Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 1- LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 18/2025/HS-ST

Ngày 18-11-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1- LÀO CAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tạ Thị Kim Anh.
  • Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Băng, bà Bùi Thị Phượng.
  • - Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Giang - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1- Lào Cai.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Lào Cai tham gia phiên tòa: Ông Lê Việt Cường - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 11 năm 2025, tại Nhà văn hóa N1, phường Â, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 16/2025/TLST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2025/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 11 năm 2025, đối với bị cáo:

Trần Đức T; tên gọi khác: Không; sinh ngày 05 tháng 5 năm 1982 tại tỉnh Lào Cai; CCCD số: [...]; cấp ngày: 11-8-2021; nơi cấp: Cục C về TTXH; nơi cư trú: Tổ dân phố Đ, phường V, tỉnh Lào Cai; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông: Trần Quý N (đã chết); con bà: Nguyễn Thị H, sinh năm: 1958; vợ: Nguyễn Thị H1, sinh năm: 1983 (đã ly hôn); con: Có 01 con, sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Năm 2009, bị Tòa án nhân dân huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái (nay là Tòa án nhân dân khu vực 2- Lào Cai) xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại Bản án số 01/2009/HSST ngày 05-01-2009 (đã được xóa án tích). Năm 2011, bị Tòa án nhân dân huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái (nay là Tòa án nhân dân khu vực 2- Lào Cai) xử phạt 03 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại Bản án số 26/2011/HSST ngày 25-7-2011 (đã được xóa án tích). Năm 2008, bị Công an huyện Y, tỉnh Yên Bái xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” tại Quyết định số 56/QĐ-XPVPHC ngày 19-6-2008 (đã được xóa tiền sự). Bị cáo bị tạm giữ ngày 08-8-2025, hiện đang bị tạm giam tại Trại Tạm giam số 2 Công an tỉnh L. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Đức T là người nghiện chất ma túy, hiện đang điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế Methadone từ ngày 15-6-2022 tại Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh L (mã số bệnh nhân là: 0290100926). Khoảng 9 giờ ngày 01-8-2025, Trần Đức T một mình điều khiển xe mô tô mang BKS: 21B2-051.08 đi đến khu vực chợ K thuộc phường V, tỉnh Lào Cai thì gặp một người phụ nữ (không rõ tên tuổi, địa chỉ) thuê T chở lên bến xe mới thuộc phường C, tỉnh Lào Cai, T đồng ý. Khoảng 13 giờ chiều cùng ngày, sau khi trả khách, T nảy sinh ý định mua ma túy (loại heroine), để sử dụng. Tại đây, T gặp một người đàn ông chạy xe ôm (không rõ tên, tuổi, địa chỉ) hỏi và mua được 01 gói heroine với giá 200.000 đồng. Trên đường về, T vào một hiệu thuốc (không nhớ địa chỉ) mua một chiếc xi lanh và một ống nước cất rồi đi đến đoạn đường vắng người (không xác định được vị trí) lấy gói heroin vừa mua, chia ra một phần và sử dụng hết cho bản thân. Sau khi sử dụng xong, một phần heroine còn lại T cất giấu tại túi áo trên người, rồi đi về nhà tại phường V, tỉnh Lào Cai. Đến khoảng 09 giờ ngày 05-8-2025, T một mình tìm mua một chiếc xi lanh và một ống nước cất tại một hiệu thuốc (không nhớ địa chỉ) rồi đi về đến khu vực bãi đất trống sau nhà tại tổ dân phố Đ, phường V, tỉnh Lào Cai, lấy toàn bộ số heroine còn lại và sử dụng hết cho bản thân. Đến ngày 07-8-2025, T bị Cơ quan Công an phường V gọi hỏi, tiến hành xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể của Trần Đức T. Kết quả: nước tiểu của Trần Đức T dương tính với chất ma túy (heroine).

Tại bản kết luận giám định số: 1244/KL-KTHS ngày 12-8-2025 của Phòng K1 Công an tỉnh P, kết luận: Trong mẫu chất lỏng được xác định là mẫu nước tiểu thu giữ của Trần Đức T thu ngày 07-8-2025 gửi đến giám định tìm thấy chất ma túy, loại Morphine; Codein; 6-MAM; Methadone. Morphine; Codein; 6-MAM là sản phẩm chuyển hóa của Heroine trong nước tiểu.

  • * Morphine: số thứ tự 55, Danh mục IIA, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
  • * Codeine: Số thứ tự 06, Danh mục IIB, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
  • * Methadone: Số thứ tự 48, Danh mục IIA, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

Cáo trạng số 03/CT-VKS-KV1 ngày 16-10-2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Lào Cai truy tố Trần Đức T về tội: “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm a khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025).

  • * Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Lào Cai giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
    • - Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Đức T phạm tội: “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
    • - Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025); điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Đức T từ 02 năm 06 tháng tù đến 03 năm tù.

Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Lào Cai còn đề nghị giải quyết về án phí và quyền kháng cáo theo quy định.

Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên, không tranh luận gì và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra điều tra Công an tỉnh L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Lào Cai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với biên bản vụ việc, sơ đồ xác định nơi xảy ra vụ việc; phù hợp với những chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Do đó, đã đủ cơ sở kết luận:

Trần Đức T là người nghiện chất ma túy, hiện đang điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế Methadone từ ngày 15-6-2022 tại Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh L (mã số bệnh nhân là: 0290100926). Ngày 05-8-2025, Trần Đức T đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (loại heroine) tại tổ dân phố Đ, phường V, tỉnh Lào Cai và tại một địa điểm không xác định. Kết quả giám định mẫu nước tiểu thu giữ của T ngày 07-8-2025 tìm thấy chất ma túy loại: Morphine; Codein; 6-MAM; Methadone. Morphine; Codein; 6-MAM là sản phẩm chuyển hóa của Heroine trong nước tiểu. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Lào Cai truy tố đối với bị cáo Trần Đức T về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 256a Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2025 tại Luật số 86/2025/QH15 ngày 25-6-2025 của Quốc hội là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Xét hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp chế độ quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự, trị an tại địa phương, xâm phạm đến sức khỏe và sự phát triển giống nòi của dân tộc, là nguyên nhân trực tiếp làm gia tăng các tệ nạn xã hội, phát sinh thêm các tội phạm khác, gây tâm lý lo lắng, hoang mang trong quần chúng nhân dân. Bản thân bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Bị cáo bắt đầu tham gia điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế Methadone từ năm 2022 tại Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh L. Việc điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế Methadone có ý nghĩa xã hội sâu sắc, là giải pháp y tế hiệu quả thể hiện chính sách nhân đạo của Nhà nước trong công tác phòng, chống ma túy và HIV/AIDS, giúp người nghiện ổn định sức khỏe thể chất và tâm thần, giảm gánh nặng về kinh tế và áp lực về tâm lý cho người nghiện và gia đình họ. Tuy nhiên, bị cáo không lấy đó là cơ hội để làm lại cuộc đời, trong thời gian điều trị nghiện vẫn tiếp tục sử dụng ma túy, thể hiện ý thức coi thường pháp luật, khả năng tự tu dưỡng, rèn luyện của bị cáo là rất kém.

[4] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo Trần Đức T không có tiền án, tiền sự nhưng có nhân thân xấu. Trong các năm 2008, 2009, 2011 bị cáo đã 03 lần bị xử phạt tù và xử phạt vi phạm hành chính về các hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (đều đã được xóa án tích, xóa tiền sự).

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Mặc dù bị cáo đã 02 lần bị kết án nhưng đều đã được xóa án tích, mức hình phạt cao nhất của khung hình phạt theo quy định tại khoản 1 Điều 256a Bộ luật hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025) đối với bị cáo là phạt tù đến 03 năm. Theo quy định tại khoản 9 Điều 2 Nghị quyết số 04/2025/NQ-HĐTP ngày 30-9-2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 51 và Điều 52 Bộ luật Hình sự (có hiệu lực từ ngày 15-11-2025) thì bị cáo đủ điều kiện được hưởng tình tiết giảm nhẹ “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo nên còn được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Về hình phạt: Từ những phân tích trên, căn cứ vào tính chất, mức độ, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Cần phải có một hình phạt tương xứng, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để giáo dục, cải tạo bị cáo và có tác dụng phòng ngừa chung, thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật.

[6] Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Trần Đức T vào ngày 01-8-2025: Ngoài lời khai của bị cáo về việc bị cáo đã sử dụng ma túy tại một địa điểm không xác định, không có tài liệu, chứng cứ nào khác nên không đủ cơ sở để xử lý bị cáo về lần sử dụng ma túy này.

[7] Về nguồn gốc số heroine bị cáo có để sử dụng: Trần Đức T khai nhận mua của một người đàn ông không quen biết ở khu vực bến xe mới tỉnh Lào Cai thuộc địa phận phường C, tỉnh Lào Cai, do không xác định được lai lịch của người bán ma túy nên Cơ quan điều tra không đủ cơ sở để làm rõ và xử lý trong vụ án này.

[8] Đề nghị của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 1- Lào Cai tại phiên tòa là có căn cứ nên được chấp nhận.

[9] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo Trần Đức T phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Đức T phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
  2. Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2025 tại Luật số 86/2025/QH15 ngày 25-6-2025 của Quốc hội; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Đức T 02 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 08-8-2025.
  3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 về mức thu, giảm, miễn, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Trần Đức T phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo Trần Đức T được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lào Cai;
  • - VKSND tỉnh Lào Cai;
  • - VKSND khu vực 1- Lào Cai;
  • - Phòng THADS khu vực 1- Lào Cai;
  • - Cơ quan CSĐT- Công an tỉnh Lào Cai;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HS vụ án, TA, THA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Tạ Thị Kim Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 18/2025/HS-ST ngày 18/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1- LÀO CAI về hình sự (sử dụng trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 18/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Sử dụng trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1- LÀO CAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Đức T phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”. 2. Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2025 tại Luật số 86/2025/QH15 ngày 25-6-2025 của Quốc hội; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Đức T 02 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 08-8-2025.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger