Hệ thống pháp luật

TAND HUYỆN ĐẠI TỪ

TỈNH THÁI NGUYÊN


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc


Bản án số: 18/2025/HS - ST

Ngày 20/02/2025

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Kiên.

Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Quang Hợp.

2. Ông Phạm Xuân Khoa.

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Thúy, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.

Đại diện VKSND huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Lã Thị T, Kiểm sát viên.

Trong ngày 20 tháng 02 năm 2025 tại Trụ sở TAND huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 19/2025/TLST - HS ngày 24/01/2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2025/QĐXXST - HS ngày 03/02/2025 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: PHẠM VĂN H, SN 18/12/1975; Giới tính: Nam;

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: xóm B, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên;

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 9/12; Nghề nghiệp: Tự do. Bố: Phạm Văn O, sinh năm 1950; Mẹ: Nguyễn Thị T1, sinh năm 1955. Gia đình có 05 anh em, bị cáo là con thứ 01 trong gia đình. Vợ: Dương Thị H1, sinh năm 1974; Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2000, con nhỏ sinh năm 2010;

Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Tại bản án số 43/HSST ngày 23/5/2014 Toà án nhân dân huyện Đại Từ xử phạt H 08 triệu đồng về tội “Đánh bạc”. Chấp hành xong án phí ngày 25/7/2014, chấp hành xong hình phạt tiền ngày 12/9/2014. Bản án đã được xoá án tích;

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 09/01/2025 đến ngày 12/01/2025 được thay thế biện pháp ngăn chặn. Có mặt tại phiên tòa.

3. Họ và tên: PHẠM CÔNG Q, SN 15/12/1975; Giới tính: Nam;

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: xóm T, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên;

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 8/12; Nghề nghiệp: Lái xe. Bố: Phạm Công T2, sinh năm 1950; Mẹ: Nguyễn Thị T3, sinh năm 1951. Gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ 02 trong gia đình. Vợ: Nguyễn Thị H2, sinh năm 1976. Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 1996, con nhỏ sinh năm 2002.

Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Tại bản án số 01/HSST ngày 10/01/2003 Toà án nhân dân huyện Đại Từ xử phạt Q 03 triệu đồng về tội “Đánh bạc”. Ngày 29/6/2018 được miễn chấp hành khoản nộp ngân sách nhà nước và án phí. Bản án đã được xoá án tích;

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 09/01/2025 đến ngày 12/01/2025 được thay thế biện pháp ngăn chặn. Có mặt tại phiên tòa.

3. Họ và tên: NGUYỄN ĐÌNH Q1, SN 24/02/1983; Giới tính: Nam;

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: xóm L, xã B, huyện Đ, Thái Nguyên;

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 10/12; Nghề nghiệp: Lái xe. Bố: Nguyễn Đình N, đã chết; Mẹ: Đỗ Thị H3, sinh năm 1958. Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ 02 trong gia đình. Vợ: Phạm Thị Mỹ T4, sinh năm 1985; Có 04 con, con lớn sinh năm 2013, con nhỏ nhất sinh năm 2021;

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 09/01/2025 đến ngày 12/01/2025 được thay thế biện pháp ngăn chặn. Có mặt tại phiên tòa.

4. Họ và tên: NGUYỄN VĂN B, SN 17/4/1981; Giới tính: Nam;

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: xóm I, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên;

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Tự do. Bố: Nguyễn Xuân D, sinh năm 1952; Mẹ: Lê Thị X, sinh năm 1953. Gia đình có 08 anh em, bị cáo là con thứ 04 trong gia đình. Vợ: Hứa Thị H4, đã chết; Con: Có 03 con, con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2020;

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 09/01/2025 đến ngày 12/01/2025 được thay thế biện pháp ngăn chặn. Có mặt tại phiên tòa.

* Người chứng kiến: bà Nguyễn Thu H5, sinh năm 1975. Trú tại: xóm B, xã B, huyên Đ, Thái Nguyên (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 14 giờ 20 phút ngày 09/01/2025, Tổ công tác Công an huyện Đ phối hợp với Công an xã B, huyện Đ làm nhiệm vụ trên địa bàn xã B, huyện Đ thì phát hiện tại gian phòng khách nhà Phạm Văn H, sinh năm 1975, trú tại xóm B, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên có một nhóm đối tượng đang đánh bạc bằng hình thức đánh “Sâm” được thua bằng tiền. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang với 04 đối tượng là Phạm Công Q, Phạm Văn H, Nguyễn Đình Q1, Nguyễn Văn B. Vật chứng thu giữ tại chiếu bạc 5.290.000 đồng, 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân và 01 thảm nỉ kích thước (2,6x2)m.

Tại Cơ quan điều tra Phạm Công Q, Phạm Văn H, Nguyễn Đình Q1, Nguyễn Văn B cùng khai nhận: Khoảng 13h00 ngày 09/01/2025, Phạm Công Q, Nguyễn Đình Q1 và Nguyễn Văn B đi đến nhà Phạm Văn H chơi. Trong lúc ngồi chơi uống nước, cả nhóm rủ nhau đánh bạc bằng hình thức đánh “Sâm” được thua bằng tiền. Sau đó, H lấy 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân sẵn có trong nhà rồi cùng nhau ngồi xuống thảm nỉ màu đỏ đen trải sẵn dưới nền phòng khách để cả nhóm đánh bạc. Cả nhóm đánh bạc liên tục đến khoảng 14 giờ 20 phút cùng ngày thì bị Tổ công tác của Công an huyện Đ và Công an xã B phát hiện lập biên bản bắt người phạm tội quả tang thu giữ vật chứng tại chiếu bạc 5.290.000 đồng là tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc và những vật chứng có liên quan khác.

Về hình thức đánh “Sâm” được thua bằng tiền: Cả nhóm thống nhất sử dụng bộ bài tú lơ khơ gồm 52 quân sau đó trộn đều rồi chia theo vòng lần lượt mỗi người 10 lá bài. Khi lên bài nếu có người “Báo S" thì người “Báo S” được đi đầu tiên nếu đánh hết cả 10 lá bài trên tay mà không bị chặn thì những người chơi còn lại mỗi người phải mất cho người “Báo S” số tiền 200.000 đồng; Nếu người “Báo S' mà bị chặn thì người “Báo Sâm” phải mất cho người đã chặn bài của mình số tiền là 600.000 đồng. Khi lên bài nếu không có ai “Báo Sâm” thì đánh lần lượt theo vòng ai hết 10 lá bài trước thì người đó thẳng, những người còn lại đếm số lá bài trên tay, mỗi lá bài còn lại phải trả cho người thắng số tiền là 10.000 đồng/01 lá. Người không đánh được lá bài nào “Cháy” người cháy phải mất cho người về nhất số tiền là 150.000 đồng.

Quá trình đánh bạc: Phạm Văn H sử dụng 800.000đ để đánh bạc; Phạm Công Q sử dụng 1.100.000đ để đánh bạc; Nguyễn Đình Q1 sử dụng 1.500.000đ để đánh bạc; Nguyễn Văn B sử dụng 1.890.000đ để đánh bạc. Tổng số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc là 5.290.000 đồng.

Vật chứng của vụ án gồm: 5.290.000 đồng tiền Ngân hàng N1 (thu giữ trên chiếu bạc); 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân; 01 chiếc thảm nỉ kích thước (2 x 2,6)m. Hiện đang được bảo quản và lưu giữ tại kho vật chứng và tài khoản của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đại Từ chờ xử lý.

Tại quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 18/QĐ - VKSĐT ngày 23/01/2025, VKSND dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố các bị cáo Phạm Văn H, Phạm Công Q, Nguyễn Đình Q1, Nguyễn Văn B phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 BLHS .

Tại phiên tòa đại diện VKSND giữ nguyên quyết định truy tố; đề nghị HĐXX

Áp dụng: khoản 1 Điều 321; điểm i,s khoản 1 và (khoản 2 đối với Nguyễn Đình Q1) Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 35 BLHS đối với các bị cáo Nguyễn Đình Q1 và Nguyễn Văn B - Xử phạt: mỗi bị cáo từ 40 đến 50 triệu đồng. Áp dụng: khoản 1,3 Điều 321; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 65 BLHS đối với các bị cáo Phạm Văn H và Phạm Công Q - Xử phạt: mỗi bị cáo từ 06 đến 09 tháng tù cho hưởng án treo. Phạt bổ sung các bị cáo Phạm Văn H và Phạm Công Q mỗi bị cáo từ 10 đến 15 triệu đồng sung ngân sách Nhà nước; đề nghị xử lý vật chứng và buộc 4/4 bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Tại phần tranh luận: Các bị cáo đều không có ý kiến tranh luận. Thừa nhận việc truy tố xét xử là đúng người, đúng tội, không oan; nói lời sau cùng: đều xin được hưởng mức hình phạt thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Theo kết luận điều tra và quyết định truy tố thì vụ án được thực hiện theo thủ tục rút gọn. Tuy nhiên, Tòa án nhân dân huyện Đại Từ đã quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung.

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:

{1}. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điểu tra Công an huyện Đ, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

{2.}Về căn cứ buộc tội: Tại giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo đều khai nhận toàn bộ diễn biến, hành vi nội dung sự việc đúng như nội dung kết luận điều tra và quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn. Lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người chứng kiến; biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác Cơ quan điều tra đã thu thập có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 BLHS. Quyết định truy tố số 18/QĐ - VKSĐT ngày 23/01/2025 và quan điểm đề nghị tại phiên tòa của VKSND huyện Đại Từ đối với các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và có căn cứ.

Nội dung khỏan 1 Điều 321 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền ... có trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng ... thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

{3}. Xét tính chất hành vi và vai trò phạm tội của các bị cáo:

Tính chất hành vi đánh bạc của các bị cáo thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Khoảng 13h00 ngày 09/01/2025, Phạm Công Q, Nguyễn Đình Q1 và Nguyễn Văn B đi đến nhà Phạm Văn H chơi. Trong lúc ngồi chơi uống nước, cả nhóm rủ nhau đánh bạc bằng hình thức đánh “Sâm” được thua bằng tiền. Quá trình đánh bạc không có sự rủ rê, lôi kéo, tổ chức hay xúi giục người khác đánh bạc; không cho vay, cầm cố hoặc thu tiền đánh bạc; không phân công canh gác, cảnh giới để đánh bạc; số tiền đánh bạc vừa đủ định lượng cấu thành tội phạm nên các bị cáo đều có vai trò đồng phạm giản đơn như nhau là người thực hiện hành vi “Đánh bạc”.

{4}. Xét tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

4/4 bị cáo đều không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. 02/4 bị cáo được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i,s khoản 1 Điều 51 BLHS (Nguyễn Đình Q1 và Nguyễn Văn B); 02/4 bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS (Phạm Văn H và Phạm Công Q); 3/4 bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS (Phạm Văn H, Phạm Công Q và bị cáo Nguyễn Đình Q1, do đều có bố đẻ được tặng thưởng Huân chương kháng chiến).

{5}. Xét nhân thân của các bị cáo thì thấy: các bị cáo đều được sinh ra và lớn lên trong gia đình lao động, được nuôi ăn học, có đủ nhận thức về các việc làm đúng sai của bản thân; 2/4 bị cáo là người chưa bị xét xử hoặc bị xử phạt vi phạm hành chính lần nào (Nguyễn Đình Q1 và Nguyễn Văn B); 2/4 bị cáo đã bị xét xử từ năm 2014 và 2003 đến nay đã được xóa án tích (Phạm Văn H và Phạm Công Q). Tuy nhiên, do nhất thời ham chơi và coi thường pháp luật nên các bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội.

{6}. Về hình phạt: Căn cứ vào tính chất, hành vi, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo, thấy. Các bị cáo đều là những người lao động bình thường (làm thuê), đều là những người không có tiền án, tiền sự (Phạm Văn H bị xét xử từ năm 2014 và Phạm Công Q bị xét xử từ năm 2003 về tội ít nghiêm trọng, đến nay đã được xóa án tích). Các bị cáo đều phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và đều có ít nhất từ 02 tình tiết giảm nhẹ trở lên; đều thực hiện hành vi đánh bạc với vai trò đồng phạm giản đơn, do nhất thời ham chơi; không có tính tổ chức hay dụ dỗ, xúi giục người khác phạm tội, số lượng tiền đánh bạc vừa đủ định lượng để cấu thành tội phạm. Vì vậy, khi quyết định hình phạt, HĐXX cần cân nhắc, xem xét và đối chiếu với các quy định của pháp luật để có mức hình phạt cho phù hợp, vừa đảm bảo tính nghiêm minh, đúng pháp luật, vừa đảm bảo công tác đấu tranh phòng chống tội phạm.

Về hình phạt bổ sung: cần phạt bổ sung các bị cáo hình phạt chính không phải là hình phạt tiền một khoản tiền theo quy định để sung ngân sách Nhà nước.

{7}. Về vật chứng vụ án:

+ Số tiền 5.290.000 đồng tiền Ngân hàng N1. Xác định là công cụ, phương tiện phạm tội cần được tịch thu sung ngân sách Nhà nước;

+ 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân; 01 chiếc thảm nỉ kích thước (2 x 2,6)m. Là công cụ phương tiện phạm tội và là vật không còn giá trị sử dụng, chủ sử hữu không yêu cầu được nhận lại, được tịch thu tiêu hủy.

{8}. Về án phí và quyền kháng cáo: 4/4 bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm sung ngân sách Nhà nước và được quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Các bị cáo Phạm Văn H, Phạm Công Q, Nguyễn Đình Q1, Nguyễn Văn B phạm tội “Đánh bạc”;

1. Áp dụng: khoản 1,3 Điều 321; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; 58 và Điều 65 Bộ luật hình sự;

+ Xử phạt: bị cáo Phạm Văn H 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

+ Xử phạt: bị cáo Phạm Công Q 08 (tám) tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách là 16 (mười sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Phạm Văn H cho UBND xã B; bị cáo Phạm Công Q cho UBND xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương nơi các bị cáo cư trú trong việc giám sát, giáo dục.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu các bị cáo cố tình vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án. Trường hợp các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định của Điều 56 Bộ luật hình sự.

* Hình Phạt bổ sung: Phạt bổ sung các bị cáo Phạm Văn H và Phạm Công Q mỗi bị cáo 10.000.000đ (mười triệu đồng) sung ngân sách Nhà nước.

2. Áp dụng: khoản 1 Điều 321; điểm i,s khoản 1 + khoản 2 (đối với bị cáo Nguyễn Đình Q1) Điều 51; Điều 17; 58 và Điều 35 Bộ luật hình sự;

+ Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đình Q1 40.000.000₫ (bốn mươi triệu);

+ Xử phạt: bị cáo Nguyễn Văn B 40.000.000đ (bốn mươi triệu).

* Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 BLTTHS; Điều 47 BLHS;

+ Tịch thu sung công ngân sách Nhà nước số tiền: 5.290.000 đồng tiền Ngân hàng N1;

+ Tịch thu tiêu hủy: 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân; 01 chiếc thảm nỉ kích thước (2 x 2,6)m;

(Tình trạng, đặc điểm của vật chứng như trong mô tả tại Quyết định chuyển vật chứng số 18/QĐ - VKSĐT ngày 22/01/2025 của VKSND huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên cùng các biên bản giao nhận vật chứng kèm theo).

* Về án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS; Nghị quyết số 326/2016/NQ - UBTVQH14 về mức thu, miễn giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Phạm Văn H, Phạm Công Q, Nguyễn Đình Q1, Nguyễn Văn B mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm sung ngân sách Nhà nước.

Án xử công khai sơ thẩm báo cho các bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - Sở Tư pháp tỉnh TN;
  • - VKSND tỉnh + huyện Đại Từ;
  • - Công an huyện Đại Từ;
  • - THAHS + THADS Đại Từ;
  • - Bị cáo;
  • - UBND xã Bản ngoại,
  • Tiên Hội, Phú Xuyên;
  • - Lưu hồ sơ + VT.

THAY MẶT HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Văn Kiên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 18/2025/HS - ST ngày 20/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN về hình sự sơ thẩm (tội đánh bạc)

  • Số bản án: 18/2025/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tội Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn H + đồng phạm: Đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger