Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH

TỈNH AN GIANG


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 18/2025/HS-ST

Ngày: 14-4-2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Hữu Phúc

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Ngọc Kiều
  2. Bà Trần Thị Quế Minh

- Thư ký phiên tòa: Bà Cù Thị Ngọc Hân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Ông Lê Thanh Tâm – Kiểm sát viên

Ngày 14 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 12/2025/TLST-HS ngày 11 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2025/QĐXXST- HS ngày 24 tháng 3 năm 2025, đối với bị cáo:

Phan Thanh P (P1), sinh năm 1997, tại An Giang; Nơi cư trú: ấp V, xã C, huyện C, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: công nhân; trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật Giáo H; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phan Thanh S, sinh năm: 1961 và bà Nguyễn Thị N, sinh năm: 1960; anh chị em ruột: có 03 người, bị cáo là người nhỏ nhất; Vợ: Huỳnh Thị L (đã ly hôn), con 01 người sinh năm 2019;

Tiền án: ngày 13/01/2023 bị Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương xử phạt 01 năm tù 04 tháng về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, chấp hành xong ngày 11/01/2024.

Tiền sự: không.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/11/2024, tại Phân trại tạm giam – khu vực C. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại:

  1. CÔNG TY TNHH MTV D2

Người đại diện theo pháp luật: ông Nguyễn Văn M – Tổng giám đốc (vắng mặt).

Địa chỉ: Số B N, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.

  1. Khưu Vĩnh N1, sinh năm 1995 (có mặt).

Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh An Giang.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Nguyễn Văn Mai C, sinh năm 1991 (vắng mặt).

Địa chỉ: ấp C, xã C, huyện C, tỉnh An Giang.

  1. Nguyễn Thị V, sinh năm 2006 (vắng mặt)
  2. Nguyễn Thị D, sinh năm 1985 (có mặt)

Địa chỉ: Tổ A, khu phố T, thị trấn S, huyện H, tỉnh Kiên Giang.

  1. Huỳnh Văn L1, sinh năm 1981 (vắng mặt)

Địa chỉ: ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang

  1. Trương Văn Đ, sinh năm 1989 (vắng mặt)

Địa chỉ: ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang

  1. Đỗ Đức T, sinh năm 1987 (vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ A, khu phố T, Thị trấn S, Huyện H, tỉnh Kiên Giang.

  1. Nguyễn Thị Kim Đ1, sinh năm 1993 (vắng mặt)

Địa chỉ: ấp Cần Thới, xã Cần Đăng, huyện Châu Thành, tỉnh An Giang

  1. Khưu Vĩnh Hải, sinh năm 1963 (vắng mặt)

Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh An Giang

* Người làm chứng:

Cao Văn D1, Y Ro H (đều vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ ngày 21/11/2024 Phan Thanh P điều khiển xe mô tô biển số 68D1-386.82 của Nguyễn Thị V đến gửi xe tại nhà xe của công ty TNHH MTV A thuộc Khu công nghiệp B nhằm mục đích chiếm đoạt xe máy của công nhân gửi tại đây. Sau đó phương dắt xe mô tô biển số 68D1-386.82 ra cổng số 02 gặp Trương Văn Đ, là nhân viên bảo vệ của công ty D2 phiếu gửi xe (mục đích giữ lại phiếu gửi xe), Đ dùng điện thoại chụp hình giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 68D1-386.82 và mặt của P rồi cho P lấy xe. Sau khi ra khỏi nhà xe P điều khiển xe về nhà nghỉ T1 cất xe, thay quần áo và thuê Cao Văn D1 chở vào công ty A. P vào nhà xe của công ty A dẫn xe mô tô biển số 67C1-861.91 của Nguyễn Văn M1 Cưng ra khỏi nhà xe và dùng phiếu gửi xe đã giữ lại trước đó lừa Huỳnh Văn L1, là nhân viên bảo vệ của công ty D2 để dẫn xe ra ngoài. Sau khi ra bên ngoài P gặp Y Ro H nên nhờ H đẩy xe ra cổng khu công nghiệp, P tiếp tục nhờ người đi đường đẩy xe về đến xã C,ghé tiệm sửa khóa để làm chìa khóa xe. Sau khi chiếm đoạt xe mô tô biển số 67C1-861.91 Phương tháo biển số và nói với Nguyễn Thị D (là mẹ của V) rằng xe mới mua và kêu D chạy xe về nhà D tại thị trấn S, huyện H, tỉnh Kiên Giang.

Ngày 22/11/2024 P mang xe mô tô biển số 67C1-861.91 đến tiệm cầm đồ của Đỗ Đức T bán với giá 15.000.000 đồng. P tiếp tục đến khu vực gần Công an huyện H nhận xe mô tô hiệu HONDACKD biển số 28D1-695.24 đã đặt mua trước đó, điều khiển đến nhà nghỉ T1 thì bị bắt giữ.

Quá trình điều tra còn xác định ngày 29/9/2024 P sử dụng mạng xã hội Facebook tài khoản “Dior PV (Phan SonnMinn)” đăng tin nhận cầm xe không giấy. Khoảng 15 giờ cùng ngày Khưu Vĩnh N1 sử dụng tài khoản tên “Nam K” liên hệ P cầm xe mô tô Honda PCX biển số 67M1 - 451.15 với giá 5.000.000 đồng. P kêu N1 đến tiệm cầm đò “Vân” thuộc thị trấn A, huyện C, tỉnh An Giang để kiểm tra xe. Khoảng 19 giờ cùng ngày N1 điều khiển xe mô tô biển số 67M1 - 451.15 đến tiệm cầm đồ “Vân”, tại đây P đứng trước cửa giả vờ là chủ tiệm và kêu N1 đưa xe cho P chạy về để cha P xem xe. Khoảng 03 phút sau P quay lại kêu N1 đưa giấy chứng nhận đăng ký xe bản photo nhưng N1 không đồng ý, P kêu N1 đi vào tiệm cầm đồ “Vân” làm biên nhận và nhận tiền còn N1 lấy xe chạy đi, khi N1 vào vào tiệm cầm đồ hỏi lấy biên nhận thì mới biết bị P lừa lấy xe. Ngày 30/9/2024 P bán xe mô tô biển số 67M1 - 451.15 bán xe cho tuấn (không xác định được lai lịch) với giá 5.000.000 đồng, tiêu xài cá nhân hết.

* Vật chứng thu giữ:

  • + 01 xe mô tô Honda Future FI màu trắng-đen, biển số 67C1-861.91 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 67C1-861.91 đứng tên Nguyễn Thị Kim Đ1 (đã trao trả cho chủ sở hữu Nguyễn Văn Mai C).
  • + 01 xe mô tô hiệu Yamaha, đã qua sử dụng biển số 68D1 – 386.82 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 68D1 – 386.82 đứng tên Nguyễn Thị Lý E.
  • + 01 xe mô tô hiệu HONDACKD, màu đen, đã qua sử dụng biển số 68D1-695.24 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 68D1-695.24 mang tên Cao Hồng P2.
  • + 01 áo thun cổ tròn ngắn tay màu kem, phía trước in hình con thỏ màu nâu, phía sau in dòng chữ BAD RABBIT, đã qua sử dụng.
  • + Tiền Việt Nam 3.000.000 đồng.

* Căn cứ Kết luận định giá tài sản số 50/KL.HĐ ngày 28/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C, tỉnh An Giang, kết luận:

Xe mô tô biển số 67C1-861.91 nhãn hiệu Honda, loại Future FI, màu trắng-đen, số máy JC0E0243636, số khung RLHJC7655NY110929, đã qua sử dụng có giá trị: 43.000.000 đồng x 70% = 30.100.000 đồng.

* Căn cứ Kết luận định giá tài sản số 03/KL.HĐ ngày 10/02/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C, tỉnh An Giang, kết luận:

Xe mô tô biển số 67M1-451.15 nhãn hiệu Honda, loại PCX, màu xám, số máy JF56E0117447, số khung 5626FY007893, đã qua sử dụng có giá trị: 57.000.000 đồng x 20% = 11.400.000 đồng.

Ngày 03/12/2024, Phan Thanh P bị khởi tố điều tra.

Tại Bản cáo trạng số: 18/CT-VKS ngày 11 tháng 3 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang đã truy tố bị cáo Phan Thanh P về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa: bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung vụ án đã nêu. Bị cáo đồng ý bồi thường cho Khưu Vĩnh N1 số tiền 17.000.000 đồng, đồng ý bồi thường cho Đỗ Đức T số tiền 15.000.000 đồng.

Bị hại công ty TNHH một thành viên D2 và Khưu V trình bày phù hợp như nội dụng vụ án đã nêu. Đại diện công ty D2 không yêu cầu bị cáo bồi thường, riêng N1 yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 17.000.000 đồng.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị V, Nguyễn Thị D trình bày phù hợp với nội dung vụ án đã nêu, V và D không biết các xe mô tô biển số 67C1-861.91 và 67M1-451.15 do P phạm tội mà có. Đối với xe mô tô biển số 68D1-386.82 là của V, yêu cầu được nhận lại xe.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Văn Mai C, Khưu V, Huỳnh Văn L1, Trương Văn Đ trình bày phù hợp nội dung vụ án đã nêu.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Đỗ Đức T trình bày không biết xe mô tô biển số 67C1-861.91 do phạm tội mà có nên đồng ý mua lại, T đã giao nộp lại xe nên yêu cầu bị cáo trả lại số tiền 15.000.000 đồng.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị Kim Đ1 trình bày phù hợp với nội dung vụ án đã nêu, xe mô tô biển số 67C1-861.91 là của Nguyễn Văn M1 Cưng nhờ Đ1 đứng tên giùm.

Người làm chứng trình bày phù hợp với nội dung vụ án đã nêu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang thực hành quyền công tố Nhà nước tại phiên tòa phát biểu lời luận tội đối với bị cáo và giữ nguyên truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất của vụ án, hành vi phạm tội của bị cáo, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt, nhân thân bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 174; các điểm r,s khoản 1, khoản 2 Điều 51, các điểm g, h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Phan Thanh P mức án từ 02 (hai) năm đến 03 (ba) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam (Ngày 24/11/2024);

Về xử lý vật chứng:

  • + 01 xe mô tô Honda Future FI màu trắng-đen, biển số 67C1-861.91 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 67C1-861.91 đứng tên Nguyễn Thị Kim Đ1 đã trao trả cho chủ sở hữu Nguyễn Văn Mai C, đề nghị không xem xét.
  • + 01 xe mô tô hiệu Yamaha, đã qua sử dụng biển số 68D1 – 386.82 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 68D1 – 386.82 đứng tên Nguyễn Thị Lý E, đề nghị trả lại cho Nguyễn Thị V.
  • + 01 xe mô tô hiệu HONDACKD, màu đen, đã qua sử dụng biển số 68D1-695.24 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 68D1-695.24 mang tên Cao Hồng P2, đề nghị tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
  • + 01 áo thun cổ tròn ngắn tay màu kem, phía trước in hình con thỏ màu nâu, phía sau in dòng chữ BAD RABBIT, đã qua sử dụng, đề nghị tịch thu, tiêu hủy.
  • + Tiền Việt Nam 3.000.000 đồng, đề nghị tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Về trách nhiệm dân sự: buộc bị cáo bồi thường thiệt hại cho K1 số tiền 17.000.000 đồng, cho Đỗ Đức T 15.000.000 đồng.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng, tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:

Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Xét thấy, Cơ quan điều tra đã tiến hành lấy lời khai và làm rõ các tình tiết vụ án nên việc vắng mặt của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng không làm ảnh hưởng đến việc xét xử. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 292 và khoản 1 Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án

[2] Về nội dung vụ án:

Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lợi dụng sự cả tin, thiếu cảnh giác của các bị hại nên bị cáo đã dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt hai xe mô tô thuộc quyền quản lý của công ty TNHH MTV D2 và anh Khưu Vĩnh N1 với tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 41.500.000 đồng. Hành vi của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Như vậy đã có đủ căn cứ kết luận bị cáo Phan Thanh P phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo đủ khả năng nhận thức hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội, thể hiện thái độ xem thường pháp luật, do đó cần áp dụng hình phạt cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một khoản thời gian nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo có ý thức tôn trọng pháp luật và phòng ngừa chung cho xã hội.

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo có một tiền án là ngày 13/01/2023 bị Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương xử phạt 01 năm 04 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, chấp hành xong án phạt tù ngày 11/01/2024, chưa được xóa án tích nhưng đến ngày 29/9/2024 và ngày 21/11/2024 bị cáo lại thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của các bị hại như đã nêu, đây được xem là các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm” và “phạm tội hai lần trờ lên” theo quy định tại các điểm g, h Điều 52, khoản 1 Điều 53 Bộ luật Hình sự.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự thú khai nhận hành vi phạm tội trước đó. Bị cáo thuộc thành phần nhân dân lao động nghèo, nhận thức pháp luật còn hạn chế. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt.

[5] Về xử lý vật chứng:

  • + Đối với 01 xe mô tô Honda Future FI màu trắng-đen, biển số 67C1-861.91 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 67C1-861.91 đứng tên Nguyễn Thị Kim Đ1 đã trao trả cho chủ sở hữu Nguyễn Văn Mai C, việc trao trả là đúng quy định nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
  • + Đối với 01 xe mô tô hiệu Yamaha, đã qua sử dụng biển số 68D1 – 386.82 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 68D1 – 386.82 đứng tên Nguyễn Thị Lý E, đây là tài sản của Nguyễn Thị V cho bị cáo mượn do đó Hội đồng xét xử quyết định trả lại cho Nguyễn Thị V.
  • + Đối với 01 xe mô tô hiệu HONDACKD, màu đen, đã qua sử dụng biển số 68D1-695.24 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 68D1-695.24 mang tên Cao Hồng P2 và số tiền 3.000.000 đồng, đây là tài sản của bị cáo tuy nhiên cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
  • + Đối với 01 áo thun cổ tròn ngắn tay màu kem, phía trước in hình con thỏ màu nâu, phía sau in dòng chữ BAD RABBIT, đã qua sử dụng, đây là vật chứng không còn giá trị sử dụng Hội đồng xét xử quyết định tịch thu, tiêu hủy.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Khưu V yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 17.000.000 đồng đối với tài sản bị chiếm đoạt không thu hồi được là xe mô tô biển số 67M1-451.15. Tại phiên tòa bị cáo đồng ý bồi thường cho N1 số tiền 17.000.000 đồng, do đó cần buộc bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho bị hại Khưu V số tiền 17.000.000 đồng là phù hợp.

Đỗ Đức T không biết xe mô tô biển số: 67C1-861.91 do bị cáo phạm tội mà có nên đồng ý mua với giá là 15.000.000 đồng, T đã giao nộp lại xe mô tô nói trên cho Cơ quan chức năng để trả lại cho bị hại, T yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền trên. Do đó cần buộc bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho T số tiền 15.000.000 đồng là phù hợp.

[7] Bị cáo Phan Thanh P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 174; các điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g, h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự;

  • - Tuyên bố bị cáo Phan Thanh P phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”;
  • - Xử phạt bị cáo Phan Thanh P 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam (Ngày 24/11/2024).

2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng các Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật Dân sự, buộc bị cáo Phan Thanh P bồi thường cho bị hại Khưu V số tiền 17.000.000 đồng (mười bảy triệu đồng); bồi thường cho Đỗ Đức T số tiền 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng)

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

  • - Trả lại cho Nguyễn Thị V 01 xe mô tô hiệu Yamaha, màu xám đen, đã qua sử dụng biển số 68D1 – 386.82 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 68D1 – 386.82 đứng tên Nguyễn Thị Lý E.
  • - Tiếp tục tạm giữ 01 xe mô tô hiệu HONDACKD, màu đen, đã qua sử dụng biển số 68D1-695.24; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 68D1-695.24 mang tên Cao Hồng P2 và số tiền 3.000.000 đồng để đảm bảo thi hành án.
  • - Tịch thu, tiêu hủy 01 áo thun cổ tròn ngắn tay màu kem, phía trước in hình con thỏ màu nâu, phía sau in dòng chữ BAD RABBIT, đã qua sử dụng.
  • (Các vật chứng được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh An Giang theo quyết định chuyển vật chứng số 17/QĐ-VKS- HS ngày 11/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang).

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21, điểm a, điểm c khoản 1 Điều 23, Điều 26, Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Phan Thanh P phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 1.600.000 đồng (một triệu sáu trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, tổng cộng là 1.800.000 đồng (một triệu tám trăm ngàn đồng).

5. Về quyền kháng cáo : Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (14/4/2025). Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản bán được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Bị hại
  • - Người có QLNVLQ;
  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành;
  • - Phòng KTNV-THA – TAND tỉnh An Giang;
  • - CQ CSĐT Công an huyện Châu Thành;
  • - Chi cục THA.DS huyện Châu Thành;
  • - Phân trại tạm giam khu vực Châu Thành
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Hữu Phúc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 18/2025/HS-ST ngày 14/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG về hình sự: lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 18/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger