|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số:18/2025/HS-ST Ngày 10 - 3 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Thế Tương
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thêu
Bà Hoàng Thị Len
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Ngoan - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Hà Vĩnh Châm - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 80/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 12 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2025/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
1. Ngô Thị Hồng V, sinh ngày 17/6/1975 tại huyện T, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Thôn D, xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Bố đẻ: Ngô Trí H (đã chết); Mẹ đẻ: Phạm Thị X (đã chết); Vợ là Lại Thế T, sinh năm 1968; có 02 con, con lớn sinh năm 2000, con nhỏ sinh năm 2015.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
2. Bị hại: The North Face Apparel Corp.
Địa chỉ: C S, BH, W, DE A, Hoa Kỳ.
- Đại diện Công ty: Ông Christoper M. Turk – chức vụ Phó chủ tịch.
Đại diện theo ủy quyền: Công ty L3
Địa chỉ: P, I, số B đường X, phường D, quận C, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Mạnh H1 – chức vụ Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Phạm Thị D và ông Vũ Hoàng H2 - Luật sư của công ty L3.
3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Vương Thị H3, sinh năm 1990; Nơi cư trú: Số nhà B, phố T, phường H, quận H, thành phố Hà Nội.
4. Người làm chứng: Chị Bùi Thị H4, sinh năm 1993; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã B, huyện K, tỉnh Thái Bình; Anh Phạm Lê H5, sinh năm 1984; Nơi cư trú: Việt Nam H, xã B, huyện K, tỉnh Thái Bình; Chị Roãn Thị S, sinh năm 1988; Nơi cư trú: Xã Q, huyện K, tỉnh Thái Bình; Anh Bùi Đại D1, sinh năm 1991; Nơi cư trú: Thôn D, xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình; Chị Vũ Thị Hồng C, sinh năm 1995; Nơi cư trú: Thôn T, xã P, thành phố T, tỉnh Thái Bình; Bà Phạm Thị T1, sinh năm 1975; Nơi cư trú: Thôn L, xã Q, huyện K, tỉnh Thái Bình; Anh Phạm Văn H6, sinh năm 1984; Nơi cư trú: Khu Đ, thị trấn K, huyện K, tỉnh Thái Bình; Chị Nguyễn Thị H7, sinh năm 1987; Nơi cư trú: Thôn C, xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình; Anh Phạm Văn T2, sinh năm 1985; Nơi cư trú: Thôn E, xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình; Chị Vũ Thị X1, sinh năm 1984; Nơi cư trú: Thôn G, xã B, huyện K, tỉnh Thái Bình; Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1976; Nơi cư trú: Thôn C, xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình; Anh Mai Xuân H8, sinh năm 1987; Nơi cư trú: Thôn N, xã H, huyện K, tỉnh Thái Bình; Chị Đoàn Thị H9, sinh năm 1980; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã N, huyện K, tỉnh Thái Bình; Chị Vũ Thị Q, sinh năm 1991; Nơi cư trú: Thôn H, xã B, huyện K, tỉnh Thái Bình; Bà Phạm Thị Thu L1, sinh năm 1975; Nơi cư trú: Tổ dân phố C, thị trấn K, tỉnh Thái Bình.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Công ty trách nhiệm hữu hạn M1 (viết tắt là Công ty M1), địa chỉ trụ sở chính tại gia đình bà V, ở thôn D, xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình. Mã số doanh nghiệp A, đăng ký lần đầu ngày 14/5/2018, đăng ký thay đổi lần thứ hai ngày 23/11/2023, nơi cấp: Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh T. Chủ sở hữu, Giám đốc Công ty là Ngô Thị Hồng V, sinh ngày 17/6/1976, trú tại thôn D, xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình. Ngành nghề kinh doanh của Công ty: May gia công các mặt hàng quần áo.
Tháng 10/2022, do Công ty chưa có đơn hàng mới, nguyên liệu của đơn hàng cũ chưa kịp về, sợ công nhân nghỉ việc và để tăng uy tín của công ty nên V nảy sinh ý định sản xuất quần áo ngoài hợp đồng để xuất bán ra ngoài thị trường. Khi V đi khảo sát thị trường thấy nhu cầu tiêu thụ quần áo nhãn hiệu THE NORTH FACE cao hơn so với sản phẩm nhãn hiệu khác, giá cả lại phù hợp, dễ tiêu thụ nên nảy sinh ý định sản xuất, kinh doanh quần áo giả mạo nhãn hiệu THE NORTH FACE để bán thu lợi nhuận. Các nguyên phụ liệu như vải, tem, mác... được V mua tại các cửa hàng ở chợ R, tỉnh Nam Định và chỉ đạo anh Bùi Đại D1, sinh năm 1991, trú tại thôn D, xã V, K là lái xe công ty mua một số phụ kiện như chỉ, khóa, chun... tại các cửa hàng ở chợ B, thành phố T, không có hóa đơn, chứng từ chứng minh nguồn gốc, xuất xứ mang về tập kết tại xưởng may của Công ty M1 thuộc thôn D, xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình để cho các công nhân sản xuất quần, áo giả mạo nhãn hiệu THE NORTH FACE.
Sau khi mua đủ nguyên liệu, V sử dụng máy tính tự thiết kế mẫu quần áo rồi chuyển qua Zalo cho chị Trần Thị L2, sinh năm 1994, trú ở thôn Đ, xã B, K, Thái Bình là nhân viên sơ đồ của Công ty lên bản vẽ để Bộ phận cắt và tính toán số lượng vải cần dùng để thực hiện công đoạn may. Còn nhãn mác THE NORTH FACE và hình, V lấy trên mạng internet về rồi thuê cơ sở thêu của chị Vũ Thị Hồng C, sinh năm 1995, trú ở thôn T, xã P, thành phố T để thực hiện thêu nhãn hiệu và hình lên phần ngực áo. Anh Phạm Văn H6, sinh năm 1984, trú ở khu Đ, thị trấn K, K là Tổ trưởng chỉ đạo công nhân trong Bộ phận cắt thực hiện cắt vải theo bản vẽ do chị Trần Thị L2 chuyển đến. Chị Mai Xuân H8, sinh năm 1987, trú ở thôn N, xã H, K tiến hành đánh số và phân loại mảnh vải để mang đi cho chị Vũ Thị Hồng C để thêu nhãn hiệu THE NORTH FACE và hình rồi sau đó chuyển toàn bộ số vải đã cắt, đã thêu trên đến Bộ phận may để may thành phẩm. Chị Đoàn Thị H9, sinh năm 1980, trú ở: thôn Đ, N, K (Tổ trưởng chuyền 1) và chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1976, trú ở thôn C, xã V, K (Tổ trưởng chuyền 2) cùng các công nhân của 2 chuyền thực hiện may thành phẩm quần, áo gắn nhãn hiệu giả mạo “THE NORTH FACE và hình”. Chị Phạm Thị Thu L1, sinh năm 1975, trú ở số nhà C tổ dân phố C, thị trấn K, huyện K thực hiện kiểm tra các sản phẩm sau khi đã may hoàn thiện. Chị Roãn Thị S, sinh năm 1988, trú ở thôn L, xã Q, K và anh Phạm Lê H5, sinh năm 1984, trú ở thôn Việt Nam H, xã B, K tiến hành gắn thẻ in nhãn hiệu giả mạo THE NORTH FACE vào khóa kéo áo và con đỉa đầu tiên bên trái quần sau đó đóng gói, dán size sản phẩm, đóng bao. Anh Bùi Đại D1, sinh năm 1991, trú ở thôn D, xã V, K là lái xe Công ty vận chuyển về kho hàng ở thôn Đ, xã H, huyện K. Khi có khách hàng mua anh Bùi Đại D1 vận chuyển đến nhà X ở đường L, phường K, thành phố T để chuyển đến địa chỉ của khách hàng. Mỗi sản phẩm quần, áo gắn nhãn hiệu giả mạo THE NORTH FACE, V bán, quần nối gối khoảng 60.000 đồng/chiếc, áo khoác bán khoảng 160.000 đồng/chiếc.
Tháng 10/2022, V chỉ đạo công nhân sản xuất áo khoác 3 lớp gắn nhãn hiệu giả mạo “THE NORTH FACE và hình” rồi liên hệ bán cho chị Vương Thị H3, sinh năm 1990, trú ở B T, phường H, quận H, Hà Nội thống nhất bán 160.000 đồng/chiếc áo, 60.000 đồng/chiếc quần. Ngày 21/12/2024 và ngày 27/12/2024, chị H3 chuyển tiền từ tài khoản số 03601010988167 của chị H3 mở tại Ngân hàng H10, chi nhánh H11 đến tài khoản số 0211000222841 của V mở tại Ngân hàng N, chi nhánh T3 2 lần với tổng số 43.315.000 đồng (lần 1: 13.315.000 đồng, lần 2: 30.000.000 đồng) để mua 270 chiếc áo gắn nhãn hiệu giả mạo THE NORTH FACE, đến nay chỉ H3 đã bán hết số hàng trên.
Ngày 20/9/2024 và ngày 21/9/2024, Đội Quản lý thị trường số E Cục Quản lý thị trường tỉnh T phối hợp với Phòng Cảnh sát kinh tế Công an tỉnh T tiến hành kiểm tra tại xưởng may Công ty M1 tại thôn N, xã H, huyện K, tỉnh Thái Bình và tại kho hàng của Công ty M1 tại thôn Đ, xã H, huyện K, thu giữ:
Tại xưởng may thu 810 chiếc áo khoác mang dấu hiệu giả “THE NORTH FACE và hình”; 639 tem rời bằng bìa giấy và 2,2kg dây đeo tai kéo khóa màu đen mang dấu hiệu “THE NORTH FACE và hình”; Tại kho hàng thu 420 chiếc áo khoác mang dấu hiệu giả “THE NORTH FACE và hình”; 950 chiếc quần nối gối mang dấu hiệu giả mạo “THE NORTH FACE và hình”;
Tổng trị giá tài sản các sản phẩm Ngô Thị V may, gắn nhãn hiệu giả mạo “THE NORTH FACE đã bán và đã sản xuất trị giá 667.250.000 đồng.
Kết luận giám định số: NH 628-24TC/KLGĐ ngày 01/10/2024 của V1 trí tuệ - Bộ K kết luận:
- + Sản phẩm áo khoác gắn dấu hiệu “THE NORTH FACE và hình là hàng hóa giả mạo đối với nhãn hiệu được bảo hộ cho sản phẩm quần áo thuộc nhóm 25 theo GCNĐKNH số 212927 của THE NORTH FACE APPAREL CORP. (theo Điều 213.2 Luật Sở hữu trí tuệ);
- + Sản phẩm quần nối ống gắn dấu hiệu “THE NORTH FACE và hình” là hàng hóa giả mạo đối với nhãn hiệu được bảo hộ cho sản phẩm quần áo thuộc nhóm 25 theo GCNĐKNH số 212927 của THE NORTH FACE APPAREL CORP. (theo Điều 213.2 Luật sở hữu trí tuệ)”.
Cáo trạng số 01/CT-VKSTB ngày 24/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh thái Bình truy tố Ngô Thị Hồng V về tội “Xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 226 Bộ luật Hình sự.
Đại diện theo ủy quyền của bị hại Công ty L3 đề nghị Hội đồng xét xử hình phạt đối với bị cáo theo quy định của pháp luật. Về trách nhiệm dân sự: Đại diện bị hại công ty T4 yêu cầu bị cáo Ngô Thị Hồng V bồi thường 824.200.000 đồng gồm chi phí luật sư, tiền tổn thất cơ hội kinh doanh và tổn thất về uy tín, danh tiếng. Quá trình điều tra, truy tố bị cáo Ngô Thị Hồng V đã tự nguyện nộp 43.135.000 đồng là tiền bán quần áo gắn nhãn mác giả mạo nhãn hiệu “THE NORTH FACE” và 200.000.000₫ là khoản bồi thường tổn thất về uy tín, danh tiếng cho Công ty, phía bị hại đã nhận đủ số tiền bồi thường không yêu cầu bồi thường thêm khoản nào khác.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình luận tội, giữ nguyên truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Ngô Thị Hồng V phạm tội “Xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp”.
- - Về hình phạt: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 226; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35, Điều 50 Bộ luật Hình sự: đề nghị tuyên phạt bị cáo Ngô Thị Hồng V từ đến 500.000.000₫ đến 600.000.000đ. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- - Về trách nhiệm dân sự: Công ty L3 được Công ty T5 uỷ quyền yêu cầu bị cáo V bồi thường 824.200.000 đồng gồm chi phí luật sư, tiền tổn thất cơ hội kinh doanh và tổn thất về uy tín, danh tiếng. Quá trình điều tra bị cáo Ngô Thị Hồng V đã tự nguyện nộp 43.135.000 đồng là tiền bán quần áo gắn nhãn mác giả mạo nhãn hiệu “THE NORTH FACE”, ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận bồi thường thiệt hại tổn thất về uy tín, danh tiếng cho Công ty của bị cáo và phía bị hại số tiền 200.000.000₫.
- - Về vật chứng, tài sản tạm giữ: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự đề nghị: Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 43.135.000 đồng là tiền thu lời bất chính bị cáo đã tự nguyện nộp khắc phục; Tịch thu tiêu hủy: 1.230 chiếc áo khoác 3 lớp có dấu hiệu “THE NORTH FACE và hình”; 950 chiếc quần nối gối có dấu hiệu “THE NORTH FACE và hình”; 639 tem rời bằng bìa giấy và 2,2kg dây đeo tai kéo khóa màu đen mang dấu hiệu “THE NORTH FACE và hình”; Tịch thu hóa giá nộp vào ngân sách nhà nước 08 máy khâu, 01 máy cắt và 01 máy chuyên dùng.
Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình còn đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết các vấn đề khác có liên quan, tuyên quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không tranh luận.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất hối hận về hành vi của mình, đây là lần đầu bị cáo vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử khoan hồng cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất để bị cáo tự cải tạo, phấn đấu trở thành công dân có ích cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về quyết định tố tụng, hành vi tố tụng: Quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T, Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Về chứng cứ buộc tội đối với bị cáo: Xét thấy, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nhau và phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ cơ quan điều tra đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, gồm:
- Đơn đề nghị ngày 19/9/2024, Công ty Luật trách nhiệm hữu hạn Quốc tế BMVN số BMVN/19092024/01 về việc đề nghị giám sát thị trường và kiểm tra, xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu “THE NORTH FACE và tài liệu kèm theo (bút lục từ số 35 đến số D).
- Quyết định số 26050001/QĐ-CHS ngày 30/9/2024 của Cục quản lý thị trường tỉnh T chuyển toàn bộ hồ sơ, tang vật liên quan đến vụ việc có dấu hiệu xâm phạm sở hữu Công nghiệp đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh T (bút lục số 137, 138).
-
Kết luận giám định số: NH 628-24TC/KLGĐ ngày 01/10/2024 của V1 trí tuệ - Bộ K kết luận:
- + Sản phẩm áo khoác gắn dấu hiệu “THE NORTH FACE và hình là hàng hóa giả mạo đối với nhãn hiệu được bảo hộ cho sản phẩm quần áo thuộc nhóm 25 theo GCNĐKNH số 212927 của THE NORTH FACE APPAREL CORP. (theo Điều 213.2 Luật Sở hữu trí tuệ);
- + Sản phẩm quần nối ống gắn dấu hiệu “THE NORTH FACE và hình” là hàng hóa giả mạo đối với nhãn hiệu được bảo hộ cho sản phẩm quần áo thuộc nhóm 25 theo GCNĐKNH số 212927 của THE NORTH FACE APPAREL CORP. (theo Điều 213.2 Luật sở hữu trí tuệ)”. (bút lục số 139 đến số A).
- Kết luận định giá tài sản số 23/KL-HĐĐG ngày 08/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân huyện K, kết luận: Trị giá 1.230 chiếc áo khoác 3 lớp còn mới chưa qua sử dụng tại thời điểm tháng 9/2024 là 387.450.000 đồng, giá trị của 950 chiếc quần nối gối còn mới chưa qua sử dụng tại thời điểm tháng 9/2024 là 194.750.000 đồng. Tổng giá trị của các hàng hóa nêu trên là 582.200.000 đồng (bút lục số 191, 192);
- Kết luận định giá tài sản số 26/KL-HĐĐG ngày 03/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân huyện K, kết luận: “270 chiếc áo khoác 3 lớp còn mới chưa sửa dụng thời điểm năm 2022 là 85.050.000 đồng” (bút lục số 196, 197);
- Công văn số BMVN/24092024/10 ngày 24/9/2024 của Công ty L3: Công ty trách nhiệm hữu hạn M1 không phải cơ sở được The North Face ủy quyền/cho phép sử dụng nhãn hiệu của công ty tại Việt Nam (bút lục số 200);
- Công văn số BMVN/22112024/10 ngày 22/11/2024 của Công ty L3: Sau khi xem xét sản phẩm bị tạm giữ, bao gồm so sánh về kiểu dáng, mẫu mã, tag giấy, nhãn chăm sóc sản phẩm chúng tôi nhận thấy không có sản phẩm chính hãng có đặc điểm trùng với sản phẩm bị tạm giữ (bút lục số 243);
- Các Biên bản tạm giữ, niêm phong tang vật, phương tiện bị tam giữ số 26050002 và 26050003 ngày 20/9/2024; số 26050003 và 26050004 ngày 21/9/2024 của Cục quản lý thị trường tỉnh T (bút lục từ số 56 đến số 61; từ số G đến số H);
- Lời khai của những người làm chứng chị Bùi Thị H4, sinh năm 1993, trú thôn Đ, xã B, huyện K, tỉnh Thái Bình; anh Phạm Lê H5, sinh năm 1984, trú thôn Việt Nam H, xã B, huyện K, tỉnh Thái Bình; chị Roãn Thị S, sinh năm 1988, trú xã Q, huyện K, tỉnh Thái Bình; anh Bùi Đại D1, sinh năm 1991, nơi cư trú thôn D, xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình (bút lục từ số 1067 đến số 1086); chị Vũ Thị Hồng C, sinh năm 1995, trú thôn T, xã P, thành phố T, tỉnh Thái Bình (bút lục số 1087, 1088); bà Phạm Thị T1, sinh năm 1975, nơi cư trú thôn L, xã Q, huyện K, tỉnh Thái Bình (bút lục số 1097, 1098); anh Phạm Văn H6, sinh năm 1984, trú khu Đ, thị trấn K, huyện K, tỉnh Thái Bình (bút lục từ số 1099 đến số 1103); chị Nguyễn Thị H7, sinh năm 1987, trú thôn C, xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình (bút lục số 1103, 1104); anh Phạm Văn T2, sinh năm 1985, trú thôn E, xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình (bút lục số 1105); chị Vũ Thị X1, sinh năm 1984, trú thôn G, xã B, huyện K, tỉnh Thái Bình (bút lục số 1109, 1110); bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1976, trú thôn C, xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình (bút lục từ số 1111 đến số 1113); anh Mai Xuân H8, sinh năm 1987, trú thôn N, xã H, huyện K, tỉnh Thái Bình (bút lục từ số 1114 đến số 1116); chị Đoàn Thị H9, sinh năm 1980, trú thôn Đ, xã N, huyện K, tỉnh Thái Bình (bút lục từ số 1117 đến số 1125); chị Vũ Thị Q, sinh năm 1991, trú thôn H, xã B, huyện K, tỉnh Thái Bình (bút lục từ số 1126 đến số 1139); Phạm Thị Thu L1, sinh năm 1975, trú tổ D, thị trấn K, huyện K, tỉnh Thái Bình (bút lục từ số 1140 đến số 1150);
- - Lời khai của người liên quan chị Vương Thị H3, sinh năm 1990, trú tại số nhà B, phố T, phường H, quận H, thành phố Hà Nội (bút lục từ số 1283 đến số 1288);
- Quá trình điều tra, truy tố các bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã thu thập được trong quá trình điều tra (bút lục từ số 853 đến 894).
[3] Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận: Mặc dù không được sự đồng ý của Công ty T5 và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về việc sản xuất, kinh doanh hàng hóa mang thương hiệu The North F đã được bảo hộ tại Việt Nam, Ngô Thị Hồng V đã sản xuất, kinh doanh hàng hóa mang nhãn hiệu giả mạo The North F để thu lời bất chính. Từ tháng 10/2022 đến tháng 9/2024, Ngô Thị Hồng V đã sử dụng nhà xưởng và công nhân của Công ty M1 để sản xuất quần áo gắn nhãn mác giả mạo The North F để bán ra thị trường. Tổng số sản phẩn gắn nhãn mác giả mạo The North F đã sản xuất gồm: 1.500 chiếc áo, 950 chiếc quần giả mạo nhãn hiệu trị giá 667.250.000 đồng để bán ra thị trường với giá 160.000 đồng/01 áo khoác, 60.000 đồng/01 chiếc quần, trong đó V đã bán cho chị Vương Thị H3 270 chiếc áo giả mạo nhãn hiệu The North Face trị giá 85.050.000 đồng, thu lời bất chính 43.135.000 đồng.
Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 226 Bộ luật Hình sự.
“Điều 226. Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp
“1. Người nào cố ý xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ tại Việt Nam mà đối tượng là hàng hóa giả mạo nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý với quy mô thương mại hoặc thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại cho chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng hoặc hàng hóa vi phạm trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 500.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
đ) Hàng hóa vi phạm trị giá 500.000.000 đồng trở lên.
3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm
...".
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo về tội “Xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 226 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.
[4] Xét tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Hành vi của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu công nghiệp của người khác được pháp luật bảo hộ, xâm phạm trật tự quản lý của Nhà nước trong lĩnh vực bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế quốc dân và môi trường kinh doanh, gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, lợi ích hợp pháp của tổ chức và của công dân. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp, mục đích vụ lợi. Vì vậy cần phải xử phạt bị cáo mức án tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo nhằm cải tạo, giáo dục các bị cáo và răn đe, phòng ngừa loại tội phạm này.
[5] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, sau khi phạm tội đã tự nguyện nộp toàn bộ số tiền thu lợi bất chính, và tự nguyện bồi thường trách nhiệm dân sự cho phía bị hại nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6] Về mức hình phạt: Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, đủ khả năng tự cải tạo, có đủ điều kiện để thi hành hình phạt tiền theo quy định tại Điều 35 của Bộ luật hình sự. Do vậy cần phạt tiền đối với bị cáo để nộp ngân sách nhà nước vẫn đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp pháp luật.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo V và Công ty L3 được Công ty T5 uỷ quyền đã thỏa thuận mức bồi thường thiệt hại số tiền 200.000.000 đ, phía đại diện bị hại công ty L3 đã nhận đủ số tiền bồi thường và không yêu cầu gì thêm.Việc tự nguyện thoả thuận bồi thường thiệt hại nêu trên là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm, nên HĐXX chấp nhận.
[8] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu hủy số quần áo và nhãn mác vi phạm không được sử dụng gồm: 1.230 chiếc áo khoác 3 1ớp có dấu hiệu THE NORTH FACE và hình; 950 chiếc quần nối gối có dấu hiệu “THE NORTH FACE và hình”; 639 tem rời bằng bìa giấy và 2,2kg dây đeo tai kéo khóa màu đen mang dấu hiệu “THE NORTH FACE và hình".
Tịch thu hóa giá nộp vào ngân sách nhà nước 08 máy khâu, 01 máy cắt và 01 máy chuyên dung; buộc bị cáo phải nộp lại số tiền 43.135.000 đồng tiền bán quần áo giả mạo The North F để xung quỹ Nhà nước. Bị cáo đã nộp tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Thái Bình.
[9] Các vấn đề khác: Đối với các công nhân Công ty M1, khi sản xuất không biết nhãn hiệu THE NORTH FACE là của nước nào, có được bảo hộ tại Việt Nam hay không; không biết Công ty M1 có được sản xuất quần áo gắn nhãn hiệu THE NORTH FACE hay không; không được V bàn bạc, chia lợi nhuận từ việc kinh doanh nói trên nên Cơ quan điều tra không xử lý là có căn cứ.
Đối với chị Vương Thị H3, sinh năm 1990, trú tại số nhà B, phố T, phường H, quận H, thành phố Hà Nội là người mua 270 chiếc áo gắn nhãn hiệu THE NORTH FACE vào các ngày 21/12/2022 và ngày 27/12/2022 với tổng số 43.315.000 đồng, chị H3 không biết quần áo Công ty M1 bán là giả mạo nhãn hiệu THE NORTH FACE, khi bán V không nói cho chị H3 biết là hàng hoá giả mạo nhãn hiệu “THE NORTH FACE” nên Cơ quan điều tra không xử lý là có căn cứ.
[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 226; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35, Điều 50 Bộ luật Hình sự: Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 584, Điều 585 và Điều 592 của BLDS; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Ngô Thị Hồng V phạm tội “Xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo 500.000.000đồng để nộp vào Ngân sách nhà nước. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
3. Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận bồi thường thiệt hại do tổn thất cơ hội kinh doanh và tổn thất về uy tín, danh tiếng cho Công ty giữa bị cáo V và phía bị hại số tiền 200.000.000 đồng, đại diện phía bị hại Công ty L3 đã nhận đủ số tiền bồi thường thiệt hại này và không yêu cầu bị cáo V phải bồi thường gì thêm.
4. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 1.230 chiếc áo khoác 3 lớp có dấu hiệu “ THE NORTH FACE” và hình; 950 chiếc quần nối gối có dấu hiệu “THE NORTH FACE và hình”; 639 tem rời bằng bìa giấy và 2,2kg dây đeo tai kéo khóa màu đen mang dấu hiệu “THE NORTH FACE và hình”.
Tịch thu hóa giá nộp vào ngân sách nhà nước 08 máy khâu, 01 máy cắt và 01 máy chuyên dùng.
(Vật chứng đang được quản lý tại Cục thi hành án tỉnh Thái Bình theo Biên bản giao nhận, bảo quản tang vật, tài sản thi hành án).
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 43.135.000 đồng tiền bán quần áo gắn mác giả mạo The North Face bị cáo đã nộp tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Thái Bình.
5. Về án phí: Bị cáo Ngô Thị Hồng V phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 10/3/2025; bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Ngô Thế Tương |
Bản án số 18/2025/HS-ST ngày 10/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp
- Số bản án: 18/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Án HSST số 18/2025 Ngô Thị Hồng Vân
