N, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Phạm Minh Đ3 và bà Chu Thị H6; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 09/4/2024 đến nay.
Các bị cáo đều có mặt tại phiên tòa.
- * Người đại diện hợp pháp của bị cáo Trần Hữu Đ và là Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Hữu H và bà Đặng Thị Tuyết M; Nơi cư trú: Tổ dân phố G, phường B, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh (Có mặt).
- * Người đại diện hợp pháp của bị cáo Trần Hoài N và là Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Văn T4, bà Nguyễn Thị Đ1; Nơi cư trú: Tổ dân phố D, phường B, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh (Có mặt).
- * Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Đức D và là Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Hải H2, bà Nguyễn Thị N1; Nơi cư trú: Tổ dân phố B, phường H, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh (Có mặt).
- * Người đại diện hợp pháp của bị cáo Trần Quốc Nguyên D1: Bà Nguyễn Thị H4; Nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh (Có mặt).
- * Người đại diện hợp pháp của bị cáo Phạm Văn T: Ông Phạm Văn T1 và bà Nguyễn Thị O; Nơi cư trú: Thôn P, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh (Có mặt).
- * Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Lê Khánh M1: Ông Nguyễn Trọng T2; Nơi cư trú: Tổ dân phố C, phường T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh (Có mặt).
- * Người đại diện hợp pháp của bị cáo Phạm Minh Đ2: Bà Chu Thị H6; Nơi cư trú: Tổ dân phố C, phường N, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh (Có mặt).
- * Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Đức D và Nguyễn Lê Khánh M1: Bà Đinh Thị H7 – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh H (Có mặt).
- * Người bào chữa cho bị cáo Trần Hữu Đ, Trần Hoài N: Ông Lê Văn Q1 – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh H (Có mặt).
- * Người bào chữa cho bị cáo Phạm Văn T, Trần Quốc Nguyên D1: Bà Nguyễn Thị N4 – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh H; (Có mặt)
- * Người bào chữa cho bị cáo Phạm Minh Đ2: Ông Nguyễn Xuân H8 – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh H (Có mặt).
- * Đại diện Trường T21; (Vắng mặt)
- * Đại diện Trường T21; (Vắng mặt)
- * Đại diện trường THPT T21; (Vắng mặt)
- * Bị hại: Trần Quốc T5, sinh ngày 13/9/2006 (đã chết);
- Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Trần Quốc L, ông Trần Quốc K; Nơi cư trú: Thôn V, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh; (Có mặt)
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại: Luật sư ông Nguyễn Khắc T6 và Luật sư Nguyễn Thị Q2 – Văn phòng L7 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh H. (Có mặt).
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Nguyễn Bình A1; sinh ngày 09/8/2008, Nơi cư trú: Tổ H, phường B, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh; (Vắng mặt)
Người đại diện hợp pháp của Nguyễn Bình A1 và là Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Giang N5 và bà Đinh Thị Lệ H9; Nơi cư trú: Tổ H, phường B, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh; (Vắng mặt)
- Nguyễn Văn Hải Đ4; sinh ngày 30/6/2008; Nơi cư trú: Căn hộ A, chung cư nhà ở xã hội, phường T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh; (Vắng mặt)
Người đại diện hợp pháp của Nguyễn Văn Hải Đ4 và là Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn T7 và bà Nguyễn Thị Hồng H10; Địa chỉ: Căn hộ A, chung cư N, phường T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh; (Vắng mặt)
- Lê Khắc Thành Đ5; sinh ngày 30/01/2008; Nơi cư trú: Tổ E, phường B, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh; (Vắng mặt)
Người đại diện hợp pháp của Lê Khắc Thành Đ5 và là Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: bà Lê Thị T8; Nơi cư trú: Tổ E, phường B, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh; (Vắng mặt)
- Bùi Quốc D2; sinh ngày 30/4/2008; Nơi cư trú: Tổ D, phường N, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh; (Vắng mặt)
Người đại diện hợp pháp của Bùi Quốc D2: Bà Lê Thị Nha T9; Địa chỉ: Tổ D, phường N, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh; (Vắng mặt)
- Nguyễn Công Gia P; sinh ngày 19/11/2008; Nơi cư trú: Tổ H, phường T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh; (Vắng mặt)
Người đại diện hợp pháp của Nguyễn Công Gia P: Bà Hồ Thị D3; Nơi cư trú: Tổ H, phường T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh; (Vắng mặt)
- Trần Hữu L1; sinh ngày 24/6/2008; Nơi cư trú: Tổ E, phường N, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh; (Vắng mặt)
Người đại diện hợp pháp của Trần Hữu L1: Bà Đinh Thị N6; Nơi cư trú: Tổ E, phường N, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh; (Vắng mặt)
- Lê Anh D4; sinh ngày 04/9/2008; Nơi cư trú: Tổ B, phường T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh; (Vắng mặt)
Người đại diện hợp pháp của Lê Anh D4: Ông Lê Văn N7 và bà Nguyễn Thị Lan P1; Nơi cư trú: Tổ E, phường N, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh; (Vắng mặt)
- Trương Quang T10; sinh ngày 20/9/2007; Nơi cư trú: Tổ G, phường H, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh; (Vắng mặt)
Người đại diện hợp pháp của Trương Quang T10: Ông Trương Quang T11; Địa chỉ: Tổ G, phường H, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh. (Vắng mặt)
- Hoàng Lê Anh T12; sinh ngày 16/6/2008; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; (Vắng mặt)
Người đại diện hợp pháp của Hoàng Lê Anh T12: Bà Lê Thị T13; Địa chỉ: Thôn Đ, xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; (Vắng mặt)
- Trần Duy S; sinh năm 2004; Địa chỉ: Thôn Đ, xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; (Vắng mặt)
- Nguyễn Thế M2; sinh năm 2005; Địa chỉ: Thôn Đ, xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; (Vắng mặt)
- Lê Thị Thanh H11; sinh ngày 06/7/2008; Địa chỉ: TDP V, phường V, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh; (Vắng mặt)
Người đại diện hợp pháp của Lê Thị Thanh H11: Anh Lê Quý Đ6; Địa chỉ: TDP V, phường V, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh; (Vắng mặt).
- Lê Ngọc V1; sinh năm 2005; Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh; (Vắng mặt)
- Nguyễn Minh A2; sinh năm 2004; Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh; (Vắng mặt)
- Nguyễn Thị L2; sinh năm 1993; Địa chỉ: Thôn A, xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; (Vắng mặt)
- Nguyễn Trọng T14; sinh năm 1991; Địa chỉ: Căn hộ C, chung cư N, phường T, thành phố H; (Vắng mặt)
- Bà Lê Thị L3; sinh năm 1964; Địa chỉ: Tổ dân phố F, phường H, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh; (Vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị V2; sinh năm 1980; Địa chỉ: Thôn V, xã H, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh; (Vắng mặt)
* Người làm chứng:
- Vũ Trần Trung N8; sinh năm 2004; Địa chỉ: Tổ A, phường B, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh; (Vắng mặt)
- Trần Minh H12; sinh năm 2005; Địa chỉ: Tổ I, phường N, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh; (Vắng mặt)
- Phan Đình H13; sinh năm 2005; Địa chỉ: Tổ F, phường N, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh; (Vắng mặt)
- Nguyễn Hữu T15; sinh năm 1996; Địa chỉ: Tổ C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh; (Vắng mặt)
- Nguyễn Thị M3; sinh năm 1957; Địa chỉ: Số A, ngõ B đường N, phường H, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh; (Vắng mặt)
- Nguyễn Thị Thanh H14; sinh năm 2007; Địa chỉ: Thôn V, xã L, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh; (Vắng mặt)
Người đại diện hợp pháp của Nguyễn Thị Thanh H14: Anh Lê Văn K1; Địa chỉ: Thôn V, xã L, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh; (Vắng mặt)
- Nguyễn Văn N9; sinh năm 1966; Địa chỉ: Tổ A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh; (Có mặt)
- Hoàng Thị C; sinh năm 1950; Địa chỉ: Số C, ngách A ngõ C đường P, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh; (Vắng mặt)
- Nguyễn Thị Q3; sinh 1985; Địa chỉ: Tổ H, phường N, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh; (Vắng mặt)
- Nguyễn Hữu C1; sinh năm 1980; Địa chỉ: Thôn V, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh; (Có mặt)
- Dương Nguyễn Quỳnh C2; sinh năm 2007; Địa chỉ: Số nhà F, ngách F, ngõ D đường H, tổ F, phường H, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh; (Vắng mặt).
Người đại diện hợp pháp của Dương Nguyễn Quỳnh C2: Bà Đậu Thị H15; Địa chỉ: Tổ F, phường H, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh; (Vắng mặt)
- Nguyễn Thị Diệu L4; sinh năm 2005; Địa chỉ: Số A, ngõ A đường H, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh; (Vắng mặt)
- Nguyễn Tường T16; sinh năm 2005; Địa chỉ: TDP T, phường T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh; (Vắng mặt)
- Lê Thị Thùy L5; sinh năm 2005; Địa chỉ: Thôn V, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh; (Vắng mặt)
- Phan Thị Thùy L6; sinh năm 2005; Địa chỉ: Tổ B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, bản án sơ thẩm và diễn biến tại phiên tòa thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào đêm tối ngày 28/12/2023, trên địa bàn thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh xảy ra vụ gây gỗ đánh nhau, sử dụng xe mô tô rượt đuổi nhau với vận tốc cao trên nhiều tuyến đường gây mất trật tự trị an, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh ở nhiều khu phố giữa hai nhóm thanh thiếu niên trong đó những người từ đủ 16 tuổi trở lên có hành vi gây rối trật tự công cộng gồm: Nhóm Nguyễn Đức D (sử dụng gậy baton); Trần Hữu Đ, Phạm Minh Đ2, Nguyễn Lê Khánh M1 (cùng sử dụng gạch, đá, sỏi); Dương Chí P2, Nguyễn Huy H16, Nguyễn Tuấn N10, Trần Hoài N và nhóm Trần Quốc Nguyên D1 (sử dụng ống sắt bằng kim loại), Dương Văn Q (sử dụng kiếm), Phạm Văn T (sử dụng dao), Trần Phi H5 (sử dụng điếu thuốc lào), Dương Danh B, Dương Văn Q4, Nguyễn Danh H17, Nguyễn Lê Huy H18, Trần Sỹ H19, Nguyễn Tuấn A3. Còn Phạm Minh Đ7 có hành vi giúp sức cho mượn chiếc gậy baton để Nguyễn Đức D sử dụng đi đánh nhau. Bên cạnh đó, Trần Hoài N, Trần Hữu Đ cùng với Nguyễn Văn Hải Đ4, Nguyễn Bình A1, Lê Khắc Thành Đ5 (chưa đủ 16 tuổi) còn có hành vi rượt đuổi anh Trần Quốc T5 khiến anh T5 nhảy xuống hồ nước và bị tử vong.
Với hành vi phạm tội nêu trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 51/2024/HS-ST ngày 17/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh đã quyết định:
Tuyên bố các bị cáo Trần Hữu Đ và Trần Hoài N phạm các tội “Gây rối trật tự công cộng” và “Vô ý làm chết người”. Các bị cáo Nguyễn Đức D, Trần Quốc Nguyên D1, Dương Văn Q, Phạm Văn T, Trần Phi H5, Nguyễn Lê Khánh M1, Phạm Minh Đ2, Phạm Minh Đ7, Nguyễn Lê Huy H18, Dương Văn Q4, Dương Danh B, Trần Sỹ H19, Nguyễn Danh H17, Nguyễn Huy H16, Nguyễn Tuấn A3, Nguyễn Tuấn N10, Dương Chí P2 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”;
Căn cứ điểm b khoản 2 điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38, Điều 91, khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Trần Hữu Đ 15 (mười lăm) tháng tù; Căn cứ khoản 1 điều 128; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38, Điều 91, khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Trần Hữu Đ 18 (mười tám) tháng tù; Căn cứ điểm a khoản 1 điều 55, khoản 1 Điều 103 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt buộc Trần Hữu Đ phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 33 (ba mươi ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo thi hành án.
Căn cứ khoản 1 điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38, Điều 91, khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Trần Hoài N 03 (ba) tháng tù; Căn cứ khoản 1 điều 128; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38, Điều 91, khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Trần Hoài N 18 (mười tám) tháng tù; Căn cứ điểm a khoản 1 điều 55, khoản 1 Điều 103 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt buộc Trần Hoài N phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 21 (hai mươi mốt) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo thi hành án.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt:
- - Bị cáo Dương Văn Q 24 (hai mươi tư) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo thi hành án
- - Bị cáo Trần Phi H5 24 (hai mươi tư) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo thi hành án.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38; Điều 91; khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đức D 16 (mười sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo thi hành án.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58; Điều 91; khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự xử phạt:
- - Bị cáo Trần Quốc Nguyên D1 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo thi hành án.
- - Bị cáo Phạm Văn T 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo thi hành án.
- - Bị cáo Nguyễn Lê Khánh M1 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo thi hành án.
- - Bị cáo Phạm Minh Đ2 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo thi hành án.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về hình phạt đối với các bị cáo khác không kháng cáo, trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Trong hạn luật định, ngày 30/9/2024 bị cáo Trần Hữu Đ kháng cáo xin được hưởng án treo; Ngày 30/9/2024 bị cáo Trần Hoài N kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt; Ngày 26/9/2024 bị cáo Nguyễn Đức D kháng cáo xin được hưởng án treo; Ngày 24/9/2024 bị cáo Trần Quốc N11 D kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo; Ngày 30/9/2024 bị cáo Dương Văn Q kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt; Ngày 24/9/2024 bị cáo Phạm Văn T kháng cáo xin được hưởng án treo; Ngày 26/9/2024 bị cáo Trần Phi H5 kháng cáo xin được chuyển sang khung hình phạt nhẹ hơn; Ngày 30/9/2024 bị cáo Nguyễn Lê Khánh M1 và Nguyễn Minh Đ8 kháng cáo xin được hưởng án treo. Ngày 24/9/2024 đại diện hợp pháp của bị hại ông Trần Quốc K kháng cáo toàn bộ bản án, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giải quyết để đảm bảo quyền lợi ích hợp pháp cho bị hại và gia đình bị hại.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Trần Hữu Đ, Trần Hoài N, Nguyễn Đức D, Trần Quốc Nguyên D1, Dương Văn Q, Phạm Văn T, Trần Phi H5, Nguyễn Lê Khánh M1, Phạm Minh Đ2 và đại diện hợp pháp của bị hại ông Trần Quốc K vẫn giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh giữ quyền công tố tại phiên tòa phúc thẩm, sau khi xem xét, đánh giá tính chất vụ án, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tiết tăng nặng, giảm nhẹ của các bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự, không chấp nhận nội dung kháng cáo của các bị cáo Trần Hữu Đ, Trần Hoài N, Dương Văn Q, Trần Phi H5 và người đại diện hợp pháp của bị hại ông Trần Quốc K.
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự. Chấp nhận một phần nội dung kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Đức D, Trần Quốc Nguyên D1, Phạm Văn T, Nguyễn Lê Khánh M1 và Phạm Minh Đ2, sửa một phần bản án hình sự sơ thẩm số 51/2024/HS-ST ngày 17/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của các bị cáo làm trong hạn luật định nên được chấp nhận xem xét.
Tại phiên toà vắng mặt những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng. Xét thấy người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người làm chứng này đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, những người này đều đã có đầy đủ lời khai tại hồ sơ, việc xét xử vắng mặt những người này không làm ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án. Vì vậy, căn cứ quy định tại Điều 351 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng theo quy định pháp luật.
[2] Về nội dung: Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với thời gian, địa điểm phạm tội, vật chứng thu giữ và phù hợp với lời khai của các bị cáo khác, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người làm chứng đã được thẩm tra tại phiên tòa, có đủ cơ sở để kết luận: Vào đêm tối ngày 28/12/2023, trên địa bàn thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh xảy ra vụ gây gỗ đánh nhau, sử dụng xe mô tô rượt đuổi nhau với trên nhiều tuyến đường gây mất trật tự trị an, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh ở nhiều khu phố giữa hai nhóm thanh thiếu niên trong đó những người từ đủ 16 tuổi trở lên có hành vi gây rối trật tự công cộng gồm: Nhóm Nguyễn Đức D (sử dụng gậy baton); Trần Hữu Đ, Phạm Minh Đ2, Nguyễn Lê Khánh M1 (cùng sử dụng gạch đá sỏi); Dương Chí P2, Nguyễn Huy H16, Nguyễn Tuấn N10, Trần Hoài N và nhóm Trần Quốc Nguyên D1 (sử dụng ống sắt bằng kim loại), Dương Văn Q (sử dụng kiếm), Phạm Văn T (sử dụng dao), Trần Phi H5 (sử dụng điếu hút thuốc lào), Dương Danh B, Dương Văn Q4, Nguyễn Danh H17, Nguyễn Lê Huy H18, Trần Sỹ H19, Nguyễn Tuấn A3. Còn Phạm Minh Đ7 có hành vi giúp sức cho mượn chiếc gậy baton để Nguyễn Đức D sử dụng đi đánh nhau. Bên cạnh đó, Trần Hoài N, Trần Hữu Đ cùng với Nguyễn Văn Hải Đ4, Nguyễn Bình A1, Lê Khắc Thành Đ5 (chưa đủ 16 tuổi) còn có hành vi rượt đuổi anh Trần Quốc T5 khiến anh T5 nhảy xuống hồ nước và bị tử vong. Các bị cáo đều có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Hành vi gây rối trật tự công cộng các bị cáo thực hiện với lỗi cố ý. Còn hành vi rượt đuổi anh Trần Quốc T5 dẫn đến anh T5 nhảy xuống hồ nước tử vong là lỗi vô ý.
Do đó bản án hình sự sơ thẩm số 51/2024/HS-ST ngày 17 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh tuyên bố các bị cáo Trần Hữu Đ, Trần Hoài N phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” và tội “Vô ý làm chết người”; Nguyễn Đức D, Trần Quốc Nguyên D1, Dương Văn Q, Phạm Văn T, Trần Phi H5, Nguyễn Lê Khánh M1 và Phạm Minh Đ2 phạm tội “Gây rối trật tự cộng cộng” là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai.
[3] Xét nội dung kháng cáo của các bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và phù hợp các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, vật chứng thu giữ. Các bị cáo thực hiện hành vi gây rối trật tự công cộng với lỗi cố ý, vô ý làm chết người. Tuy nhận thức được việc làm của mình là vi phạm pháp luật nhưng chỉ vì mâu thuẫn nhỏ, nhằm thể hiện bản thân mà phạm tội. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền được sống, tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trên địa bàn, gây hoang mang lo lắng, dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà các bị cáo được hưởng.
Xét vị trí, vai trò của các bị cáo trong vụ án thấy rằng đây là vụ án đồng phạm mang tính giản đơn, trong đó: Đối với tội “Vô ý làm chết người”, Trần Hữu Đ và Trần Hoài N có vai trò ngang nhau, tham gia truy đuổi chạy sau các đối tượng khác; Đối với tội “Gây rối trật tự công cộng”: Nguyễn Đức D, Trần Quốc Nguyên D1 dẫn đầu nhóm truy đuổi, gọi thêm người và sử dụng hung khí nên Đức D và Nguyên D1 giữ vai trò chính; Q, T, H5, M1, Đ2, Đ có sử dụng hung khí và thực hành tích cực nên có vai trò thứ hai; Trần Hoài N thực hành tích cực, không sử dụng, hung khí nên giữ vai trò tiếp theo.
Tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo Dương Văn Q, Trần Phi H5 không xuất trình thêm được các tình tiết giảm nhẹ mới.
Bị cáo Trần Hữu Đ xuất trình Biên lai thu tiền án phí hình sự sơ thẩm, Phiếu thu ủng hộ đồng bào miền B bị ảnh hưởng bởi cơn bão số 3; Bị cáo Trần Hoài N nộp thêm các Giấy khen của trường tiểu học, T17 khen ban khuyến học dòng họ, có ông là Trần Văn T4 là thương binh hạng A, được tặng Huân chương chiến sỹ giải phóng hạng Ba, Huy chương kháng chiến hạng Nhì, có bà là Nguyễn Thị T18 được tặng Huân chương kháng chiến hạng Ba. Bị cáo Nguyễn Đức D xuất trình Đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của Hiệu trưởng trường nơi bị cáo đang học phổ thông trung học; bị cáo Phạm Minh Đ2 xuất trình thêm đơn xin giảm nhẹ hình phạt (xác nhận hoàn cảnh gia đình), có ông ngoại là Chu Ngọc T19 được tặng thưởng Huân chương chiến công hạng hạng Ba và là thương binh loại A; Bị cáo Nguyễn Lê Khánh M1 xuất trình thêm xác nhận hoàn cảnh gia đình, Biên lai thu tiền án phí hình sự sơ thẩm; Bị cáo Trần Quốc Nguyên D1 xuất trình thêm Giấy xác nhận ủng hộ các tỉnh Miền Bắc thiệt hại do cơn bão số 3, bản sao Giấy chứng nhận đạt giải Nhì tại Đại hội Điền Kinh – Thể thao cấp Huyện, có ông bà nội là Trần Quốc Y và Nguyễn Thị Q5 được tặng Huy chương kháng chiến hạng Nhì, có ông ngoại là Nguyễn Bảo T20 được tặng Huy chương chiến sĩ vẻ vang hạng Ba; Bị cáo Phạm Văn T xuất trình thêm Giấy xác nhận ủng hộ các tỉnh Miền Bắc thiệt hại do cơn bão số 3, bản sao hồ sơ bệnh án của mẹ đẻ bà Nguyễn Thị O, Đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có ông ngoại là Nguyễn Văn N9 được tặng Huy chương kháng chiến hạng Nhất, có cố là Nguyễn Đình M4 và Đặng Thị M5 được tặng Huy chương kháng chiến hạnh Nhì, có ông nội là Phạm Thanh Đ9 được hưởng chế độ trợ cấp một lần với quân nhân tham gia kháng chiến chống Mỹ.
Xét thấy bị cáo Trần Hữu Đ và Trần Hoài N là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thực được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn cố ý gây rối trật tự công cộng và vô ý làm chết người, một lúc phạm hai tội. Quá trình thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo Đ sử dụng hung khí, bị cáo N không sử dụng hung khí nhưng là người thực hành tích cực. Mặt khác, Trần Hoài N đã bị Tòa án nhân dân thành phố Hà Tĩnh xét xử và xử phạt 06 tháng tù về tội gây rối trật tự công cộng trong một vụ án khác. Sau khi xem xét về tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Hội đồng xét xử xét thấy không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Hữu Đ và Trần Hoài N.
Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt mức án 33 (ba mươi ba) tháng tù đối với Trần Hữu Đ; 21 (hai mươi mốt) tháng tù đối với Trần Hoài N; 24 (hai mươi tư) tháng tù đối với Dương Văn Q và Trần Phi H5 là tương xứng với tính chất, mức độ hậu quả của hành vi phạm tội, đúng người, đúng tội nên không có căn cứ chấp nhận nội dung kháng cáo của các bị cáo.
Xét thấy các bị cáo Nguyễn Lê Khánh M1, Phạm Minh Đ2, Phạm Văn T, Nguyễn Đức D và Trần Quốc N11 D là người chưa thành niên, (thời điểm phạm tội bị cáo M1 mới 16 tuổi 03 tháng 24 ngày, bị cáo Đ2 mới 16 tuổi 03 tháng 21 ngày, bị cáo T mới 16 tuổi 07 tháng 14 ngày, bị cáo Nguyễn Đức D 16 tuổi 11 tháng 21 ngày và bị cáo Trần Quốc N11 Dũng 16 tuổi 07 tháng 07 ngày), đều đang trong độ tuổi học hành, các bị cáo phạm tội lần đầu. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Xét về hoàn cảnh gia đình các bị cáo hiện khó khăn, các bị cáo có nơi cư trú rõ ràng. Mặc dù không có trách nhiệm bồi thường nhưng gia đình bị cáo Đức D đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 61.500.000 đồng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Trên cơ sở xem xét đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới mà các bị cáo được hưởng Hội đồng xét xử, xét thấy chưa cần thiết phải cách ly các bị cáo Nguyễn Đức D, Trần Quốc Nguyên D1, Phạm Văn T, Nguyễn Lê Khánh M1 và Phạm Minh Đ2 ra khỏi đời sống xã hội mà căn cứ Điều 65 Bộ luật hình sự cho các bị cáo được hưởng án treo, cải tạo giáo dục dưới sự giám sát của chính quyền địa phương và gia đình là cũng đủ nghiêm, thể hiện sự nhân đạo, khoan hồng của pháp luật đối với người chưa thành niên phạm tội, cũng như đảm bảo, tạo điều kiện cho các bị cáo có cơ hội được tiếp tục học tập và rèn luyện bản thân, trở thành người tốt có ích cho gia đình và xã hội.
Xét kháng cáo của người đại diện hợp pháp của bị hại, Hội đồng xét xử thấy rằng: Đại diện gia đình của bị hại cho rằng các bị cáo thực hiện hành vi truy đuổi bị hại anh T5 rất quyết liệt, khoảng cách chỉ từ 04m đến 05m, còn sử dụng hung khí nên đề nghị Hội đồng xét xử trả hồ sơ để điều tra bổ sung để làm rõ sự thật khách quan của vụ án, tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, kết quả thực nghiệm điều tra xác định được cự ly đuổi ban đầu giữa đối tượng chạy thứ nhất, cách bị hại khoảng 05m, khi T5 nhảy xuống hồ đối tượng chạy đầu tiên vẫn cách T5 khoảng 20m; các đối tượng còn lại cách từ 25m đến 30m. Khi chạy ra đến đường V, hai đối tượng chạy xe máy đuổi sau cùng dừng xe ở trên đường, cách vị trí mà T5 nhảy xuống hồ 30m. Mặt khác, việc các bị cáo truy đuổi để đánh T5 nhưng ý chí của các bị cáo không phải nhằm tước đoạt mạng sống của anh T5. Quá trình truy đuổi, anh T5 vẫn còn có nhiều con đường, các sự lựa chọn khác ngoài việc phải nhảy xuống hồ nước. Khi anh T5 nhảy xuống hồ các bị cáo đã nói “Mi lên đi choa tha cho” nhưng T5 vẫn không lên nên nhóm thanh niên trên chạy xe ra trước cổng trường tiểu học N12 ở gần đó để cho anh T5 lên bờ. Việc anh T5 nhảy xuống hồ và tử vong nằm ngoài sự mong muốn của các bị cáo. Vì vậy, không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của người đại diện của bị hại ông Trần Quốc K.
[4] Về án phí: Căn cứ vào Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Kháng cáo của các bị cáo Trần Hữu Đ, Trần Hoài N, Dương Văn Q, Trần Phi H5 không được chấp nhận nên các bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Đức D, Trần Quốc Nguyên D1, Phạm Văn T, Nguyễn Lê Khánh M1 và Phạm Minh Đ2 được chấp nhận nên các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Đại diện hợp pháp của bị hại ông Trần Quốc K không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[5] Về hiệu lực thi hành bản án: Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự: Không chấp nhận nội dung kháng cáo của các bị cáo Trần Hữu Đ, Trần Hoài N, Dương Văn Q, Trần Phi H5 và người đại diện hợp pháp của bị hại ông Trần Quốc K.
- Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự: Chấp nhận nội dung kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Đức D, Trần Quốc Nguyên D1, Phạm Văn T, Nguyễn Lê Khánh M1 và Phạm Minh Đ2 sửa quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm số 51/2024/HS-ST ngày 17/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh.
Tuyên bố các bị cáo Trần Hữu Đ và Trần Hoài N phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” và tội “Vô ý làm chết người”. Các bị cáo Nguyễn Đức D, Trần Quốc Nguyên D1, Dương Văn Q, Phạm Văn T, Trần Phi H5, Nguyễn Lê Khánh M1, Phạm Minh Đ2 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”
Căn cứ điểm b khoản 2 điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38, Điều 91, khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Trần Hữu Đ 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”; Căn cứ khoản 1 điều 128; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38, Điều 91, khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Trần Hữu Đ 18 (mười tám) tháng tù về tội “Vô ý làm chết người”; Căn cứ điểm a khoản 1 điều 55, khoản 1 Điều 103 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt buộc Trần Hữu Đ phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 33 (ba mươi ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo thi hành án.
Căn cứ khoản 1 điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38, Điều 91, khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Trần Hoài N 03 (ba) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”; Căn cứ khoản 1 điều 128; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38, Điều 91, khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Trần Hoài N 18 (mười tám) tháng tù về tội “Vô ý làm chết người”; Căn cứ điểm a khoản 1 điều 55, khoản 1 Điều 103 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt buộc Trần Hoài N phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 21 (hai mươi mốt) tháng tù. Căn cứ khoản 2 Điều 56 Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt 06 (sáu) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” tại bản án số 61/2024/HS-ST ngày 11/11/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh, buộc bị cáo Trần Hoài N phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 27 (hai mươi bảy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo thi hành án (được trừ thời gian tạm giam từ ngày 10/5/2024 đến ngày 06/8/2024 tại bản án số số 61/2024/HS-ST ngày 11/11/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh).
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt:
- - Bị cáo Dương Văn Q 24 (hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo thi hành án.
- - Bị cáo Trần Phi H5 24 (hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo thi hành án.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38; Điều 91; khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đức D 10 (mười) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 32 (ba mươi hai) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Đức D cho Ủy ban nhân dân phường H, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh và gia đình bị cáo có trách nhiệm giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 65; Điều 58; Điều 91; khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự xử phạt:
- - Bị cáo Trần Quốc Nguyên D1 18 (mười tám) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 (ba mươi sáu) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Trần Quốc Nguyên D1 cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh và gia đình bị cáo có trách nhiệm giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
- - Bị cáo Phạm Văn T 15 (mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 (ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Phạm Văn T cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh và gia đình bị cáo có trách nhiệm giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
- - Bị cáo Nguyễn Lê Khánh M1 15 (mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 (ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Lê Khánh M1 cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh và gia đình bị cáo có trách nhiệm giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
- - Bị cáo Phạm Minh Đ2 15 (mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 (ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Phạm Minh Đ2 cho Ủy ban nhân dân phường N, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh và gia đình bị cáo có trách nhiệm giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 87, Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
- Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Buộc các bị cáo Trần Hữu Đ, Trần Hoài N, Dương Văn Q,Trần Phi H5 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Các bị cáo Nguyễn Đức D, Trần Quốc Nguyên D1, Phạm Văn T, Nguyễn Lê Khánh M1, Phạm Minh Đ2 và người đại diện hợp pháp của bị hại ông Trần Quốc K không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Minh Thư |
Bản án số 18/2025/HS-PT ngày 28/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về hình sự phúc thẩm (về tội gây rối trật tự công cộng và vô ý làm chết người)
- Số bản án: 18/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Về tội Gây rối trật tự công cộng và Vô ý làm chết người)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 28/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Hữu Đ và đồng phạm phạm tội "Vô ý làm chết người" và "gây rối trật tự công cộng"
