Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂN SƠN

TỈNH PHÚ THỌ

Bản án số: 18/2025/HS-ST

Ngày: 15 - 4 - 2025.

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN SƠN, TỈNH PHÚ THỌ

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Xuân Trường

Thư ký Tòa án: Ông Nguyễn Trung Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Sơn tham gia phiên tòa: Ông Đinh Xuân Tiệp - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 4 năm 2025, tại Tòa án nhân huyện T, tỉnh Phú Thọ; xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục rút gọn vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 17/2025/TLST-HS ngày 31 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2025/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 4 năm 2025 đối với các bị cáo:

  1. Phùng Thị H, sinh năm 1987;

    • Giới tính: Nữ;
    • Nơi sinh tại xã V huyện T, tỉnh Phú Thọ.
    • Nơi đăng ký cư trú và cư trú: Khu Đ, xã T huyện T, tỉnh Phú Thọ;
    • Quốc tịch: Việt Nam;
    • Dân tộc: Dao;
    • Tôn giáo: Không
    • Trình độ (học vấn): 7/12
    • Nghề nghiệp: Lao động tự do
    • Đảng đoàn thể: Không
    • Con ông Phùng Văn T, (Đã chết) và bà Triệu Thị N sinh năm 1966;
    • Bị cáo có chồng là Phùng Văn T1, sinh năm 1983
    • Bị cáo có hai người con, người con lớn sinh năm 2005, người con nhỏ sinh năm 2022;
    • Tiền án; tiền sự: Không;
    • Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23/01/2025 đến hết ngày 26/01/2025 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, được tại ngoại tại xã T huyện T, tỉnh Phú Thọ, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

    Người bào chữa cho bị cáo Phùng Thị H: Ông Lã Thành C – Trợ giúp viên pháp lý - Thuộc trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh P.

  2. Lê Quang T2, sinh năm 1981,

    • Giới tính: Nam;
    • Nơi sinh tại xã T huyện T, tỉnh Phú Thọ.
    • Nơi đăng ký cư trú và cư trú: Khu C huyện T, tỉnh Phú Thọ.
    • Quốc tịch: Việt Nam;
    • Dân tộc: Kinh;
    • Tôn giáo: Không
    • Trình độ học vấn: 9/12
    • Nghề nghiệp: Lao động tự do
    • Đảng đoàn thể: Không
    • Con ông Lê Quang B, sinh năm 1942 con bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1942;
    • Bị cáo có vợ là Ngọc Thị D, sinh năm 1984
    • Bị cáo có hai người con, người con lớn sinh năm 2003, người con nhỏ sinh năm 2008;
    • Tiền án; tiền sự: Không;
    • Tiền sử: Năm 2021 bị công an huyện T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc (Bị cáo đã chấp hành xong ngày 12/01/2021)
    • Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23/01/2025 đến hết ngày 26/01/2025 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, được tại ngoại tại xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
  3. Phùng Thị N1, sinh năm 1966,

    • Giới tính: Nữ;
    • Nơi sinh tại xã T huyện T, tỉnh Phú Thọ.
    • Nơi đăng ký cư trú và cư trú: Khu Đ huyện T, tỉnh Phú Thọ.
    • Quốc tịch: Việt Nam;
    • Dân tộc: Mường;
    • Tôn giáo: Không
    • Trình độ học vấn: 5/12
    • Nghề nghiệp: Lao động tự do
    • Đảng đoàn thể: Không
    • Con ông Phùng Văn N2, sinh năm 1926 con bà Ngọc Thị T3, sinh năm 1934 (Đã chết);
    • Bị cáo có chồng là Phùng Đình M1, sinh năm 1966
    • Bị cáo có hai người con, người con lớn sinh năm 1991, người con nhỏ sinh năm 1993;
    • Tiền án; tiền sự: Không;
    • Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23/01/2025 đến hết ngày 26/01/2025 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, được tại ngoại tại xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

    Người bào chữa cho bị cáo Phùng Thị N1: Ông Bùi Đức D1 – Trợ giúp viên pháp lý - Thuộc trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh P.

  4. Nguyễn Văn Ý, sinh năm 1978,

    • Giới tính: Nam;
    • Nơi sinh tại: Xã H huyện T, tỉnh Phú Thọ.
    • Nơi đăng ký cư trú và cư trú: Khu C, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
    • Quốc tịch: Việt Nam;
    • Dân tộc: Kinh;
    • Tôn giáo: Theo đạo công giáo;
    • Trình độ học vấn: Không đi học
    • Nghề nghiệp: Lao động tự do
    • Đảng đoàn thể: Không
    • Con ông Nguyễn Văn T4, sinh năm 1937 (Đã chết) con bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1939 (Đã chết);
    • Bị cáo có vợ là Hà Thị H1, sinh năm 1977
    • Bị cáo có hai người con, người con lớn sinh năm 2006, người con nhỏ sinh năm 2009;
    • Tiền án; tiền sự: Không;
    • Tiền sử: Tại bản án số 09/2015/HSST Ngày 28/5/2015 của TAND huyện Tân Sơn xử phạt Ý, 06 tháng cải tạo không giam giữ về tội Đánh bạc (Đã chấp hành xong ngày 06/7/2015). Tại bản án số 08/2016/HSST Ngày 20/4/2016 bị TAND huyện Tân Sơn xử phạt Ý, 03 tháng tù về tội Đánh bạc (Đã chấp hành xong ngày 07/6/2016)
    • Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23/01/2025 đến hết ngày 26/01/2025 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, được tại ngoại tại xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
  5. Nguyễn Thị L, sinh năm 1982,

    • Giới tính: Nữ;
    • Nơi sinh tại: Xã H huyện T, tỉnh Phú Thọ.
    • Nơi đăng ký cư trú và cư trú: Khu H, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
    • Quốc tịch: Việt Nam;
    • Dân tộc: Kinh;
    • Tôn giáo: Theo đạo công giáo;
    • Trình độ học vấn: 5/12
    • Nghề nghiệp: Lao động tự do
    • Đảng đoàn thể: Không
    • Con ông Nguyễn Văn K (Đã chết) con bà Lê Thị S, sinh năm 1938;
    • Bị cáo có chồng là Nguyễn Văn C1, sinh năm 1979
    • Bị cáo có hai người con, người con lớn sinh năm 2001, người con nhỏ sinh năm 2009;
    • Tiền án; tiền sự: Không;
    • Tiền sử: Năm 2017 bị Công an huyện T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc (Đã chấp hành xong ngày 03/01/2017);
    • Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23/01/2025 đến hết ngày 26/01/2025 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, được tại ngoại tại xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
  6. Nguyễn Văn P, sinh năm 1985,

    • Giới tính: Nam;
    • Nơi sinh tại: Xã Đ, tỉnh Phú Thọ.
    • Nơi đăng ký cư trú và cư trú: Khu D, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
    • Quốc tịch: Việt Nam;
    • Dân tộc: Kinh;
    • Tôn giáo: Không;
    • Trình độ học vấn: 12/12
    • Nghề nghiệp: Lao động tự do
    • Đảng đoàn thể: Không
    • Con ông Nguyễn Văn Đ, con bà Chu Thị P1 (Đều đã chết);
    • Bị cáo có vợ là Hà Thị Thu H2, sinh năm 1990 (Đã ly hôn)
    • Bị cáo có hai người con, người con lớn sinh năm 2006, người con nhỏ sinh năm 2009;
    • Tiền án; tiền sự: Không;
    • Tiền sử: Tại bản án số 09/2015/HSST Ngày 28/5/2015 của TAND huyện Tân Sơn xử phạt Phục, 06 tháng cải tạo không giam giữ về tội Đánh bạc (Đã chấp hành xong ngày 06/7/2015).
    • Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 24/01/2025 đến hết ngày 27/01/2025 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, được tại ngoại tại xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
  7. Lê Thị L1, sinh năm 1966,

    • Giới tính: Nữ;
    • Nơi sinh tại: Huyện L, tỉnh Hà Nam.
    • Nơi đăng ký cư trú và cư trú: Khu C, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
    • Quốc tịch: Việt Nam;
    • Dân tộc: Kinh;
    • Tôn giáo: Không;
    • Trình độ học vấn: Không đi học
    • Nghề nghiệp: Lao động tự do
    • Đảng đoàn thể: Không
    • Con ông Lê Thanh L2 và bà Nguyễn Thị V1 (Đều đã chết)
    • Bị cáo có chồng là Vũ Đăng K1, sinh năm 1962
    • Bị cáo có bốn người con, người con lớn sinh năm 1991, người con nhỏ sinh năm 2001;
    • Tiền án; tiền sự: Không;
    • Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, tại ngoại tại xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 23/01/2025, Phùng Thị H, Phùng Thị N1, Lê Quang T2, Nguyễn Văn Ý và Nguyễn Thị L đến nhà bà Lê Thị L1 chơi và ngồi uống nước tại gian phòng khách; Phùng Thị H, Phùng Thị N1, Lê Quang T2, Nguyễn Văn Ý và Nguyễn Thị L cùng bảo với L1 là “Cho chúng cháu chơi bài một tí nhé” (tức là xin Luy cho đánh bạc bằng hình thức đánh bài “Sâm”) thì L1 đồng ý, các bị cáo thống nhất với với nhau nếu ai được bài “Sâm” thì sẽ trả cho L1 từ 10.000 đồng đến 20.000 đồng gọi là tiền “hồ” ; Sau đó, các đối tượng trên vào phòng ngủ của nhà bà L1 để đánh bạc; Nguyễn Thị L thấy ở phía dưới mặt bàn uống nước có bộ bài tú lơ khơ 52 (năm mươi hai) quân nên cầm theo vào phòng ngủ dùng đánh bạc trong phòng ngủ đã thấy có 01 (một) chiếc chiếu cói của nhà bà Lê Thị L1 trải sẵn ở nền nhà nên các bị cáo cùng ngồi xuống để đánh bạc; các bị cáo thống nhất đánh bạc bằng hình thức chơi “Sâm” với mức cá cược 5.000đồng/ 1 là bài, cách thức chơi và thanh toán như sau: Lấy một bộ bài tú lơ khơ gồm 52 quân chia bài lần lượt cho 05 người chơi, mỗi người 10 quân bài theo chiều vào giữa chiếu; người chia bài theo chiều kim đồng hồ từ trái qua phải, người nào đánh được hết các quân bài trên tay là người thắng bạc; mỗi ván bài sẽ có 01 người thắng và 04 người còn lại thua, người thắng ván trước sẽ là người chia bài ở ván bài tiếp theo; khi kết thúc một ván bài, những người thua sẽ đếm số lá bài còn lại để tính tiền, mỗi lá bài còn lại sẽ tương ứng với số tiền 5.000 đồng/1 lá bài; trong quá trình đánh bài người nào báo “Sâm” sẽ đánh ra các bộ bài mà các người chơi còn lại không bắt được thì những người chơi thua phải trả cho người báo “Sâm” số tiền 150.000 đồng/1 ván, nếu người chơi nào mà bắt được người báo “Sâm” đánh ra thì người báo “Sâm” sẽ phải đền L3 cho người bắt được “Sâm” số tiền 750.000 đồng. Nếu trong ván bài mà người nào bị treo tức là không đánh được lá bài nào sẽ phải trả cho người thắng ván bài đó số tiền 100.000 đồng; quy ước các quân bài sẽ tính như sau: Đôi tức là 02 quân bài giống nhau, như: AA, QQ, KK..... Sảnh là các quân bài liên tiếp nhau, như: 1,2,3,4 hoặc J,Q,K,A...Cách chơi cứ như vậy cho các ván tiếp theo; các bị cáo đánh bạc còn L1 ngồi xem các đối tượng đánh bạc và để thu tiền theo thoả thuận

Đến khoảng 14 giờ 00 phút cùng ngày thì Nguyễn Văn P chở ông Vũ Đăng K1 (chồng của L1) đi uống rượu về. Do say rượu nên sau khi được P đưa vào nhà và ông K1 nằm ở trên giường ngủ, còn P ngồi uống nước ở phòng khách rồi vào xem các đối tượng đánh bạc; khi Lê Quang T2 thua hết tiền nên T2 đã hỏi vay P số tiền 500.000 đồng để đánh bạc tiếp, P đồng ý và đưa cho T2 vay 500.000 đồng bằng tiền mặt. Sau khi nhận được tiền T2 tiếp tục vào đánh bạc cùng các bị cáo.

Bị cáo Lê Thị L1 đã thu được 80.000 đồng tiền hồ từ 04 ván bài “sâm” (20.000 đồng/ván), trong đó Phùng Thị H được “sâm” 02 ván, Phùng Thị N1 được “sâm” 01 ván, Nguyễn Thị L được “sâm” 01 ván.

Các bị cáo đánh bạc đến 14 giờ 45 phút cùng ngày thì tổ công tác Công an huyện T phát hiện bắt quả tang. Tổ công tác Công an huyện T đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ tổng số tiền: 6.307.000₫, 52 quân bài tú lơ khơ, 01 chiếu cói đã cũ để điều tra, làm rõ để xử lý theo quy định của pháp luật.

Ngày 23/01/2025, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện T ra Quyết định tạm giữ đối với: Phùng Thị H; Lê Quang T2; Phùng Thị N1; Nguyễn Văn Ý và Nguyễn Thị L về hành vi đánh bạc để tiếp tục điều tra làm rõ và xử lý theo quy định của pháp luật.

Tại Cơ quan điều tra, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi đánh bạc như đã nêu trên. Các bị cáo khai nhận số tiền sử dụng đánh bạc, cụ thể:

  • Phùng Thị H có 2.000.000 đồng đến thời điểm bắt quả tang H đang thắng với số tiền 1.980.000đ;
  • Lê Quang T2 có 1.280.000đ để đánh bạc đến thời điểm bắt quả tang T2 đang thua bạc với số tiền 945.000₫ và T2 tự nguyện giao nộp số tiền 335.000đ;
  • Phùng Thị N1 có 500.000đ để đánh bạc đến thời điểm bắt quả tang N1 đang thua bạc với số tiền 55.000đ và N1 tự nguyện giao nộp số tiền 445.000đ;
  • Nguyễn Văn Ý có 1.707.000 đ để đánh bạc đến thời điểm bắt quả tang Ý đang thua bạc với số tiền 1.610.000₫ và Ý tự nguyện giao nộp số tiền 97.000đ;
  • Nguyễn Thị L có 820.000đ để đánh bạc đến thời điểm bắt quả tang L đang thắng bạc với số tiền 630.000đ và L tự nguyện giao nộp số tiền 1.450.000đ.

Ngày 24/01/2025 Nguyễn Văn P đến Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện T đầu thú và khai nhận hành vi cho Lê Quang T2 vay số tiền 500.000đồng đánh bạc được thua bằng tiền ngày 23/01/2025 tại nhà của Lê Thị L1 ở khu C, xã T, huyện T.

Ngày 26/01/2025, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện T đã ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, Quyết định khởi tố bị can và lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với các bị can Phùng Thị H, Lê Quang T2, Phùng Thị N1, Nguyễn Văn Ý, Nguyễn Thị L, Nguyễn Văn P về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Ngày 28/02/2025, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an tỉnh P tiếp nhận vụ án trên để tiếp tục điều tra theo quy định. Quá trình điều tra, căn cứ tài liệu chứng cứ thu thập có trong hồ sơ vụ án, ngày 21/03/2025 Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an tỉnh P ra Quyết định khởi tố bị can đối với Lê Thị L1 về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự và áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú và bị can Lê Thị L1 tự nguyện giao nộp số tiền 80.000đ là tiền bị can thu được từ các đối tượng đánh bạc tại nhà ở của mình vào ngày 23/01/2025.

Như vậy, tổng số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc là: 6.387.000₫.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; Các bị cáo Phùng Thị H, Phùng Thị N1, Nguyễn Thị L, Lê Quang T2, Lê Thị L1, Nguyễn Văn Ý và Nguyễn Văn P đều thành khẩn khai báo ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bị cáo Phùng Thị H, Phùng Thị N1, Nguyễn Thị L, Lê Quang T2, Lê Thị L1 còn được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đó là phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng;

Vật chứng: Đã thu giữ số tiền 6.387.000đ, 52 quân bài tú lơ khơ và 01 chiếu cói đã cũ, (Số tiền đã được gửi vào số tài khoản 39490102622800000 ngày 09/4/2025 do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Sơn mở tại Phòng giao dịch số 3 - Kho bạc nhà nước khu vực VIII; Các vật chứng khác được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Sơn tỉnh Phú Thọ theo biên bản giao nhận ngày 09/4/2025).

Ông Vũ Đăng K1 (là chồng bà L1), khi được Nguyễn Văn P đưa về nhà vì say rượu, nên khi vào nhà và ông K1 nằm ở trên giường ngủ ở gian phòng khách nên không biết việc các đối tượng đánh bạc tại nhà ở của mình. Do vậy, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an tỉnh P không đề cập xử lý;

Về tài sản của các bị can: Cơ quan điều tra đã xác minh, làm rõ hiện nay các bị can sống cùng chồng con tại địa phương, bản thân các bị can và gia đình không có tài sản gì có giá trị lớn.

Về động cơ, mục đích phạm tội của các bị cáo là vì mục đích thu lời bất chính nên các bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội.

Tại Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 01/QĐ-VKS-TS ngày 31/3/2025, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ truy tố các bị cáo Phùng Thị H, Lê Quang T2, Phùng Thị N1, Nguyễn Văn Ý, Nguyễn Thị L, Nguyễn Văn P và Lê Thị L1 về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Phùng Thị H, Lê Quang T2, Phùng Thị N1, Nguyễn Văn Ý, Nguyễn Thị L vẫn thừa nhận đã thực hiện hành vi đánh bạc nêu trên, bị cáo Nguyễn Văn P thừa nhận đã cho bị cáo Lê Quang T2 vay số tiền 500.000đ để T2 sử dụng thực hiện hành vi đánh bạc, bị cáo Lê Thị L1 thừa nhận hành vi cho các bị cáo sử dụng nhà ở đánh bạc và thu tiền hồ với số tiền thu lời bất chính là 80.000đ;

Các bị cáo thừa nhận Quyết định truy tố mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân sơn đã truy tố các bị cáo về tội “Đánh bạc” theo quy định khoản 1 điều 321 Bộ luật hình sự là đúng.

Đại diện Viện kiểm sát huyện Tân Sơn thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử tại phiên tòa trình bày quan điểm vẫn giữ nguyên Quyết định truy tố; đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố các bị cáo Phùng Thị H, Phùng Thị N1, Nguyễn Thị L, Lê Thị L1 và Lê Quang T2, Nguyễn Văn Ý và Nguyễn Văn P phạm tội: “Đánh bạc”.

Căn cứ khoản 1 điều 321; điểm s khoản 1 điều 51; khoản 1 điều 38 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Văn Ý và Nguyễn Văn P;

Căn cứ khoản 1 điều 321; điểm i, s khoản 1 điều 51; khoản 1 điều 36 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Phùng Thị H, Phùng Thị N1, Nguyễn Thị L và Lê Quang T2;

Căn cứ khoản 1 điều 321; điểm i, s khoản 1 điều 51; khoản 1 điều 35 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lê Thị L1;

Xử phạt các bị cáo:

  1. Bị cáo Nguyễn Văn Ý 07 đến 08 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.
  2. Bị cáo Nguyễn Văn P 06 đến 07 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.
  3. Bị cáo Lê Quang T2 12 đến 15 tháng cải tạo không giam giữ.
  4. Bị cáo Nguyễn Thị L 09 đến 12 tháng cải tạo không giam giữ.
  5. Bị cáo Phùng Thị H 09 đến 12 tháng cải tạo không giam giữ.
  6. Bị cáo Phùng Thị N1 07 đến 08 tháng cải tạo không giam giữ.
  7. Xử phạt tiền là hình phạt chính đối với bị cáo Lê Thị L1 số tiền 20.000.000 đồng đến 22.000.000 đồng;
  • Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
  • Khấu trừ từ 5% đến 10% thu nhập đối với các bị cáo Lê Quang T2, Nguyễn Thị L, Phùng Thị H, Phùng Thị N1 với số tiền từ 142.500 đến 285.000đ/tháng trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ.
  • Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự;
  • + Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 6.387.000 đồng, mà các bị cáo đã sử dụng thực hiện hành vi phạm tội;
  • +Tịch thu để tiêu hủy của bị cáo Lê Thị L1 52 quân bài tú lơ khơ và 01 chiếu cói đã cũ;

Về án phí hình sự sơ thẩm: Đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí cho bị cáo Ý và bị cáo L vì các bị cáo thuộc diện hộ cận nghèo năm 2025; Bị cáo H, bị cáo N1 và bị cáo L là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn nhưng các bị cáo không xin miễn án phí nên cần buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định như các bị cáo khác.

Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo H và bị cáo N1 đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo;

Các bị cáo H và N1 nhất trí ý kiến bào chữa của trợ giúp viên pháp lý không bổ sung thêm;

Các bị cáo không có ý kiến gì tranh luận;

Các bị cáo nói lời nói sau cùng: Các bị cáo đều rất ân hận về hành vi vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về tố tụng Hình sự:

    Các quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, hành vi tố tụng của điều tra viên trong quá trình điều tra vụ án; quyết định tố tụng của Viện kiểm sát và hành vi tố tụng của Kiểm sát viên trong giai đoạn truy tố là đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
  2. Về căn cứ buộc tội:

    Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với thời gian địa điểm nơi xảy ra vụ án, phù hợp với các vật chứng thu giữ được và các tài liệu khác trong hồ sơ vụ án, nên có đủ cơ sở để kết luận : Từ 13 giờ ngày 23/01/2025 đến 14 giờ 45 phút cùng ngày các bị cáo Phùng Thị H, Phùng Thị N1, Nguyễn Thị L, Lê Quang T2, Nguyễn Văn Ý đã trực tiếp thực hiện hành vi đánh bạc bằng hình thức chơi sâm, sát phạt nhau bằng tiền tại nhà ở của bị cáo Lê Thị L1 tại khu C xã T huyện T, tỉnh Phú Thọ (Số tiền các bị cáo sử dụng đánh bạc như đã nêu trên, tổng số là 6.387.000đ); bị cáo Nguyễn Văn P thực hiện hành vi cho Lê Quang T2 vay tiền để đánh bạc, Lê Thị L1 cho các bị cáo đánh bạc tại nhà ở để thu lợi bất chính, do đó hành vi của bị cáo P, bị cáo L1 là đồng phạm với các bị cáo trực tiếp đánh bạc; Như vậy, Phùng Thị H, Phùng Thị N1, Nguyễn Thị L, Lê Quang T2, Nguyễn Văn Ý, Lê Thị L1 và Nguyễn Văn P phải chịu trách nhiệm hình sự về tổng số tiền các bị cáo đã thực hiện hành vi đánh bạc; Do vậy quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Sơn đối với các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
  3. Về tính chất hành vi phạm tội:

    Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm đến trật tự công cộng, làm mất trật tự trị an tại địa phương, gây bất bình trong nhân dân; Vì vậy hành vi đánh bạc của các bị cáo cần phải được xử lý theo quy định của pháp luật hình sự để giáo dục riêng đối với các bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.
  4. Về nhân thân của các bị cáo:

    Các bị cáo Phùng Thị H, Phùng Thị N1, Lê Thị L1 trước khi phạm tội đều là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, các bị cáo luôn chấp hành tốt chủ trương, đường lối, chính sách pháp luật của nhà nước và các quy định của chính quyền địa phương nơi cư trú và qua xem xét lý lịch thì thấy các bị cáo có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng;

    Bị cáo Nguyễn Thị L có tiền sử: Năm 2017 đã thực hiện hành vi vi phạm bị Công an huyện T xử phạt vi phạm hành chính; Bị cáo Lê Quang T2 có tiền sử: Năm 2021 đã thực hiện hành vi vi phạm bị Công an huyện T xử phạt vi phạm hành chính, nhưng các bị cáo Nguyễn Thị L và bị cáo Lê Quang T2 không lấy đó làm bài bài học để rèn luyện mà lại thực hiện hành vi đánh bạc, qua xem xét lý lịch thì thấy bị cáo L và bị cáo T2 có nơi cư trú cụ thể rõ ràng;

    Đối với bị cáo Nguyễn Văn Ý đã có tiền sử về tội đánh bạc, cụ thể đã hai lần phạm tội đánh bạc bị cáo Ý đã chấp hành xong và theo quy định của pháp luật đã được đương nhiên xóa án tích; Đối với bị cáo Nguyễn Văn P đã có tiền sử về tội đánh bạc, cụ thể đã một lần phạm tội đánh bạc bị cáo P đã chấp hành xong và theo quy định của pháp luật đã được đương nhiên xóa án tích; các bị cáo Nguyễn Văn Ý và bị cáo Nguyễn Văn P không lấy đó làm bài bài học để rèn luyện mà lại thực hiện hành vi đánh bạc;

  5. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

    Các bị cáo Phùng Thị H, Phùng Thị N1, Nguyễn Thị L, Lê Quang T2, Lê Thị L1, Nguyễn Văn Ý và Nguyễn Văn P đều thành khẩn khai báo ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bị cáo Phục đầu thú nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Các bị cáo Phùng Thị H, Phùng Thị N1, Nguyễn Thị L, Lê Quang T2, Lê Thị L1 còn được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đó là phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng

    Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

    Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Sơn tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và không buộc các bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình như nêu trên là phù hợp được Hội đồng xét xử chấp nhận.

    Căn cứ vào tính chất hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà các bị cáo được hưởng, trên cơ sở thể hiện tính nhân đạo của pháp luật hình sự, tạo điều kiện cho các bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm, cũng như thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật hình sự đối với người phạm tội, Hội đồng xét xử xét thấy:

    Các bị cáo có nhân thân tốt, chưa bị Tòa án xét xử về một tội phạm nào, có nơi cư trú cụ thể rõ ràng, do đó chưa cần cách ly các bị cáo đó khỏi xã hội như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp được chấp nhận; đối với các bị cáo (Bị cáo Ý và bị cáo P) đã bị Tòa án xét xử về tội phạm đánh bạc, mặc dù đã được xóa án tích những cần thiết phải cách ly khỏi xã hội để giáo dục các bị cáo là làm gương cho người khác;

    Tuy nhiên các bị cáo sử dụng số tiền thực hiện hành vi đánh bạc khác nhau, có nhân thân khác nhau nên các bị cáo phải chịu hình phạt là khác nhau, cụ thể:

    • Bị cáo L1 chỉ sử dụng số tiền 80.000đ tham gia đánh bạc, bị cáo có thu nhập hàng tháng nên cần áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo;
    • Bị cáo N1 sử dụng số tiền 500.000đ tham gia đánh bạc, nên bị cáo N1 phải chịu hình phạt cao hơn bị cáo L1 nhưng thấp hơn các bị cáo khác và chưa cần cách ly bị cáo khỏi xã hội;
    • Bị cáo L sử dụng 820.000đ đánh bạc nhưng bị cáo L đã có tiền sử bị Công an huyện T xử phạt vi phạm hành chính do đó bị cáo L phải chịu hình phạt tương đương với bị cáo H (Bị cáo H sử dụng số tiền đánh bạc là 2.100.000đ) và chưa cần cách ly bị cáo khỏi xã hội;
    • Bị cáo T2 sử dụng số tiền 1.280.000₫ tham gia đánh bạc và bị cáo T2 đã có tiền sử bị Công an huyện T xử phạt vi phạm hành chính nên bị cáo T2 phải chịu mức hình phạt cao hơn bị cáo L1, bị cáo N1 bị cáo H và bị cáo L và cũng chưa cần cách ly bị cáo khỏi xã hội;
    • Bị cáo P cho bị cáo T2 vay tiền để đánh bạc với số tiền 500.000đ, bị cáo Ý sử dụng số tiền 1.707.000đ tham gia đánh bạc; bị cáo P đã một lần bị Tòa án xét xử về tội đánh bạc, bị cáo Ý đã hai lần bị Tòa án xét xử về tội đánh bạc, mặc dù các bị cáo đều đã được xóa án tích nhưng các bị cáo không lấy đó làm bài học mà vẫn thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý nên cần thiết phải cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian để giáo dục các bị cáo; tuy nhiên cần buộc mức hình phạt đối với bị cáo Ý cao hơn mức hình phạt mà bị cáo P phải chịu và mức hình phạt bị cáo Ý phải chịu là cao hơn các bị cáo khác;
  6. Về hình phạt bổ sung:

    Kiểm sát viên tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo L1 và các bị cáo khác là phù hợp vì bị cáo L1 đã bị xử phạt tiền là hình phạt chính còn các bị cáo khác có tài sản nhưng là tài sản sở hữu, sử dụng chung với các đồng sở hữu khác như vợ, chồng và là tài sản thiết yếu, duy nhất để phục vụ nhu cầu tối thiểu của cuộc sống nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
  7. Về khấu trừ thu nhập:

    Kiểm sát viên tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử khấu trừ thu nhập đối với các bị cáo Lê Quang T2, Nguyễn Thị L, Phùng Thị H, Phùng Thị N1 là có căn cứ được Hội đồng xét xử chấp nhận vì: Các bị cáo có thu nhập hàng tháng, tuy nhiên thu nhập không cao do đó chỉ cần buộc các bị cáo phải khấu trừ 5% hàng tháng trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ.
  8. Về vật chứng:

    Kiểm sát viên tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử xử lý các vật chứng như đã nêu trên là phù hợp được Hội đồng xét xử chấp nhận;
  9. Về án phí:

    Kiểm sát viên tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí cho bị cáo Ý và bị cáo L vì các bị cáo thuộc diện hộ cận nghèo và buộc các bị cáo khác mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm là phù hợp được chấp nhận. (Đối với bị cáo Ý tại phiên tòa xuất trình bản gốc giấy chứng nhận hộ cận nghèo nhưng chưa có bản sao công chứng nộp cho Tòa án, được Hội đồng xét xử đã xem xét và chấp nhận);
  10. Đối với ông Vũ Đăng K1

    là chồng bị cáo L1 không biết việc bị cáo L1 cho các bị cáo đánh bạc tại nhà ở của vợ chồng và thu tiền nên cơ quan có thẩm quyền không đề cập xử lý là phù hợp được Hội đồng xét xử chấp nhận

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 điều 321; điểm s khoản 1 điều 51; khoản 1 điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn Ý;

Căn cứ khoản 1 điều 321; điểm s khoản 1,2 điều 51; khoản 1 điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn P;

Căn cứ khoản 1 điều 321; điểm i, s khoản 1 điều 51; điều 36 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Phùng Thị H, Phùng Thị N1, Nguyễn Thị L và Lê Quang T2;

Căn cứ khoản 1 điều 321; điểm i, s khoản 1 điều 51; khoản 1,3 điều 35 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lê Thị L1;

Tuyên bố: Các bị cáo Phùng Thị H, Phùng Thị N1, Nguyễn Thị L, Lê Thị L1, Lê Quang T2, Nguyễn Văn Ý và Nguyễn Văn P phạm tội: “Đánh bạc”.

Xử phạt:

  1. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Ý 07 (Bảy) tháng tù;

    bị cáo được trừ 03 ngày tạm giữ (từ ngày 23/01/2025 đến ngày 26/01/2025). Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án hình phạt tù.

    Bị cáo Nguyễn Văn Ý phải tiếp tục chấp hành lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú kể từ ngày 15 tháng 4 năm 2025 là ngày tuyên án, cho đến thời điểm bị cáo đi chấp hành án hình phạt tù.

  2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P 06 (Sáu) tháng tù;

    bị cáo được trừ 03 ngày tạm giữ (từ ngày 24/01/2025 đến ngày 27/01/2025). Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án hình phạt tù.

    Bị cáo Nguyễn Văn P phải tiếp tục chấp hành lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú kể từ ngày 15 tháng 4 năm 2025 là ngày tuyên án, cho đến thời điểm bị cáo đi chấp hành án hình phạt tù.

  3. Xử phạt bị cáo Lê Quang T2 12 (Mười hai) tháng cải tạo không giam giữ;

    được trừ 03 ngày tạm giữ, (từ ngày 23/01/2025 đến ngày 26/01/2025) quy đổi thành 09 ngày cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Phòng Cảnh sát Thi hành án Hình sự và hỗ trợ tư pháp Công an tỉnh P nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
    • - Giao bị cáo Lê Quang T2 cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt.
    • Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thi hành án.
    • - Trong thời gian chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ, khấu trừ thu nhập 5% hàng tháng đối với bị cáo Lê Quang T2 số tiền là 140.000đồng (Một trăm bốn mươi nghìn đồng) mỗi tháng để nộp ngân sách nhà nước. Việc khấu trừ thu nhập được thực hiện hàng tháng.
  4. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị L 09 (Chín) tháng cải tạo không giam giữ;

    được trừ 03 ngày tạm giữ, (từ ngày 23/01/2025 đến ngày 26/01/2025) quy đổi thành 09 ngày cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Phòng Cảnh sát Thi hành án Hình sự và hỗ trợ tư pháp Công an tỉnh P nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
    • - Giao bị cáo Nguyễn Thị L cho Ủy ban nhân dân xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt.
    • Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thi hành án.
    • - Trong thời gian chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ, khấu trừ thu nhập 5% hàng tháng đối với bị cáo Nguyễn Thị L số tiền là 190.000 đồng (Một trăm chín mươi nghìn đồng) mỗi tháng để nộp ngân sách nhà nước. Việc khấu trừ thu nhập được thực hiện hàng tháng.
  5. Xử phạt bị cáo Phùng Thị H 09 (Chín) tháng cải tạo không giam giữ;

    được trừ 03 ngày tạm giữ, (từ ngày 23/01/2025 đến ngày 26/01/2025) quy đổi thành 09 ngày cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Phòng Cảnh sát Thi hành án Hình sự và hỗ trợ tư pháp Công an tỉnh P nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
    • - Giao bị cáo Phùng Thị H cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt.
    • Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thi hành án.
    • - Trong thời gian chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ, khấu trừ thu nhập 5% hàng tháng đối với bị cáo Phùng Thị H số tiền là 143.000đồng (Một trăm bốn mươi ba nghìn đồng) mỗi tháng để nộp ngân sách nhà nước. Việc khấu trừ thu nhập được thực hiện hàng tháng;
  6. Xử phạt bị cáo Phùng Thị N1 07 (Bảy) tháng cải tạo không giam giữ;

    được trừ 03 ngày tạm giữ, (từ ngày 23/01/2025 đến ngày 26/01/2025) quy đổi thành 09 ngày cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ được tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
    • - Giao bị cáo Phùng Thị N1 cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục.
    • Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ trong việc giám sát giáo dục bị cáo Phùng Thị N1.
    • - Trong thời gian chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ, khấu trừ thu nhập 5% hàng tháng đối với bị cáo Phùng Thị N1 số tiền là 143.000 đồng (Một trăm bốn mươi ba nghìn đồng) mỗi tháng để nộp ngân sách nhà nước. Việc khấu trừ thu nhập được thực hiện hàng tháng;
    • * Trường hợp các bị cáo Lê Quang T2, Nguyễn Thị L, Phùng Thị H và Phùng Thị N1 thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại điều 100 của Luật Thi hành án Hình sự.
    • * Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với các bị cáo Lê Quang T2, Nguyễn Thị L, Phùng Thị H và Phùng Thị N1.
    • * Các bị cáo Lê Quang T2, Nguyễn Thị L, Phùng Thị H và Phùng Thị N1 không có việc làm hoặc bị mất việc làm trong thời gian chấp hành án cải tạo không giam giữ thì phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ tại cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong một tuần;
    • * Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật thi hành án Hình sự.
  7. Xử phạt tiền là hình phạt chính đối với bị cáo Lê Thị L1 số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).

    Thời hạn bị cáo phải nộp tiền một lần kể từ khi án có hiệu lực pháp luật;

    Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Lê Thị L1.

  8. Về xử lý vật chứng:

    Áp dụng khoản 1 điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự;
    • + Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 6.387.000 đồng (Sáu triệu ba trăm tám mươi bảy nghìn đồng), đã được gửi vào số tài khoản 39490102622800000 ngày 09/4/2025 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Tân Sơn mở tại Phòng giao dịch số 3 - Kho bạc nhà nước khu vực VIII, đối với các bị cáo:

    Phùng Thị H 3.980.000đ (Ba triệu chín trăm tám mươi nghìn đồng)

    Phùng Thị N1 445.000đ (Bốn trăm bốn mươi lăm nghìn)

    Nguyễn Thị L 1.450.000đ (Một triệu bốn trăm năm mươi nghìn đồng)

    Lê Quang T2 335.000₫ (Ba trăm ba mươi lăm nghìn)

    Nguyễn Văn Ý 97.000₫ (Chín mươi bảy nghìn đồng)

    Lê Thị L1 80.000 đồng (T5 mươi nghìn đồng)

    • +Tịch thu để tiêu hủy của bị cáo Lê Thị L1 52 quân bài tú lơ khơ và 01 chiếu cói đã cũ;

    Các vật chứng có đặc điểm theo biên bản giao nhận đến Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ ngày 09/4/2025;

  9. Về án phí:

    Áp dụng khoản 2 điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điểm a, khoản 1 điều 23 nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; đối với các bị cáo các bị cáo Phùng Thị H, Phùng Thị N1, Lê Thị L1, Lê Quang T2 và Nguyễn Văn P2.

    Áp dụng khoản 2 điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a, khoản 1 điều 23; điểm đ khoản 1 điều 12 nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; đối với các bị cáo Nguyễn Thị L và Nguyễn Văn Ý;

    Buộc

    các bị cáo Phùng Thị H, Phùng Thị N1, Lê Thị L1, Lê Quang T2 và Nguyễn Văn P mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm;

    Miễn

    toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo Nguyễn Thị L và Nguyễn Văn Ý;

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội để yêu cầu xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Tân Sơn;
  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - CA tỉnh Phú Thọ (Phòng CS THAHS và HTTP);
  • - Sở tư pháp tỉnh Phú Thọ;
  • - Chi cục THA Dân sự huyện Tân Sơn;
  • - Thi hành án Hình sự;
  • - UBND nơi các bị cáo cư trú;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Xuân Trường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 18/2025/HS-ST ngày 15/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN SƠN, TỈNH PHÚ THỌ về đánh bạc (gambling)

  • Số bản án: 18/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Đánh bạc (Gambling)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN SƠN, TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án Phùng Thị Hà đánh bạc cùng đp
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger