Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TÂN AN

TỈNH LONG AN

Bản án số: 18/2025/HS-ST

Ngày 20 - 3 - 2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Tuấn Phan .

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Hải.

Bà Lương Thị Thu Hà.

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Trần Vy–Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Thạch Quanh Thây - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 24/2025/TLST-HS ngày 28 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2025/QĐXXST-HS, ngày 07 tháng 3 năm 2025 đối với các bị cáo:

1/ Nguyễn Hùng D, sinh năm 1984 tại Long An.

Nơi cư trú: Số A, ấp B, xã B, thành phố T, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 02/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Ngô Hồng S (đã chết) và bà Nguyễn Thị Thu H; Bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền sự: không.

Tiền án: Ngày 20/6/2005, Tòa án nhân dân thị xã Tân An xử phạt 05 tù về tội “cưỡng đoạt tài sản”, chấp hành hình phạt tù xong ngày 16/10/2008 nhưng chưa nộp tiền án phí và thi hành trách nhiệm dân sự.

Nhân thân:

  • - Ngày 03/11/2020, Tòa án nhân dân thành phố Tân An xử phạt 01 năm tù về tội “trộm cắp tài sản”.
  • - Ngày 29/3/2018 bị TAND Quận 9 Thành phố Hồ Chí Minh quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 18 tháng.
  • - Ngày 13/12/2010 bị UBND quận T, Thành phố Hồ Chí Minh quyết định về việc đưa người nghiện ma túy vào cơ sở chữa bệnh, thời hạn 24 tháng.

Bị cáo bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực thành phố T, tỉnh Long An từ ngày 14/12/2024 đến nay (bị cáo có mặt tại phiên tòa).

2/ Trương Quốc H1, sinh ngày 18/3/2006 tại Long An.

Nơi cư trú: Số F, Quốc lộ A, Phường D, thành phố T, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trương Quốc T và bà Trần Thị Cẩm V; Bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án: không.

Tiền sự:

  • - Ngày 24/9/2024, Tòa án nhân dân thành phố Tân An quyết định đưa vào cai nghiện bắt buộc 24 tháng về hành vi “sử dụng trái phép chất ma túy”.
  • - Ngày 23/01/2024, bị UBND xã N xử phạt 1.500.000đ về hành vi “sử dụng trái phép chất ma túy”.

Bị cáo bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực thành phố T, tỉnh Long An từ ngày 14/12/2024 đến nay (bị cáo có mặt tại phiên tòa).

- Bị hại: Ông Võ Minh N, sinh năm 2001; Địa chỉ: Số D, đường số F, KDC P, Phường F, thành phố T, tỉnh Long An (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ 30 phút, ngày 13/12/2024, Nguyễn Hùng D ngồi uống nước với Trương Quốc H1 tại quán nước trước Công viên P, thành phố T, Long An, D rủ H1 đi tìm tài sản để trộm cắp bán lấy tiền tiêu xài, H1 đồng ý. H1 điều khiển xe môtô biển số 62B1-172.3 chở D đi qua nhiều tuyến đường trong thành phố T tìm tài sản lấy trộm. Khoảng 22 giờ cùng ngày, cả hai đi ngang nhà số D, đường S, Phường A, thành phố T, D nhìn thấy xe môtô Sirius, biển số: 63B8-316.80 của anh Võ Minh N dựng trước nhà không người trông coi. D kêu H1 quay lại và dừng trước nhà số D, D xuống xe lén lút đến dẫn xe xuống đường rồi ngồi lên yên xe và dùng hai chân đẩy xe đến chỗ H1. H1 điều khiển xe và dùng chân phải đạp vào gác chân sau bên trái của xe D đang ngồi, đẩy xe trộm được về nhà của H1 tại số F, Quốc lộ A, khu phố B, Phường D, thành phố T, tỉnh Long An, D dùng kéo mở ổ khóa xe nhưng không được nên dùng vít mở bửng xe ra và dùng khóa 8 tháo biển số xe. Đến khoảng 01 giờ 00 phút ngày 14/12/2024, Công an thành phố T đến kiểm tra phát hiện, thu giữ tang vật.

Tài liệu, đồ vật bị tạm giữ:

  • - 01 xe môtô Sirius; 02 yếm trước của xe môtô và biển số 63B8-316.80.
  • - 01 xe môtô biển số 62B1-172.33.
  • - 01 áo khoác vải màu xanh đen; 01 nón kết lưới màu vàng; 01 mủ bảo hiểm màu đỏ;
  • - 01 kéo sắt nhọn, dài 20 cm; 01 khóa mở ốc đầu 8 và đầu 10; 01 kiềm cắt điện; 01 thanh kim loại màu trắng, có cán bằng gỗ (dài 18 cm).

Kết luận định giá tài sản số 175/KL-HĐĐGTS, ngày 14/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố T, Long An kết luận: Giá trị xe môtô Sirius, biển số 63B8-316.80 tại thời điểm ngày 13/12/2024 là 11.000.000đ.

Cáo trạng số 30/CT-VKSTA ngày 28/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An truy tố bị cáo Nguyễn Hùng D và Trương Quốc H1 về tội “trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Hùng D và bị cáo Trương Quốc H1 khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu; các bị cáo không có ý kiến thắc mắc, khiếu nại về kết luận định giá, đồng thời không có khiếu nại đối với cơ quan tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiền hành tố tụng.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật, đồng thời phân tích đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hùng D và bị cáo Trương Quốc H1 phạm tội “trộm cắp tài sản”, về hình phạt chính:

Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 17; Điều 38; Điều 50; điểm h, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 58 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Hùng Danh T1 09 tháng đến 12 tháng tù.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 17; Điều 38; Điều 50; điểm i, h, s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trương Quốc H1 từ 06 tháng đến 09 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì khác.

Về xử lý vật chứng:

  • + Đối với 01 xe môtô Sirius, 02 yếm trước của xe môtô và biển số 63B8-316.80 đã trả lại cho bị hại Võ Minh N.
  • + Đối với xe môtô biển số 62B1-172.33, qua điều tra xác định thuộc sở hữu của bà Trần Thị Cẩm V là mẹ của bị cáo H1. Bà V cho bị cáo H1 mượn làm phương tiện đi lại. Bà V không biết H1 sử dụng xe làm phương tiện phạm tội. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã trả lại xe cho bà V.
  • + Đối với 01 áo khoác vải màu xanh đen; 01 nón kết lưới màu vàng; 01 mũ bảo hiểm màu đỏ; 01 kéo sắt nhọn, dài 20 cm; 01 khóa mở ốc đầu 8 và đầu 10; 01 kiềm cắt điện; 01 thanh kim loại màu trắng, có cán bằng gỗ (dài 18 cm), đề nghị tịch thu tiêu hủy.

Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Lời nói sau cùng của các bị cáo:

  • - Bị cáo D không nói lời sau cùng.
  • - Bị cáo H1: Bị cáo biết mình sai và hối hận với hành vi phạm tội của mình đề nghị hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan CSĐT Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng được thực hiện hợp pháp.

[2] Bị hại anh Võ Minh N vắng mặt tại phiên tòa nhưng xét thấy trong giai đoạn điều tra đã thể hiện đầy đủ lời khai và ý kiến của bị hại nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị hại theo quy định tại điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[3] Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác, phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An; phù hợp với biên bản sự việc, sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường, kết luận định giá và lời khai của bị hại, người liên quan cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 22 giờ, ngày 13/12/2024, tại nhà số D, đường S, Phường A, thành phố T, bị cáo Nguyễn Hùng D và bị cáo Trương Quốc H1 đã lén lút chiếm đoạt xe môtô Sirius, biển số 63B8-316.80 trị giá 11.000.000₫ của anh Võ Minh N. Do đó, đủ cơ sở để kết luận hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Hùng D và bị cáo Trương Quốc H1 đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An truy tố các bị cáo về hành vi theo tội danh nêu trên là đúng người, đúng tội và có căn cứ pháp luật.

[4] Xét, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Các bị cáo nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng chỉ vì tham lam, thích hưởng lợi bất chính trên thành quả lao động của người khác nên đã lợi dụng sự sơ hở bất cẩn của người khác để chiếm đoạt tài sản, điều này thể hiện ý thức coi thường pháp luật của các bị cáo, vì vậy phải xử phạt các bị cáo một mức án nghiêm khắc mới tương xứng với hành vi phạm tội, cách ly khỏi xã hội một thời gian đủ để cải tạo, giáo dục hai bị cáo trở thành người có ích cho xã hội. Hành vi của bị cáo Nguyễn Hùng D và bị cáo Trương Quốc H1 có tính chất đồng phạm nhưng các bị cáo không có sự phân công, câu kết chặt chẽ nên chỉ là đồng phạm giản đơn, tuy nhiên khi quyết định hình phạt cũng cần xác định rõ vai trò tính chất, mức độ phạm tội và nhân thân của từng bị cáo để có một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội mà các bị cáo gây ra mới hiện được tính nghiêm minh của pháp luật.

[5] Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Ngày 20/6/2005 bị cáo Nguyễn Hùng D bị Tòa án nhân dân thị xã Tân An kết án 05 năm tù về hành vi cưỡng đoạt tài sản, chưa được xóa án tích do bị cáo chưa thi hành xong án phí và trách nhiệm dân sự, do đó lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Bị cáo Trương Quốc H1 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, hai bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Bị cáo Trương Quốc H1 phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Tại phiện tòa Kiểm sát viên đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại” theo điểm h khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho hai bị cáo. Xét thấy hai bị cáo đã lấy được tài sản và mang về nhà cất giấu, hành vi tội phạm đã hoàn thành, việc chưa gây thiệt hại là do cơ quan Công an đã truy xét và thu giữ lại tài sản, do đó Hội đồng xét xử không áp dụng tình tiết giảm nhẹ này cho hai bị cáo theo đề nghị của Kiểm sát viên.

[7] Về hình phạt đối với các bị cáo: Bị cáo Nguyễn Hùng D là người khởi xướng, rủ rê bị cáo H1 thực hiện hành vi phạm tội và trực tiếp thực hiện tội phạm có nhân thân xấu, có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và ít tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự so với bị cáo H1, do đó bị cáo phải chịu mức án cao hơn bị cáo H1. Bị cáo H1 là giúp sức tích cực, cung cấp phương tiện để thực hiện hành vi phạm tội, cung cấp địa điểm để che giấu tài sản phạm tội mà có, do đó phải chịu mức án tương xứng với hành vi của mình.

[8] Tại phiên tòa Kiểm sát viên đề nghị xử phạt bị cáo Danh từ 09 tháng đến 12 tháng tù và bị cáo H1 từ 06 đến 09 tháng tù. Hội đồng xét xử xét thấy mức án mà Kiểm sát viên đề nghị là nhẹ và không tương xứng với nhân thân và hành vi phạm tội của hai bị cáo, do đó Hội đồng xét xử quyết định xét xử hai bị cáo mức án cao hơn đề nghị của Kiểm sát viên.

[9] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không đề cập.

[10] Về xử lý vật chứng:

[10.1] Đối với 01 xe môtô Sirius, 02 yếm trước của xe môtô và biển số: 63B8-316.80 đã trả lại cho bị hại Võ Minh N là phù hợp.

[10.2] Đối với xe mô tô biển số 62B1-172.33, qua điều tra xác định thuộc sở hữu của bà Trần Thị Cẩm V là mẹ của bị cáo H1, cho bị cáo H1 mượn làm phương tiện đi lại. Bà V không biết H1 sử dụng xe làm phương tiện phạm tội. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã trả lại xe môtô cho bà V là phù hợp.

[10.3] Đối với 01 áo khoác vải màu xanh đen; 01 nón kết lưới màu vàng; 01 mũ bảo hiểm màu đỏ; 01 kéo sắt nhọn, dài 20 cm; 01 khóa mở ốc đầu 8 và đầu 10; 01 kiềm cắt điện; 01 thanh kim loại màu trắng, có cán bằng gỗ (dài 18 cm), xét thấy không có giá trị sử dụng và các bị cáo không yêu cầu nhận lại nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu tiêu hủy.

[11] Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc hai bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hùng D và bị cáo Trương Quốc H1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; Điều 17; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Hùng D 02 (hai) năm tù, thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 14/12/2024.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; Điều 17; Điều 38; Điều 50; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.

- Xử phạt bị cáo Trương Quốc H1 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 14/12/2024.

2. Áp dụng khoản 1 Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Hùng D và bị cáo Trương Quốc H1 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (20/3/2025) để đảm bảo cho việc thi hành án.

3. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 áo khoác vải màu xanh đen; 01 nón kết lưới màu vàng; 01 mũ bảo hiểm màu đỏ; 01 kéo sắt nhọn, dài 20 cm; 01 khóa mở ốc đầu 8 và đầu 10; 01 kiềm cắt điện; 01 thanh kim loại màu trắng, có cán bằng gỗ (dài 18 cm).

(Vật chứng trên hiện do Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân An, tỉnh Long An đang quản lý theo biên bản về việc giao nhận vật chứng tài sản ngày 28/02/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân An).

4. Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa. Buộc bị cáo Nguyễn Hùng D và bị cáo Trương Quốc H1, mỗi bị cáo phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: các bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo xét xử phúc thẩm trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo xét xử phúc thẩm trong hạn 15 ngày tính từ ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi Nhận :

  • - TAND tỉnh Long An;
  • - VKSND Tp Tân An;
  • - CA Tp Tân An;
  • - Chi cục THA Tp Tân An;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Long An;
  • - Bị cáo; Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ; VP./.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Tuấn Phan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 18/2025/HS-ST ngày 20/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN về hình sự sơ thẩm: trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 18/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Hùng D, Trương Quốc H phạm tội trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger