Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TAM DƯƠNG

TỈNH VĨNH PHÚC

Bản án số: 18/2025/HS-ST

Ngày 27 tháng 02 năm 2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc

--------

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM DƯƠNG, TỈNH VĨNH PHÚC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Thảo

Các Hội thẩm nhân dân: - Bà Nguyễn Thị Nghị

- Bà Kiều Thị Thắng

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hoài Phương, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa: Bà Chu Thị Việt Hà, Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 12/2025/TLST-HS ngày 05 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 02 năm 2025, đối với bị cáo:

  1. Nguyễn Văn V, sinh ngày 15/5/1993, nơi sinh và cư trú: Thôn V, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn S (đã chết) và bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1969); có vợ là Nguyễn Thị Thanh H, sinh năm 1995 và 02 con (con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2018); tiền án, tiền sự: Không;

    Nhân thân: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 24/QĐ-XPHC ngày 16/3/2018 của Công an huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt Nguyễn Văn V về hành vi “trộm cắp tài sản”, mức phạt là 1.500.000đồng, V chưa thực hiện việc nộp phạt vi phạm hành chính. Sau khi ra Quyết định xử phạt hành chính, cơ quan công an đã đến nhà giao cho gia đình Nguyễn Văn V và đôn đốc nộp phạt. Tuy nhiên, V vắng mặt tại địa phương, gia đình không liên lạc được với V, không có căn cứ nào xác định V cố tình trốn tránh hay trì hoãn việc thực hiện Quyết định. Đến nay đã hết thời hiệu xử lý vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm nêu trên của V.

    Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 19 tháng 11 năm 2024 cho đến nay (có mặt).

  2. Lê Thị N, sinh ngày 01/01/1974, nơi sinh và cư trú: Thôn Đ, xã Y, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn Đ, sinh năm 1951 (đã chết) và bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1953; có chồng là Phạm Văn T, sinh năm 1971 (đã chết) và 02 con (con lớn sinh năm 1993, con nhỏ sinh năm 1995); tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại (có mặt).

- Bị hại: Anh Đỗ Văn H1, sinh năm 1991.

Nơi cư trú: Thôn V, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt).

- Người làm chứng:

  1. Ông Phùng Đắc M, sinh năm 1985;
  2. Nơi cư trú: Thôn L, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt).

  3. Bà Nguyễn Thị M1, sinh năm 1979;
  4. Nơi cư trú: Thôn H, xã T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt).

  5. Anh Nguyễn Trung H2, sinh năm 1988 (vắng mặt);
  6. Nơi cư trú: Thôn H, xã Đ, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn V là người có nhân thân xấu, đã từng bị xử phạt hành chính về hành vi “trộm cắp tài sản”. Để có tiền chơi điện tử và sử dụng vào mục đích cá nhân, Nguyễn Văn V đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của người dân. Nguyễn Văn V phát hiện tại khu đất trống của gia đình anh Đỗ Văn H1 tập kết nhiều thanh sắt định hình cốp pha, không có tường rào bảo vệ và không có người trông coi nên nảy sinh ý định trộm cắp sắt của gia đình anh Đỗ Văn H1. Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 31/7/2024, Nguyễn Văn V gọi điện cho Lê Thị N là người thu mua sắt phế liệu và nói cho N biết đến tối sẽ đi trộm cắp sắt rồi bán cho N. Nguyễn Văn V đã thoả thuận và thống nhất với Lê Thị N về thời gian, địa điểm trao đổi mua bán sắt và bảo N chuẩn bị khoảng 3.000.000đồng đến 4.000.000đồng để giao dịch mua bán sắt vào sáng ngày hôm sau. Thực hiện ý định, khoảng 22 giờ 00 phút ngày 31/7/2024, Nguyễn Văn V đi xe đạp từ nhà đến gần khu vực nhà anh H1, dựng xe ở ven đường chính, rồi đi bộ vào khu tập kết sắt nằm phía trước cửa nhà anh H1 (nhà anh H1 nằm ở đường nhánh cách đường chính khoảng 90m). Sau đó, Nguyễn Văn V đã lén lút, bí mật khuân, vác các tấm sắt định hình cốp pha đến đặt tại khu vực ven đường gần nơi để xe đạp, rồi dùng xe đạp chở các tấm sắt theo đường nội đồng với quãng đường khoảng 1,2 km đến khu đất trống giáp đường tàu thuộc phường H, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc cất giấu. Khoảng 03 giờ 00 phút ngày 01/8/2024, Nguyễn Văn V trộm cắp và vận chuyển được 16 tấm sắt định hình cốp pha ra vị trí tập kết để bán cho N. Khoảng 04 giờ 30 phút cùng ngày, tại vị trí bãi đất trống gần đường tàu, Lê Thị N đi xe đạp điện và mang theo cân đồng hồ đến rồi V và N cân tổng số 16 tấm sắt định hình cốp pha được 504 kg, thống nhất số tiền sắt là 3.700.000đồng. Lê Thị N đưa cho Nguyễn Văn V số tiền 3.000.000đồng, còn 700.000đồng N trừ vào số tiền 1.000.000đồng V đang nợ. Sau khi mua bán xong, Lê Thị N đợi đến khoảng 06 giờ 00 phút cùng ngày thì liên hệ với bà Nguyễn Thị M1 để bán sắt cho bà M1. Sau đó, bà M1 đi xe mô tô ra khu vực để

sắt theo sự chỉ dẫn của N. Lê Thị N và bà Nguyễn Thị M1 thỏa thuận và thống nhất việc mua bán sắt với nhau xong thì bà M1 gọi điện thoại cho anh Nguyễn Trung H2 để bán sắt cho anh H2 (anh H2 là người mua sắt lại từ bà M1) và bảo anh H2 đi xe ô tô đến chở sắt. Khi anh H2, bà M1 và Lê Thị N đang vận chuyển các tấm sắt lên thùng xe ô tô thì bị anh H1 phát hiện ngăn chặn, đồng thời báo Công an xã V (nay là Công an xã H), huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc giải quyết. Thấy anh H1 nói các tấm sắt cốp pha là tài sản của anh H1 bị trộm cắp nên anh H2 và bà M1 để lại các tấm sắt định hình cốp pha, không mua nữa. Sau khi nhận được tin báo của anh H1, Công an xã V (nay là Công an xã H), huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc đã đến hiện trường lập biên bản sự việc, tạm giữ vật chứng gồm: 16 tấm sắt định hình cốp pha, đã cũ, hình chữ nhật, trong đó có 04 tấm có kích thước (02 x 0,6)m và 12 tấm có kích thước (02 x 0,5)m, tổng trọng lượng là 505 kg; 01 xe đạp điện màu sơn đỏ, đã cũ; 01 cân đồng hồ màu xanh, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia đã qua sử dụng.

Sau khi xác minh sơ bộ, Công an xã V (nay là Công an xã H), huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc đã chuyển tố giác về tội phạm đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc để giải quyết theo thẩm quyền. Quá trình xác minh, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, vẽ sơ đồ hiện trường, triệu tập Nguyễn Văn V để làm việc. V đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản của mình như đã nêu trên và tự nguyện giao nộp: 01 xe đạp màu xám, đã cũ là phương tiện V sử dụng để vận chuyển tài sản trộm cắp. Đối với số tiền 3.000.000đồng do bán 16 tấm sắt định hình cốp pha cho Lê Thị N vào ngày 01/8/2024, V khai đã sử dụng vào mục đích cá nhân hết.

Tại Kết luận định giá tài sản số 50/KL-HĐĐGTS ngày 17/8/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc kết luận: 505 kg sắt (loại sắt định hình cốp pha) đã cũ, đã qua sử dụng, trị giá là 4.040.000đồng.

Cơ quan điều tra đã tiến hành trưng cầu giám định Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh V, yêu cầu kiểm tra, trích xuất, khôi phục dữ liệu điện tử đối với điện thoại và sim điện thoại tạm giữ của Lê Thị N. Kết quả thể hiện không có lịch sử cuộc gọi, tin nhắn, lưu danh bạ đối với số điện thoại của V, không có nội dung gì liên quan đến vụ án. Quá trình làm việc với cơ quan điều tra, N khai sau khi bị anh H1 phát hiện, do sợ trách nhiệm nên N đã xóa số điện thoại của V lưu trong điện thoại, xóa lịch sử cuộc gọi giữa V và N.

Cơ quan điều tra đã tiến hành thực nghiệm điều tra, yêu cầu Nguyễn Văn V thực hiện lại hành vi trộm cắp tài sản của V vào đêm ngày 31/7/2024, rạng sáng ngày 01/8/2024. Kết quả xác định Nguyễn Văn V đã một mình trộm cắp các tấm sắt định hình cốp pha và vận chuyển bằng xe đạp từ vị trí trộm cắp đến vị trí cất giấu để bán, phù hợp với nội dung diễn biến nêu trên.

Đối với Lê Thị N, quá trình điều tra xác định, Nguyễn Văn V quen biết với N từ trước. Vào khoảng cuối tháng 07/2024, V đứng đợi ở khu vực đường giao thông giáp đường tàu thuộc phường H, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc để tìm người thu mua sắt vụn thì gặp và bán sắt cho N. Do số tiền bán sắt vụn không đủ

sử dụng vào mục đích cá nhân nên V nảy sinh ý định vay tiền N để sử dụng trước, sau đó sẽ đi trộm sắt để bán cho N trả nợ. Nguyễn Văn V nói với N, sẽ đi trộm cắp các tấm sắt cốp pha và bán rẻ cho N, N đồng ý và hứa hẹn sẽ mua với giá 7.500đồng/kg. N và V trao đổi số điện thoại để tiện liên lạc. V nói vài hôm nữa sẽ đi trộm cắp và khi nào lấy được sẽ báo cho N. Sau đó, V hỏi vay N 1.000.000đồng và hứa khi nào bán sắt sẽ trừ nợ. Lê Thị N yêu cầu V đưa căn cước công dân của V để làm tin, V đồng ý. N đưa V 1.000.000đồng và tiền bán sắt vụn. V sử dụng chơi điện tử và sử dụng vào mục đích cá nhân hết. Ngày 31/7/2024, dự định đêm sẽ trộm cắp sắt nên V gọi điện báo cho N về việc sẽ đi trộm cắp sắt, bảo N chuẩn bị tiền và hẹn N sáng sớm ngày hôm sau đến khu đất trống giáp đường tàu thuộc phường H, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc để mua bán sắt như đã nêu ở trên.

Tại Cáo trạng số 18/CT-VKSND ngày 05/02/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố các bị cáo Nguyễn Văn V và Lê Thị N về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với các bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung Cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn V, Lê Thị N phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

Đối với bị cáo V: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt Nguyễn Văn V từ 07 tháng đến 09 tháng tù.

Đối với bị cáo N: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt Lê Thị N từ 06 tháng đến 08 tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 12 tháng đến 16 tháng.

Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo do các bị cáo không có tài sản, thu nhập.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 46, khoản 1, 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Tịch thu, phát mại sung vào ngân sách Nhà nước 01 xe đạp điện màu sơn đỏ, đã cũ; 01 cân đồng hồ màu xanh, đã cũ; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia đã cũ; 01 xe đạp màu xám. Truy thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 3.700.000đồng Việt có được từ việc bán tài sản trộm cắp ngày 31/7/2024. Trả lại cho Nguyễn Văn V 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Văn V.

Các bị cáo Nguyễn Văn V, Lê Thị N không bào chữa, không tranh luận và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự tố tụng của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Bị cáo, bị hại, người làm chứng không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2]. Tại phiên tòa và trong quá trình điều tra, các bị cáo Nguyễn Văn V, Lê Thị N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố. Xét lời nhận tội của các bị cáo Nguyễn Văn V, Lê Thị N tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, phù hợp với vật chứng thu giữ được và phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy có đủ chứng cứ khách quan để kết luận:

Nguyễn Văn V là người có nhân thân xấu, đã từng bị xử phạt hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản". Để có tiền sử dụng vào mục đích cá nhân và chơi điện tử, Nguyễn Văn V đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Phát hiện tại khu đất trống của gia đình anh Đỗ Văn H1 tập kết nhiều thanh sắt định hình cốp pha, không có tường rào bảo vệ và người trông coi nên vào đêm ngày 31/7/2024, Nguyễn Văn V đã thực hiện hành vi trộm cắp 16 tấm sắt định hình cốp pha, tổng trọng lượng là 505 kg, trị giá 4.040.000đồng. Số tiền có được sau khi bán tài sản trộm cắp, V sử dụng để chơi điện tử hết. Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn V đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Lê Thị N biết Nguyễn Văn V sẽ thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nên đã hứa hẹn, thoả thuận sẽ mua tài sản do V trộm cắp mà có để bán lại kiếm lời. Ngày 01/8/2024, Lê Thị N đã thực hiện hành vi mua 16 tấm sắt định hình cốp pha với tổng trọng lượng là 505 kg, trị giá 4.040.000đồng, là tài sản do Nguyễn Văn V trộm cắp mà có, hành vi của Lê thị N là đồng phạm giúp sức cho Nguyễn Văn V nên đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1, Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Điều 173 quy định:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000đồng đến dưới 50.000.000đồng hoặc dưới 2.000.000đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.”

Xét tính chất vụ án là ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo Nguyễn Văn V, Lê Thị N là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội, gây bất bình trong nhân dân. Hành vi của các bị cáo Nguyễn Văn V, Lê Thị N xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Vì vậy cần phải xử phạt nghiêm.

[3]. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo:

Các bị cáo Nguyễn Văn V, Lê Thị N không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xét nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo V là người có nhân thân xấu. Ngày 16/3/2018, Nguyễn Văn V bị Công an huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “trộm cắp tài sản”, mức phạt là 1.500.000đồng. V chưa thực hiện việc nộp phạt vi phạm hành chính. Đến nay đã hết thời hiệu xử lý vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm nêu trên của V. Các bị cáo Nguyễn Văn V và Lê Thị N không có tiền sự, tiền án, phạm tội gây thiệt hại không lớn, quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đó là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự các bị cáo được hưởng theo quy định tại các điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Ngoài ra, bị cáo Lê Thị N có bố là ông Lê Văn Đ được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhất vì đã có thành tích trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước nên bị cáo N được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Hội đồng xét xử xét thấy cần phải lên một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo Nguyễn Văn V và áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo đối với bị cáo Lê Thị N, có như vậy mới đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm.

[4]. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo Nguyễn Văn V, Lê Thị N không có tài sản, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 để phạt tiền đối với các bị cáo V, N.

[5]. Đối với chiếc điện thoại di động Nguyễn Văn V sử dụng liên lạc với Lê Thị N trong lần trộm cắp tài sản ngày 31/7/2024, điện thoại đã bị hỏng nên V đã vứt bỏ, không nhớ vứt ở đâu nên không thu giữ được.

[6]. Đối với bà Nguyễn Thị M1, anh Nguyễn Trung H2: Quá trình điều tra xác định bà M1 và anh H2 là những người mua tài sản do các bị cáo V, N thực hiện hành vi trộm cắp tài sản mà có. Tuy nhiên, trong quá trình trao đổi, mua bán thì N không nói cho bà M1 và anh H2 biết về nguồn gốc tài sản là do trộm cắp mà có; bản thân bà M1 và anh H2 đều không biết tài sản là do N và V trộm cắp mà có nên cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với bà M1 và anh H2 là phù hợp.

[7]. Về vật chứng:

Đối với 01 xe đạp điện màu sơn đỏ, đã cũ; 01 cân đồng hồ màu xanh, đã cũ; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia đã cũ. Quá trình điều tra xác định là tài sản của Lê Thị N sử dụng để liên lạc, mua bán tài sản trộm cắp với Việt ngày 31/7/2024, cần tịch thu, phát mại sung vào ngân sách Nhà nước.

Đối với 01 xe đạp màu xám, xác định là tài sản thuộc sở hữu của Nguyễn Văn V, sử dụng làm phương tiện trộm cắp tài sản, cần tịch thu, phát mại sung vào ngân sách Nhà nước.

Đối 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Văn V, là thẻ căn cước công dân của V sử dụng để đưa cho N giữ làm tin khi vay tiền, không liên quan đến vụ án, cần trả lại cho V theo quy định.

Đối với số tiền 3.700.000đồng V có được từ việc bán tài sản trộm cắp ngày 31/7/2024, cần truy thu sung vào ngân sách Nhà nước.

Đối với 16 tấm sắt định hình cốp pha đã cũ, tổng khối lượng 505 kg, bao gồm 04 tấm có kích thước (2 x 0,6)m, 12 tấm có kích thước (2 x 0,5)m, xác định là tài sản thuộc sở hữu của anh Đỗ Văn H1, cơ quan điều tra đã trả lại cho anh H1 là đúng theo quy định của pháp luật.

[8]. Về trách nhiệm dân sự: Sau khi nhận lại tài sản, anh H1 không có yêu cầu, đề nghị gì nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

[9]. Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Văn V, Lê Thị N phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

[10]. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc đối với các bị cáo là có căn cứ đúng pháp luật sẽ được Hội đồng xét xử xem xét quyết định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh:

    Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn V, Lê Thị N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

  2. Về hình phạt:

    2.1. Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm h, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

    Xử phạt Nguyễn Văn V 09 (chín) tháng tù.

    Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 19/11/2024).

    2.2. Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

    Xử phạt Lê Thị N 07 (bảy) tháng tù cho hưởng án treo.

    Thời gian thử thách 01 (một) năm 02 (hai) tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Giao bị cáo Lê Thị N cho Ủy ban nhân dân xã Y, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

    Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự hai lần trở lên thì thực hiện theo quy định tại khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

    Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

  3. Về vật chứng:

    Căn cứ khoản 1 Điều 46, khoản 1, 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

    Tịch thu, phát mại sung vào ngân sách Nhà nước 01 xe đạp điện màu sơn đỏ, đã cũ; 01 cân đồng hồ màu xanh, đã cũ; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia đã cũ; 01 xe đạp màu xám, đã cũ.

    Truy thu đối với Nguyễn Văn V số tiền 3.700.000đồng (ba triệu bảy trăm nghìn đồng) để sung vào ngân sách Nhà nước.

    Trả lại cho Nguyễn Văn V 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Văn V.

    Xác nhận cơ quan điều tra đã trả lại cho anh H1 16 tấm sắt định hình cốp pha đã cũ, tổng khối lượng 505 kg, bao gồm 04 tấm có kích thước (2 x 0,6)m, 12 tấm có kích thước (2 x 0,5)m là đúng theo quy định của pháp luật.

    (đặc điểm vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 17/02/2025).

  4. Về án phí:

    Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về án phí, lệ phí toà án, các bị cáo Nguyễn Văn V, Lê Thị N, mỗi bị cáo phải nộp 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  5. Về quyền kháng cáo:

    Căn cứ Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự;

    Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - TAND tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - VKSND huyện Tam Dương;
  • - Phòng Hồ sơ Công an tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Cơ quan thi hành án hình sự;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Chi cục thi hành án dân sự huyện Tam Dương;
  • - Lưu HS, bộ phận theo dõi THAHS, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Nguyễn Thanh Thảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 18/2025/HS-ST ngày 27/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM DƯƠNG, TỈNH VĨNH PHÚC về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 18/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM DƯƠNG, TỈNH VĨNH PHÚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn V, Lê Thị N phạm tội Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger