Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LẤP VÒ

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2025/HS-ST

Ngày: 11 - 4 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẤP VÒ, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Văn Nội.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Vạn Thế – Chức vụ: Giáo viên trường THPT Lấp Vò 1.
  2. Ông Nguyễn Thanh Liêm – Chức vụ: Phó Trưởng phòng Kinh tế - Hạ tầng huyện Lấp Vò.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Kiều, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Bà Lý Băng Tâm - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 4 năm 2025, tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 02/2025/TLST-HS ngày 15 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 06/2025/QĐXXST-HS ngày 12/02/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 12/2025/HSST-QĐ ngày 12/3/2025, đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Nguyễn Thanh Đ, sinh năm 2006, tại tỉnh Đồng Tháp; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Ấp V, xã V, huyện L, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 05/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Thanh H và bà: Trần Thị L; Có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Bị cáo chưa có vợ con.

Tiền án: Không.

Tiền sự: Có 02 tiền sự.

  • + Ngày 26/6/2023 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã V, huyện L xử phạt hành chính với số tiền 1.250.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản, nộp phạt ngày 12/7/2023.
  • + Ngày 16/8/2023 bị Toà án nhân dân huyện Lấp Vò áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở điều trị nghiện tỉnh Đồng Tháp với thời hạn 07 tháng, chấp hành xong ngày 18/4/2024.

Nhân thân: Ngày 01/7/2024 bị Toà án nhân dân huyện Lai Vung tuyên phạm tội Trộm cắp tài sản xử phạt 01 năm tù.

Hiện Được đang chấp hành án tại Trại giam M1, C10 Bộ C.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

  1. Họ và tên: Nguyễn Đại M, sinh năm: 2003, tại tỉnh Đồng Tháp; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Số A, ấp A, xã M, huyện L, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 06/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Trung H1 và bà: Lê Thị P; Có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Bị cáo chưa có vợ con;

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

  1. Họ và tên: Phan Gia H2, sinh ngày 30/3/2007, tại tỉnh Đồng Tháp; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Số C, ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Phan Duy P1 và bà: Nguyễn Thị L1; Có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Bị cáo chưa có vợ con;

Tiền án: Không.

Tiền sự: Ngày 27/9/2024 bị Toà án nhân dân huyện Lấp Vò áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 06 tháng. Hiện H2 đang chấp hành cai nghiện tại Cơ sở điều trị nghiện tỉnh Đồng Tháp (nay là Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Đồng Tháp).

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người đại diện hợp pháp của bị cáo H2:

  1. Ông Phan Duy P1, sinh năm: 1980. (vắng mặt).
  2. Bà Nguyễn Thị L1, sinh năm: 1982. (có mặt).

Cùng địa chỉ: Số C, ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp, là cha và mẹ của bị cáo.

Người bào chữa cho bị cáo H2: Ông Hà Văn N, sinh năm: 1973 – Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Đ (Chi nhánh S). (Có mặt).

- Bị hại: Anh Trần Văn T, sinh năm 1993; Địa chỉ: Số D, ấp Đ, xã Đ, huyện L, tỉnh Đồng Tháp. (vắng mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Tăng Văn T1, sinh năm 1985; Địa chỉ: Số H, ấp L, xã H, huyện L, tỉnh Đồng Tháp. (vắng mặt).
  2. Anh Nguyễn Thanh H, sinh năm 1976; Địa chỉ: Số E, ấp V, xã V, huyện L, tỉnh Đồng Tháp. (có mặt).
  3. Anh Nguyễn Anh Đ1, sinh ngày 25/12/2008; Địa chỉ: Số E, ấp L, xã H, huyện L, tỉnh Đồng Tháp. (vắng mặt).

Người đại diện hợp pháp của Anh Đ1: Ông Nguyễn Hữu Đ2, sinh năm: 1978 và bà Trần Thị Kim L2, sinh năm: 1978; Địa chỉ: Địa chỉ: Số E, ấp L, xã H, huyện L, tỉnh Đồng Tháp, là cha mẹ của cháu Đ1. (vắng mặt).

- Người làm chứng: Bà Trần Thị Kim L2, sinh năm: 1978; Địa chỉ: Địa chỉ: Số E, ấp L, xã H, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 13 giờ 30 phút ngày 14/6/2024, Nguyễn Thanh Đ rủ rê và điều khiển xe mô tô biển số 66V1-728.92 chở Phan Gia H2 (sinh ngày 30/03/2007) và Nguyễn Đại M ngồi phía sau đi trên Tỉnh lộ 852B theo hướng từ xã V đến thị trấn L nhằm tìm tài sản để chiếm đoạt. Trên đường đi Được phát hiện 01 xe mô tô biển số 66H5-3045 của anh Trần Văn T đang đậu trong vườn nhãn thuộc địa phận ấp T, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Tháp, cách đường H khoảng 03m, xe có gắn sẵn chìa khoá và không có người trông coi nên Được, M và H2 thống nhất tìm cách chiếm đoạt xe. Đến khoảng 14 giờ 15 phút cùng ngày, M điều khiển xe mô tô chở Đ và H2 quay lại nơi để xe mô tô biển số 66H5-3045, M ngồi trên xe mô tô biển số 66V1-728.92 cảnh giới, H2 đi vào trong vườn một đoạn để cảnh giới, còn Đ đi đến khởi động xe mô tô biển số 66H5-3045 điều khiển chạy đi tẩu thoát cùng đồng bọn. Được điều khiển xe mô tô chạy đi một đoạn, do sợ bị phát hiện nên Đ dùng tay bẻ biển số 66H5-3045 gắn trên xe ném bỏ, còn M điều khiển xe mô tô biển số 66V1-728.92 chở H2 chạy phía sau. Sau khi lấy được xe, Đ gọi điện thoại cho bạn là Nguyễn Anh Đ1, sinh ngày 25/12/2008 nói vừa trộm được xe mô tô nhờ Đ1 bán xe dùm. Sau đó Đ, M và H2 đến nhà Đ1 tại ấp L, xã H, huyện L, tỉnh Đồng Tháp, Đ1 chỉ cho Được nói dối với mẹ của Đ1 là bà Trần Thị Kim L2 rằng xe của M do bị mất giấy tờ nhờ bán dùm. Bà L2 tin tưởng nên điều khiển xe mô tô biển số 66H5-3045 bán cho anh Tăng Văn T1 với giá 1.300.000 đồng, bà L2 đem tiền về đưa Được. Được, M, H2 và Đ1 chia nhau 1.300.000 đồng tiêu xài cá nhân hết. Quá trình truy xét, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu hồi được xe mô tô biển số 66H5-3045. (Bút lục 105-112, 133-137, 161-165)

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 30/KL-HĐĐGTS ngày 21/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân huyện L kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu WANDA, loại 100S, màu xanh, biển số 66H5-3045, số khung VDCWCG055UM802489, số máy VHHJL150FMG80002489, sản xuất năm 2005, trị giá là 3.500.000 đồng. (Bút lục 64-70)

Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu giữ dữ liệu camera tại ấp T, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Tháp được lưu vào 01 đĩa DVD đã niêm phong và dữ liệu camera tại vị trí lò nem Cô H3 tại ấp V, xã V, huyện L, tỉnh Đồng Tháp được lưu vào 01 đĩa DVD đã niêm phong ghi lại hình ảnh liên quan đến diễn biến vụ việc làm căn cứ giải quyết vụ án. (Bút lục 48-50)

Cơ quan điều tra tạm giữ và trao trả: Cho Nguyễn Đại M: 01 điện thoại di động hiệu Oppo A16K, màu xanh, kiểu máy CPH2349, bên trong có gắn thẻ sim mang số thuê bao 0763941750, đã qua sử dụng không sử dụng vào việc phạm tội; trả cho anh Trần Văn T 01 xe mô tô nhãn hiệu WANDA, loại 100S, màu xanh, số khung VDCWCG055UM802489, số máy VHHJL150FMG80002489. (Bút lục 74-79)

Người bị hại anh Trần Văn T đã nhận lại tài sản và yêu cầu bồi thường chi phí làm lại biển số xe là 600.000 đồng; anh Tăng Văn T1 yêu cầu các bị cáo hoàn trả lại tiền mua xe 1.300.000 đồng. Các bị cáo Nguyễn Thanh Đ, Nguyễn Đại M và Phan Gia H2 đã bồi thường anh T nhận 600.000 đồng và hoàn trả anh T1 nhận 1.300.000 đồng xong. (Bút lục 84-87, 97, 103-104)

Theo lời khai của các bị cáo, thì Nguyễn Anh Đ1 biết rõ xe mô tô có được do phạm tội mà có nhưng vẫn cùng các bị cáo tiêu thụ tài sản. Tuy nhiên qua xác minh Đ1 không có mặt tại địa phương và tính đến thời điểm thực hiện hành vi tiêu thụ tài sản thì Đ1 chưa đủ tuổi nên không không truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. (Bút lục 91-92)

Đối với bà Trần Thị Kim L2 và anh Tăng Văn T1 có hành vi mua bán xe mô tô biển số 66H5-3045, nhưng không biết rỏ tài sản do phạm tội mà có nên không xem xét xử lý. (Bút lục 88-90, 95)

Tại bản Cáo trạng số: 05/CT-VKSLVo, ngày 13 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp, quyết định truy tố các bị cáo Nguyễn Thanh Đ, Nguyễn Đại M và Phan Gia H2 ra Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp để xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

  • - Kiểm sát viên giữ nguyên Cáo trạng số: 05/CT-VKSLVo ngày 13 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp đã truy tố đối với các bị cáo Nguyễn Thanh Đ, Nguyễn Đại M và Phan Gia H2, khẳng định việc truy tố trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
  • Trên cơ sở phân tích tính chất nguy hiểm do hành vi của các bị cáo gây ra, nguyên nhân, điều kiện dẫn đến tội phạm, nhân thân của bị cáo, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên các bị cáo Nguyễn Thanh Đ, Nguyễn Đại M và Phan Gia H2 phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự;
  • + Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh Đ hình phạt từ 12 tháng đến 18 tháng tù.
  • + Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm b, i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Đại M hình phạt từ 09 (chín) tháng đến 12 (mười hai) tháng tù.
  • + Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm b, i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 91, Điều 101 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Phan Gia H2 hình phạt từ 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù.
  • Do các bị cáo không có nghề nghiệp, không có tài sản, thu nhập nên không xem xét áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
  • Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.
  • Về xử lý vật chứng: Đã xử lý xong.
  • Đề nghị Toà án nhân dân huyện Lấp Vò lưu theo hồ sơ vụ án làm căn cứ xét xử gồm:
    • - Dữ liệu camera tại ấp T, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Tháp được lưu vào 01 đĩa DVD đã niêm phong theo biên bản lập ngày 14/6/2024; Dữ liệu camera tại vị trí lò nem Cô H3 tại ấp V, xã V, huyện L, tỉnh Đồng Tháp được lưu vào 01 đĩa DVD đã niêm phong theo biên bản lập ngày 14/6/2024.
    • - 03 đĩa DVD ghi âm, ghi hình hỏi cung các bị can Nguyễn Thanh Đ, Nguyễn Đại M và Phan Gia H2.
  • - Tại phiên tòa các bị cáo đồng ý xét xử vắng mặt đối với các bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng, đồng thời thừa nhận toàn bộ hành vi của các bị cáo đúng như nội dung cáo trạng, nội dung vụ án như đã nêu trên, tại phần tranh luận các bị cáo không phát biểu tranh luận với Kiểm sát viên, lời nói sau cùng các bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
  • - Bà Nguyễn Thị L1 đại diện hợp pháp của bị cáo trình bày: Quá trình điều tra, truy tố cơ quan tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự nên bà L1 không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Hoàn cảnh gia đình hiện nay khó khăn, chỉ vì ham chơi nên đã dẫn bị cáo vào con đường phạm tội, việc bị cáo phạm tội cũng có lỗi một phần của cha, mẹ không quan tâm dạy dỗ chu đáo, bà L1 đề nghị hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh của bị cáo cho bị cáo mức án thấp nhất.
  • - Người bào chữa cho bị cáo Phan Gia H2 là ông Hà Văn N trình bày: Thống nhất theo Bản cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Lấp Vò đã truy tố đối với bị cáo Phan Gia H2 là đúng người đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Đồng ý các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ theo bản luận tội của Kiểm sát viên. Tuy nhiên, đề nghị Hội đồng xét xử cân nhắc xem xét thêm các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo như: Bị cáo có nhân thân tốt, tài sản bị cáo lấy đã thu hồi trả lại cho bị hại xong, các bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm và có yêu cầu xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Hoàn cảnh gia đình của bị cáo H2 cha mẹ ly thân, bị cáo phải nghỉ học sớm, không có sự giáo dục tốt nên đã bị bạn bè rủ rê, xúi dục mới phạm tội. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ để áp dụng Điều 54 của Bộ luật hình sự xử dưới khung hình phạt hoặc bằng với mức khởi điểm theo đề nghị của Kiểm sát viên.
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Thanh H trình bày: Ông H không liên quan đến vụ án nên không có yêu cầu gì trong vụ án này.
  • - Bị hại anh Trần Văn T, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Tăng Văn T1, Nguyễn Anh Đ1, đại diện hợp pháp cho anh Đ1 là ông Nguyễn Hữu Đ2, bà Trần Thị Kim L2 và người làm chứng vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L và Điều tra viên trong quá trình điều tra; Của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lấp Vò và Kiểm sát viên trong quá trình truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố bị cáo, các bị hại, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đều không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên toà, bị hại là anh Trần Văn T, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Tăng Văn T1, anh Nguyễn Anh Đ1, anh Nguyễn Hữu Đ2 và chị Trần Thị Kim L2 đại diện hợp pháp cho anh Đ1 và người làm chứng đều vắng mặt. Tuy nhiên, việc vắng mặt của những người này không trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ Điều 292, Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[3] Về hành vi của bị cáo:

[3.1] Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Thanh Đ, Nguyễn Đại M và Phan Gia H2 thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của các bị cáo đúng như nội dung cáo trạng và nội dung vụ án đã nêu trên. Lời thừa nhận tội của các bị cáo Đ, M và H2 phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, cùng các chứng cứ khác do Cơ quan điều tra thu thập được có trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở kết luận: Vào 14 giờ 15 phút ngày 14/6/2024 tại ấp T, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Tháp, các bị cáo Nguyễn Thanh Đ, Nguyễn Đại M, Phan Gia H2 đã lợi dụng sự sơ hở trong quản lý tài sản của anh Trần Văn T đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 xe mô tô biển số 66H5-3045 trị giá là 3.500.000 đồng để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân.

Do đó, Cáo trạng số: 05/CT-VKSLVo ngày 13 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp truy tố các bị cáo Nguyễn Thanh Đ, Nguyễn Đại M và Phan Gia H2 về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự quy định:

1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

  • Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;
  • Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
  • Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
  • Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại.”

[3.1] Đây là vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn, trong đó Nguyễn Thanh Đ là người rủ rê, khởi xướng và trực tiếp thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản, là người có vai trò chính; các bị cáo Nguyễn Đại M, Phan Gia H2 canh giới giữ vai trò đồng phạm là người giúp sức tích cực. Xét về nhân thân, hành vi, động cơ, tính chất, mức độ và hậu quả trong việc phạm tội của từng bị cáo có khác nhau cho nên cần xem xét đối với từng bị cáo.

[3.2] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm quyền sở hữu về tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an xã hội, các bị cáo biết rõ hành vi của mình là trái pháp luật nhưng vì muốn kiếm tiền một cách bất chính nên đã cố tình lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác. Vì vậy, cần xử phạt các bị cáo một mức án tù có thời hạn tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của các bị cáo nhằm giáo dục các bị cáo cải tạo bản thân tiến bộ là cần thiết.

[4]. Về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thì thấy rằng:

[4.1] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Đối với bị cáo Nguyễn Thanh Đ có hành vi rủ rê xúi giục bị cáo Phan Gia H2 là người dưới 18 tuổi thực hiện hành vi phạm tội nên bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Bị cáo Nguyễn Đại M và bị cáo Phan Gia H2 không có tình tiết tăng nặng.

[4.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét thấy các bị cáo đã bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo M và bị cáo H2 phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Các bị cáo được bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt. Do đó, bị cáo Đ được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, Bị cáo M và bị cáo H2 được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, i, s, khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Phan Gia H2 còn được áp dụng khoản 1 Điều 91 Bộ luật hình sự khi lượng hình. Vì vậy, Hội đồng xét xử sẽ xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo khi quyết định hình phạt.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật hình sự, thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Tuy nhiên, do các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản, thu nhập nên không xem xét áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

[6] Bị cáo Phan Gia H2 hiện đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở điều trị nghiện tỉnh Đồng Tháp theo Quyết định số 37/2024/QĐ-TA ngày 27 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò thời hạn là 06 tháng kể từ ngày 21/10/2024 đối với bị cáo Phan Gia H2. Xét thấy, bị cáo bị áp dụng hình phạt tù nên khi bị cáo chấp hành hình phạt tù thì bị cáo H2 được miễn chấp hành phần thời gian còn lại trong quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính nêu trên theo quy định tại Điều 117 Luật xử lý vi phạm hành chính.

[7] Về xử lý vật chứng: Đã xử lý xong.

Đối với đữ liệu camera tại ấp T, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Tháp được lưu vào 01 đĩa DVD đã niêm phong theo biên bản lập ngày 14/6/2024; Dữ liệu camera tại vị trí lò nem Cô H3 tại ấp V, xã V, huyện L, tỉnh Đồng Tháp được lưu vào 01 đĩa DVD đã niêm phong theo biên bản lập ngày 14/6/2024. 03 đĩa DVD ghi âm, ghi hình hỏi cung các bị can Nguyễn Thanh Đ, Nguyễn Đại M và Phan Gia H2 sẽ được lưu vào hồ sơ vụ án.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại cùng những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án không yêu cầu gì thêm nên không xem xét giải quyết.

[9] Về án phí: Các bị cáo bị kết tội và các bị cáo không thuộc trường hợp không phải chịu án phí theo quy định tại Điều 11 và đều không thuộc trường hợp miễn nộp án phí theo quy định tại Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Do đó các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

[10] Về quyền kháng cáo: các bị cáo, bị hại, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án này theo quy định tại các Điều 331, Điều 332 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thanh Đ, bị cáo Nguyễn Đại M và bị cáo Phan Gia H2 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

  • - Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; Điều 56, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015 đối với bị cáo Nguyễn Thanh Đ.
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 đối với bị cáo Nguyễn Đại M.
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 91 và Điều 101 của Bộ luật hình sự năm 2015 đối với bị cáo Phan Gia H2.
  • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh Đ 01 (một) năm tù. Tổng hợp với hình phạt 01 (một) năm tù tại bản án hình sự sơ thẩm số 28/2024/HS-ST ngày 01/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/6/2024.
  • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Đại M 09 (chín) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt tù.
  • - Xử phạt bị cáo Phan Gia H2 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt tù.

2. Áp dụng Điều 117 Luật xử lý vi phạm hành chính:

Miễn hết thời gian chấp hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính còn lại tại Cơ sở điều trị nghiện tỉnh Đồng Tháp (nay là Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Đồng Tháp) đối với bị cáo Phan Gia H2 theo Quyết định số 37/2024/QĐ-TA ngày 27/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò.

3. Về xử lý vật chứng: Lưu vào hồ sơ vụ án dữ liệu camera tại ấp T, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Tháp được lưu vào 01 đĩa DVD đã niêm phong theo biên bản lập ngày 14/6/2024; Dữ liệu camera tại vị trí lò nem Cô H3 tại ấp V, xã V, huyện L, tỉnh Đồng Tháp được lưu vào 01 đĩa DVD đã niêm phong theo biên bản lập ngày 14/6/2024. 03 đĩa DVD ghi âm, ghi hình hỏi cung các bị can Nguyễn Thanh Đ, Nguyễn Đại M và Phan Gia H2.

4. Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét giải quyết.

5. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Buộc bị cáo Nguyễn Thanh Đ, Nguyễn Đại M và bị cáo Phan Gia H2 mỗi bị cáo phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331; Điều 332, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

6.1. Bị cáo Nguyễn Thanh Đ, Nguyễn Đại M và bị cáo Phan Gia H2 có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

6.2. Bị hại và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án này hoặc kể từ ngày bản án này được niêm yết theo quy định tại Điều 140 của Bộ luật tố tụng hình sự.

7. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Tháp;
  • - VKSND tỉnh Đồng Tháp;
  • - Sở Tư pháp Đồng Tháp;
  • - VKSND huyện Lấp Vò;
  • - Cơ quan Cảnh sát Thi hành án hình sự
  • và hỗ trợ tư pháp Công an tỉnh Đồng Tháp.
  • - Phòng Cảnh sát Thi hành án hình sự và
  • hỗ trợ tư pháp (PC10)_Công an tỉnh Đồng Tháp.
  • - Phân trại tạm giam khu vực huyện Lấp Vò;
  • - Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Đồng Tháp;
  • - CC THADS huyện Lấp Vò;
  • - Bị cáo, các bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Người bào chữa.
  • - Lưu: HSVA, VPTA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Văn Nội

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 18/2025/HS-ST ngày 11/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẤP VÒ, TỈNH ĐỒNG THÁP về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 18/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẤP VÒ, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: TUYÊN BỐ CÁC BỊ CÁO PHẠM TỘI
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger