Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THÁP MƯỜI

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2025/HS-ST

Ngày: 13 - 02 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Ngọc.

Các Hội thẩm nhân dân.

Ông Lê Hoàng Thọ;

Ông Lê Văn Vững.

Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Mỹ Linh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Sang - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp mở phiên tòa sơ thẩm công khai trực tiếp xét xử vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 05/2024/TLST-HS ngày 13 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2025/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 01 năm 2025, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn Ú, sinh năm 1973, tại Vĩnh Long; nơi cư trú: Ấp Q, xã H, huyện V, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T và bà Hà Thị H; gia đình có 08 anh chị em, bị cáo là con nhỏ nhất trong gia đình; vợ: Đã ly hôn; bị cáo có 02 người con, con lớn sinh năm 1997 và con nhỏ sinh năm 2001; tiền sự, tiền án: Không; tạm giữ: Ngày 04/11/2024; tạm giam: Ngày 10/11/2024; Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại trại tạm giam công an tỉnh Đ (bị cáo có mặt tại phiên tòa).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Chị Nguyễn Thị Tú T1, sinh năm 1983; địa chỉ: Ấp E, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An. (có mặt)

* Người làm chứng:

Anh Phan Duy N (Ú), sinh năm 1992; địa chỉ: Ấp D, xã M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. (vắng mặt không có lý do)

Anh C Đặng Hữu N1, sinh năm 1988; địa chỉ: Khóm A, thị trấn M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. (vắng mặt không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Nguyễn Văn Ú làm nghề tài xế lái xe dịch vụ, trong một lần chở khách đến khu vực cầu B thuộc huyện T, tỉnh Long An, Ú gặp người tên T2 (không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể) giới thiệu có nhu cầu thuê người vận chuyển thuốc lá điếu ngoại nhập lậu gần khu vực biên giới với Campuchia, nếu đồng ý vận chuyển thì đến cầu B đứng đợi T2 sẽ chủ động ra gặp.

Biết việc vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu là vi phạm pháp luật, nhưng vì được trả tiền công vận chuyển cao nên Ú nảy sinh ý định đi tìm T2 để vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu. Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 04/11/2024, Ú điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Toyota, loại Vios màu trắng, biển số 95A-085.94 từ huyện Đ, tỉnh Long An đến khu vực cầu B đợi. Một lúc sau, T2 đến gặp Ú và đặt vấn đề thuê Ú chở thuốc lá điếu nhập lậu từ khu vực biên giới của nước Việt Nam giáp với nước Campuchia về khu vực gần cầu C thuộc thành phố Cần Thơ có người đến lấy, tiền công vận chuyển mỗi chuyến là 800.000 đồng thì Ú đồng ý.

Qua sự chỉ dẫn của T2, Ú một mình điều khiển xe ô tô biển số 95A-085.94 đi theo hướng đến khu vực gần biên giới với nước Campuchia (cách huyện T, tỉnh Long An khoảng 03km) gặp 02 thùng giấy (01 thùng nhãn hiệu Jet, 01 thùng nhãn hiệu Hero), 02 túi nylon màu đen loại lớn và 02 túi nylon màu đen loại nhỏ, bên trong là thuốc lá nhãn hiệu Jet và H1 được cất giấu trong bụi cây ven đường. Biết là thuốc lá điếu ngoại nhập lậu của T2 cất giấu, Ú lấy hết số thuốc trong 02 thùng giấy và 02 túi nylon màu đen loại lớn ra đem cất giấu vào cốp xe, còn 02 túi nylon màu đen loại nhỏ để trên hàng ghế phụ và hàng ghế sau. Xong Ú điều khiển xe về hướng huyện T, tỉnh Long An rẽ vào quốc lộ N đi về huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, Ú điều khiển xe đến khu vực đèn tín hiệu giao thông thuộc khóm D, thị trấn M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp bị Đội Cảnh sát giao thông đường bộ số C1, phòng C2 công an tỉnh Đ ra hiệu lệnh dừng xe. Sợ bị phát hiện bắt giữ, Ú mở cửa xe bỏ chạy thì bị lực lượng công an cùng người dân bắt giữ, kiểm tra trên xe thu giữ 2.980 bao thuốc lá điếu ngoại nhập lậu (gồm 1.480 bao nhãn hiệu Jet và 1.500 bao nhãn hiệu Hero) nên tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng có liên quan.

Theo Công văn 216/CV-2024 HHTLVN của H3 xác nhận: 2.980 bao thuốc lá điếu (gồm 1.480 bao nhãn hiệu Jet và 1.500 bao nhãn hiệu Hero) đều không có dán tem và in cảnh báo sức khỏe bằng hình và bằng tiếng Việt Nam trên 02 mặt trước và sau của bao thuốc lá. Tất cả 2.980 bao thuốc lá có các nhãn hiệu như trên là thuốc lá điếu nhập lậu.

Về vật chứng, Cơ quan điều tra đã thu giữ các tài sản như sau:

  • - 2.980 bao thuốc lá điếu ngoại nhập lậu (gồm 1.480 bao nhãn hiệu Jet và 1.500 bao nhãn hiệu Hero).
  • - 01 xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA, màu sơn trắng, biển số 95A-085.94, cùng 01 giấy đăng ký xe số 95005239 do phó Trưởng phòng cảnh sát giao thông công an tỉnh H cấp ngày 29/11/2022, 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường số DB1512794; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe ô tô. Đây là xe ô tô của ông Trương Văn H2; ngày 13/4/2023, ông H2 và vợ là bà Cao Thùy D đã ký hợp đồng ủy quyền lại cho ông Nguyễn Thái B được sở hữu và toàn quyền quyết định đối với chiếc xe này. Đến ngày 03/7/2023, ông B tiếp tục ký ủy quyền lại cho bà Nguyễn Thị Tú T1 được sở hữu xe ô tô này.
  • - Của Nguyễn Văn Ú gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu xanh, 01 giấy phép lái xe hạng B2 số [...] do sở Giao thông Vận tải thành phố H cấp ngày 21/11/2023 và 01 căn cước công dân số [...] tên Nguyễn Văn Ú.

Tại bản cáo trạng số: 04/CT-VKSTM ngày 13 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp đã quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Văn Ú ra Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười để xét xử về tội “Vận chuyển hàng cấm” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 191 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

- Kiểm sát viên, giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố theo Cáo trạng, khẳng định việc truy tố trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Trên cơ sở phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội do hành vi của bị cáo đã gây ra, nguyên nhân, điều kiện dẫn đến việc thực hiện tội phạm, nhân thân của bị cáo và quy định của pháp luật, Kiểm sát viên đề nghị:

  • + Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 191 của Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Ú phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”;
  • + Áp dụng điểm b khoản 1 và khoản 4 Điều 191; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Ú

hình phạt từ 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng đến 02 (H) năm tù. Áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị Tòa án tuyên xử:

Tịch thu tiêu hủy: 2.980 bao thuốc lá điếu ngoại nhập lậu (gồm 1.480 bao nhãn hiệu Jet và 1.500 bao nhãn hiệu Hero).

Trả lại cho Nguyễn Văn Ú: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu xanh, 01 giấy phép lái xe hạng B2 số [...] do sở Giao thông Vận tải thành phố H cấp ngày 21/11/2023 và 01 căn cước công dân số [...] tên Nguyễn Văn Ú do không liên quan đến việc phạm tội.

Trả lại cho Nguyễn Thị Tú T1: 01 xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA, màu sơn trắng, biển số 95A-085.94, cùng 01 giấy đăng ký xe số 95005239 do phó Trưởng phòng cảnh sát giao thông công an tỉnh H cấp ngày 29/11/2022, 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường số DB1512794; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe ô tô do không liên quan đến việc phạm tội.

- Bị cáo Nguyễn Văn Ú đồng ý xét xử vắng mặt đối với những người làm chứng, thừa nhận toàn bộ hành vi của bị cáo đúng như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Đối với phần luận tội của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, khung hình phạt bị cáo thống nhất, không tranh luận với Kiểm sát viên. Lời nói sau cùng của bị cáo là bản thân rất ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị Tú T1 trình bày rằng chị có cho bị cáo Ú mượn xe ô tô biển số 95A-085.94 để về quê đi tiệc cưới; ngoài ra, chị không biết việc bị cáo còn sử dụng xe vào mục đích vận chuyển hàng cấm. Nay, chị T1 xin được nhận lại chiếc xe ô tô trên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt những người làm chứng Phan Duy N và Châu Đặng Hữu N1. Tuy nhiên, xét thấy đã có đầy đủ lời khai của họ trong hồ sơ vụ án; đồng thời tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và Kiểm sát viên cũng đồng ý xét xử vắng mặt đối với những người này; do đó, sự vắng mặt của họ không làm ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên Hội đồng xét xử vẫn tiếp tục phiên tòa xét xử vụ án theo quy định.
  2. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T và Điều tra viên trong quá trình điều tra; của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười và Kiểm sát viên trong quá trình truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đều không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  3. Hội đồng xét xử nhận thấy, lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Văn Ú tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và những người làm chứng cũng như phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác do cơ quan điều tra thu thập có trong hồ sơ vụ án và tại phần tranh luận bị cáo cũng thống nhất với lời luận tội của Kiểm sát viên. Bị cáo là người đã thành niên, có đầy đủ thể lực và trí lực nhận thức hành vi của mình; bị cáo biết rõ hành vi vận chuyển thuốc lá điếu ngoại nhập lậu là vi phạm pháp luật mà vẫn thực hiện; bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý; tổng số bao thuốc lá điếu ngoại nhập lậu mà bị cáo đang vận chuyển thì bị bắt quả tang là 2.980 bao nên đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vận chuyển hàng cấm” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 191 của Bộ luật Hình sự.

“Điều 191. Tội vận chuyển hàng cấm

1. Người nào tàng trữ, vận chuyển hàng cấm thuộc một trong các trường hợp sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các điều 232, 234, 239, 244, 246, 249, 250, 253, 254, 304, 305, 306, 309 và 311 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

...

b) Thuốc lá điếu nhập lậu từ 1.500 bao đến dưới 3.000 bao;

...

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”

  1. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến hoạt động quản lý kinh tế của Nhà nước. Trật tự hoạt động quản lý kinh tế của Nhà nước là khách thể được Luật hình sự bảo vệ, nghiêm cấm mọi hành vi trái phép xâm phạm đến, nhưng với ý thức xem thường pháp luật và vì mục đích hưởng lợi theo thỏa thuận, bị cáo đã bất chấp pháp luật để thực hiện

hành vi vận chuyển thuốc lá điếu ngoại nhập lậu. Hành vi này không những vi phạm pháp luật mà còn làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự xã hội tại địa phương, gây tác hại nghiêm trọng đối với sức khỏe và tính mạng của con người. Do đó, việc đưa bị cáo ra xét xử công khai như hôm nay là cần thiết, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian phù hợp đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo thành người tốt, có ích cho gia đình và xã hội, thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật, đồng thời nhằm mục đích giáo dục, phòng ngừa chung trong xã hội.

  1. Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; ngoài ra, bị cáo có cha tên Nguyễn Văn T được tặng thưởng huân chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng nhất nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
  2. Tình tiết tăng nặng: Không có.
  3. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo có nghề nghiệp tạo thu nhập nên việc Kiểm sát viên đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo theo khoản 4 Điều 191 Bộ luật Hình sự là phù hợp; do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận.
  4. Cáo trạng số: 04/CT-VKSTM ngày 13 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp truy tố bị cáo Nguyễn Văn Ú là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 và khoản 4 Điều 191 của Bộ luật Hình sự để xử phạt đối với bị cáo.
  5. Về xử lý vật chứng: Xét thấy, đề nghị của Kiểm sát viên là đúng với quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
  6. Đối với Trương Văn H2, Cao Thùy D là chủ sở hữu xe ô tô biển số 95A-085.94 đã làm hợp đồng ủy quyền cho Nguyễn Thị Tú T1 được sở hữu. Sau đó T1 cho bị cáo Nguyễn Văn Ú mượn nhưng không biết việc xe ô tô biển số 95A-085.94 được sử dụng vào mục đích vận chuyển hàng cấm nên không xem xét xử lý là phù hợp.
  7. Đối với người có tên T2 do không xác định được nhân thân, lai lịch nên tách ra khỏi vụ án này, tiếp tục xem xét xử lý khi có căn cứ là phù hợp.
  8. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn Ú bị kết tội, bị cáo không thuộc trường hợp không phải chịu án phí theo quy định tại Điều 11 và không thuộc trường hợp miễn nộp án phí theo quy định tại Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Do

đó, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

  1. Về quyền kháng cáo: Bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án này theo quy định tại Điều 331, 332 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm b khoản 1 và khoản 4 Điều 191; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;
    • - Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Ú phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.
    • - Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Ú 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04/11/2024.

    Áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo Nguyễn Văn Ú số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng). Buộc bị cáo Nguyễn Văn Ú phải nộp số tiền trên sung vào Ngân sách nhà nước.

  2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

    Tịch thu tiêu hủy: 2.980 bao thuốc lá điếu ngoại nhập lậu (gồm 1.480 bao nhãn hiệu Jet và 1.500 bao nhãn hiệu Hero).

    Trả lại cho Nguyễn Văn Ú: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu xanh, 01 giấy phép lái xe hạng B2 số [...] do sở Giao thông Vận tải thành phố H cấp ngày 21/11/2023 và 01 căn cước công dân số [...] tên Nguyễn Văn Ú do không liên quan đến việc phạm tội.

    Trả lại cho Nguyễn Thị Tú T1: 01 xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA, màu sơn trắng, biển số 95A-085.94, cùng 01 giấy đăng ký xe số 95005239 do Phòng C2 công an tỉnh H cấp ngày 29/11/2022, 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường số DB1512794; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe ô tô do không liên quan đến việc phạm tội.

    Các vật chứng nêu trên do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tháp Mười giữ theo theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản lập ngày 13/02/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Đồng Tháp và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp

  1. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

    Buộc bị cáo Nguyễn Văn Ú phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  2. Về quyền kháng cáo: Bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
  3. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Tháp;
  • - VKSND tỉnh Đồng Tháp;
  • - Sở tư pháp Đồng Tháp;
  • - VKSND huyện Tháp Mười;
  • - CQ CSĐT CA huyện Tháp Mười;
  • - CC THADS huyện Tháp Mười;
  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu: HSVA, VPTA (Linh).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Văn Ngọc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 18/2025/HS-ST ngày 13/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI, TỈNH ĐỒNG THÁP về vận chuyển hàng cấm (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 18/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vận chuyển hàng cấm (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Văn U
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger