|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - LAI CHÂU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 18/2025/HS-ST Ngày 10-12-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - LAI CHÂU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương
Các hội thẩm nhân dân: Ông Lò Việt Hưng; Ông Lò Văn lâm
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Thế - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 - Lai Châu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Lai Châu tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Kiến Thắng - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 - Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 05/2025/TLST - HS ngày 22 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2025/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Thào A P, sinh ngày 01/01/1970 tại xã Pắc Ta, tỉnh Lai Châu. Nơi cư trú: Bản Thào, xã Pắc Ta tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 2/12; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Thào A Thính (đã chết) và bà Phàng Thị Mai, sinh năm: 1937. Bị cáo có vợ Vàng Thị Mo, sinh năm 1972 (hiện đang chấp hành hình phạt tù), và có 03 con, con lớn nhất sinh năm: 2002, con nhỏ nhất sinh năm: 2020.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 14/7/2025, đến ngày 17/7/2025 bị tạm giam tại Phân trại tạm giam Tân Uyên thuộc trại tạm giam Công an tỉnh Lai Châu cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Xuân Oánh - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Lai Châu (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Theo Thào A P khai nhận: Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 14/7/2025, Thào A P đi bộ từ nhà P tại bản Thào, xã Pắc Ta, tỉnh Lai Châu đến bản Tà Hử, xã Pắc Ta, tỉnh Lai Châu, mục đích tìm mua Heroine để sử dụng. Khi Thào A P đi đến bản Tà Hử, xã Pắc Ta khoảng 12 giờ 50 phút cùng ngày. Tại đường liên bản
thuộc bản Tà Hử, xã Pắc Ta, tỉnh Lai Châu, Thào A P gặp một người phụ nữ không rõ nhân thân, lai lịch. Qua trao đổi, Thào A P đã mua của người phụ nữ đó 03 gói Heroine với số tiền là 50.000 đồng (bên ngoài mỗi gói được gói bằng nilon màu hồng và được gói chung lại bằng mảnh nilon màu hồng). Mua được Heroine, Thào A P cất giấu vào trong túi quần bên phải sau đó đi bộ về nhà.
Đến hồi 13 giờ 00 phút cùng ngày, khi Thào A P đang đi bộ trong bản Tà Hử, xã Pắc Ta, tỉnh Lai Châu thì bị lực lượng Công an xã Pắc Ta phát hiện, bắt quả tang. Vật chứng thu giữ tại túi quần bên phải của Thào A P 01 gói (bên ngoài được gói bằng 01 mảnh nilon màu hồng, bên trong chứa 03 gói chất bột màu trắng, bên ngoài mỗi gói được gói bằng nilon màu hồng). Thào A P khai nhận là Heroine.
Tại kết luận giám định số 568/KL - KTHS ngày 16/7/2025 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu kết luận: Số chất bột màu trắng thu giữ của Thào A P có tổng khối lượng 0,43 gam; 03 mẫu chất bột màu trắng gửi giám định là ma túy, loại: Heroine (Heroin).
Vật chứng của vụ án gồm: 0,43 gam Heroine thu giữ khi bắt quả tang Thào A P đã gửi giám định toàn bộ, không hoàn lại mẫu vật. Vật chứng còn lại: 04 mảnh nilon màu hồng và 01 phong bì niêm phong vật chứng ban đầu, hiện đang được bảo quản theo quy định.
Bản Cáo trạng số: 06/CT-VKSKV2 ngày 21/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Lai Châu đã truy tố bị cáo Thào A P về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh cũng như điều luật áp dụng. Sau khi xem xét đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025); điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Đề nghị xử phạt bị cáo Thào A P từ 03 năm 02 tháng đến 03 năm 08 tháng tù, miễn hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) đối với bị cáo.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định của pháp luật.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu 01 phong huỷ 04 mảnh nilon màu hồng và 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu.
Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Bị cáo đồng
ý với bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát và không có tranh luận gì.
Người bào chữa cho bị cáo: Bị cáo chưa có tiền án tiền sự, thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội, là người dân tộc thiểu số nên nhận thức có phần hạn chế, gia đình bị cáo khó khăn. Đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự thành khẩn của bị cáo, và căn cứ điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025); điểm s khoản 1, 2 điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xem xét mức hình phạt thấp nhất của khung hình phạt đối với bị cáo và miễn hình phạt bổ sung và miễn án phí cho bị cáo.
Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Lai Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Lai Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Thào A P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ cơ sở để kết luận:
Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 14/7/2025, tại bản Tà Hử, xã Pắc Ta, tỉnh Lai Châu, Thào A P đã mua trái phép 03 gói Heroine với số tiền 50.000 đồng từ 01 người phụ nữ không rõ lai lịch, mục đích để sử dụng. Đến hồi 13 giờ 00 phút cùng ngày, tại bản Tà Hử, xã Pắc Ta, tỉnh Lai Châu, Thào A P bị lực lượng Công an xã Pắc Ta phát hiện, bắt quả tang, thu giữ 03 gói Heroine có tổng khối lượng 0,43 gam. Hành vi của bị cáo Thào A P đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025). Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Lai Châu truy tố bị cáo về tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) là có căn cứ đúng quy định của pháp luật. Vì vậy, quan điểm về tội danh, mức hình phạt đối với bị cáo của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có cơ sở, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, xâm phạm quy định quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, tuy nhiên vì muốn có ma túy để sử dụng nên bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do đó Hội đồng xét xử cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra.
[4] Tại phiên tòa người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025); Điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét mức hình phạt thấp nhất của khung hình phạt đối với bị cáo và miễn án phí, miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. Hội đồng xét xử (HĐXX) sẽ xem xét chấp nhận một phần đề nghị của người bào chữa để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo theo quy định của pháp luật.
[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm Hình sự.
[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo là người dân tộc thiểu số nên nhận thức pháp luật có phần hạn chế. Vì vậy Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[7] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy hoàn cảnh kinh tế gia đình bị cáo khó khăn, bị cáo làm nông nghiệp, không có thu nhập ổn định nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
[8] Về xử lý vật chứng: Đối với 0,43 gam Heroin đã gửi giám định không hoàn lại mẫu vật nên HĐXX không xem xét giải quyết. 04 mảnh nilon màu hồng và 01 phong bì niêm phong vật chứng ban đầu cần tịch thu tiêu hủy.
[9] Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở khu vực thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số theo Quyết định số: 612/QĐ-UBDT ngày 16/9/2021 của Ủy ban dân tộc về phê duyệt thôn đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2025, tại phiên tòa bị cáo đã đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm, nên Hội đồng xét xử chấp nhận miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[11] Các vấn đề khác: Về nguồn gốc Heroine, bị cáo Thào A P khai mua của một người phụ nữ dân tộc Mông không rõ lai lịch nên không có căn cứ để điều tra, xử lý.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025); Điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; Điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Điểm a, c khoản 2 Điều 106; Điều 135; Điều 136; Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQHQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Thào A P phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Thào A P 03 (ba) năm 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 14/7/2025.
- Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì bên trong đựng 04 mảnh nilon màu hồng và 01 phong bì niêm phong vật chứng ban đầu.
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/11/2025 giữa Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Lai Châu với Phòng thi hành án dân sự khu vực 2 - Lai Châu).
- Về án phí: Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án lên Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Phương |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Phương |
Bản án số 18/2025/HS-ST ngày 10/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - LAI CHÂU về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 18/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - LAI CHÂU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
