|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - SƠN LA Bản án số: 18/2025/HS-ST Ngày 04-12-2025 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
-
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Minh Tuấn.
-
Các Hội thẩm nhân dân:
-
Bà Bồ Thị Thái - Nguyên giáo viên.
-
Bà Hà Thị Thanh Liêm - Nguyên giáo viên.
-
Thư ký phiên toà: Ông Cầm Việt Hùng - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 - Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Sơn La tham gia phiên toà: Ông Lò Văn Khuyên - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 1 - Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 13/2025/TLST-HS ngày 28 tháng 10 năm 2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2025/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 11 năm 2025 đối với các bị cáo:
-
Vì Văn N, sinh ngày 28/02/1999, tại xã M, tỉnh Sơn La; Nơi cư trú: Bản T, xã M, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vì Văn H, đã chết, con bà Lò Thị L, sinh năm 1983; chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Tại bản án số 23/2020/HSST ngày 21/5/2020 của TAND huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương đã xử phạt 15 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, đã được xóa án tích; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/8/2025; Bị cáo có mặt tại phiên toà.
-
- Người bào chữa cho bị cáo Vì Văn N: Ông Lò Văn Đ - Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp viên pháp lý nhà nước, tỉnh Sơn La. Có mặt.
-
-
Vì Văn T, sinh ngày 02/12/2007 (thời điểm phạm tội bị cáo 17 tuổi 10 tháng 20 ngày), tại xã M, tỉnh Sơn La; Nơi cư trú: Bản L, xã M, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 7/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vì Văn V, sinh năm 1982 (đang cai nghiện tại cơ sở cai nghiện ma túy số 1 Hải Phòng), con bà Vì Thị O, sinh năm 1983 (đang chấp hành án tại Trại giam T1); chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/8/2025; Bị cáo có mặt tại phiên toà.
-
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Vì Văn T: Chị Vì Thị H1, sinh năm 2002. Địa chỉ: Bản L, xã M, tỉnh Sơn La là chị gái ruột. Có mặt.
-
- Người bào chữa cho bị cáo Vì Văn T: Ông Đặng Văn Q - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp viên pháp lý nhà nước, tỉnh Sơn La. Có mặt.
-
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Vì Văn N và Vì Văn T bị Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Sơn La truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Vào hồi 13 giờ 30 phút ngày 22/8/2025, tại khu vực bản P, xã M, tỉnh Sơn La, Công an xã M phát hiện bắt quả tang Vì Văn N, sinh ngày 28/02/1999, ở bản T, xã M, tỉnh Sơn La và Vì Văn T, sinh ngày 02/12/2007 ở bản L, xã M, tỉnh Sơn La đang có hành vi cất giữ trái phép chất ma túy.
Vật chứng thu giữ do Vì Văn N tự giác lấy trong túi quần bên trái đang mặc giao nộp: 01 gói giấy trắng, bên trong có chứa cục bột màu trắng, Vì Văn N và Vì Văn T khai nhận là H2 góp tiền mua chung cất giữ để sử dụng.
01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại WinnerX, màu đen, BKS 26B2-760.47, xe cũ qua sử dụng, thu của Vì Văn N.
Quá trình kiểm tra chất ma túy ngày 22/8/2025 đối với Vì Văn N và Vì Văn T có kết quả dương tính với chất ma túy loại Heroine.
Ngày 22/8/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thành lập Hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh và lấy mẫu giám định vật chứng thu giữ của Vì Văn N và Vì Văn T khi bắt quả tang, kết quả:
01 gói giấy trắng, bên trong có chứa cục bột màu trắng có khối lượng 0,10 gam, lấy 0,10 gam để gửi giám định ký hiệu NT1.
Tại bản Kết luận giám định số 1017/KL-KTHS ngày 26/8/2025 của Phòng K Công an tỉnh S kết luận:
Mẫu ký hiệu NT1 gửi giám định là ma túy; Loại Heroine; Khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,10 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,10 gam loại Heroine.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Vì Văn N và Vì Văn T, người đại diện hợp pháp của bị cáo Vì Văn T, những người bào chữa không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định nêu trên.
Quá trình điều tra Vì Văn N và Vì Văn T khai nhận: Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 22/8/2025, N đang ở nhà tại bản T, xã M, tỉnh Sơn La thì có T đi bộ đến chơi và rủ N góp tiền đi mua ma túy về cùng sử dụng. N đồng ý rồi đưa 200.000 đồng cho T, Thủy cầm 200.000 đồng của N đồng thời T góp thêm 200.000 đồng. Sau đó, N điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại Winner, màu đen, biển kiểm soát 26B2-760.47 chở T đi vào trung tâm xã C để tìm mua ma túy về sử dụng. Khi đến khu vực bản L, xã C, tỉnh Sơn La, N và T gặp một nam giới người gầy, dáng cao, tóc hói, giống người nghiện và tự giới thiệu tên C, trú tại bản Lọng Bong, xã C, tỉnh Sơn La, T xuống xe mô tô hỏi và mua được của người thanh niên đó 01 gói giấy trắng bên trong có chứa các cục bột mùa trắng là H2 với số tiền 400.000 đồng. Sau khi mua được H2, T đưa gói H2 cho N, N cất gói Heroine vào túi quần bên trái đang mặc rồi điều khiển mô tô chở T quay về, khi đến khu vực bản P, xã M, tỉnh Sơn La thì bị tổ công tác Công an xã M yêu cầu dừng xe kiểm tra, N đã tự giác giao nộp gói Heroine.
Quá trình điều tra, Vì Văn N và Vì Văn T khai nhận trước đó đã sử dụng ma túy. Qua xác minh Vì Văn N và Vì Văn T không nghiện ma túy, không thuộc trường hợp quản lý sau cai hay đang điều trị cai nghiện ma túy tại địa phương. Do đó không cấu thành tội sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại Điều 285a của Bộ luật hình sự.
Về nguồn gốc ma túy Vì Văn N và Vì Văn T khai mua của một người đàn ông tên C không biết họ, địa chỉ với số tiền 400.000 đồng. Ngoài lời khai của Vì Văn N và Vì Văn T không còn nguồn tài liệu, chứng cứ nào khác để xác minh, điều tra, xử lý.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Vì Văn N và Vì Văn T đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Bản cáo trạng số: 12/CT-VKS ngày 28 tháng 10 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Sơn La truy tố bị cáo Vì Văn N và Vì Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự sửa đổi bổ sung năm 2025. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố Vì Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
-
Xử phạt Vì Văn N từ 38 đến 42 tháng tù;
-
Không phạt Bổ sung - Phạt tiền đối với bị cáo do không có tài sản.
Tuyên bố Vì Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 179, khoản 1 Điều 119 của Luật Tư pháp người chưa thành niên.
-
Xử phạt Vì Văn T từ 30 đến 36 tháng tù;
-
Không phạt Bổ sung - Phạt tiền đối với bị cáo do không có tài sản.
Về vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu huỷ: 01 mảnh giấy trắng (được niêm phong).
Tịch thu sung nộp ngân sách Nhà nước 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại WinnerX, màu đen, BKS 26B2-760.47, xe cũ qua sử dụng, thu của Vì Văn N. Do là phương tiện sử dụng đi mua ma túy.
Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về Án phí, lệ phí Tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo do là người dân tộc sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ nguyên Quyết định truy tố. Các bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, những người bào chữa cho các bị cáo nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát.
Những người bào chữa và những người đại diện hợp pháp của các bị cáo phát biểu ý kiến bào chữa đưa ra các tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo.
Lời nói sau cùng của bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Xét về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, những người bào chữa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Bị cáo Vì Văn N và Vì Văn T thừa nhận: Hồi 13 giờ 30 phút ngày 22/8/2025, tại bản P, xã M, tỉnh Sơn La đã thực hiện hành vi cất giữ trái phép 0,10 gam Heroine, mục đích để sử dụng thì bị bắt quả tang cùng vật chứng.
Xét lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên toà hoàn toàn phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với kết quả điều tra được chứng minh như sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Vật chứng thu giữ trong vụ án; Thông báo kết quả giám định.
Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Vì Văn N và Vì Văn T đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Luật số: 86/2025/QH15 sửa đổi bổ sung Bộ luật Hình sự.
Bị cáo không có tài sản nên không phạt Bổ sung - Phạt tiền.
Hội đồng xét xử xét thấy: Tính chất hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, xâm phạm trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng, cần có mức hình phạt nhằm giáo dục các bị cáo.
[2.1] Xét về vai trò đồng phạm trong tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”: Bị cáo Vì Văn T là người chủ mưu, chủ động rủ bị cáo Vì Văn N góp tiền mua ma túy. Bị cáo Vì Văn N sử dụng xe chở Vì Văn T cùng đi mua ma túy, nên hai bị cáo tham gia với vai trò ngang nhau. Cần căn cứ Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự để xem xét lên mức hình phạt tương xứng đối với các bị cáo.
[3] Xét tính chất hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:
[3.1] Về tính chất hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách quản lý của Nhà nước về chất ma tuý. Bị cáo Vì Văn N và Vì Văn T phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng nên cần có mức hình phạt nghiêm khắc nhằm giáo dục các bị cáo.
[3.2] Về nhân thân: Các bị cáo có nhân thân không tốt, đều là đối tượng liên quan đến hoạt động ma túy. Bị cáo đều chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo Vì Văn N đã bị kết án: Tại bản án số 23/2020/HSST ngày 21/5/2020 của TAND huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương đã xử phạt 15 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, đã được xóa án tích.
[3.3] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Các bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[4] Để có lợi cho bị cáo Vì Văn T khi phạm tội đều dưới 18 tuổi, cần căn cứ khoản 2 Điều 179; khoản 1 Điều 119 của Luật Tư pháp người chưa thành niên để xem xét xử lý đối với bị cáo.
[5] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có tài sản nên không phạt Bổ sung - Phạt tiền.
[6] Về vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu huỷ: 01 mảnh giấy trắng (được niêm phong).
Tịch thu sung nộp ngân sách Nhà nước 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại WinnerX, màu đen, BKS 26B2-760.47, xe cũ qua sử dụng, thu của Vì Văn N. Do là phương tiện sử dụng đi mua ma túy.
[7] Về vấn đề liên quan khác trong vụ án:
Quá trình điều tra, Vì Văn N và Vì Văn T khai nhận trước đó đã sử dụng ma túy. Qua xác minh Vì Văn N và Vì Văn T không nghiện ma túy, không thuộc trường hợp quản lý sau cai hay đang điều trị cai nghiện ma túy tại địa phương. Do đó không cấu thành tội sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại Điều 285a của Bộ luật hình sự là có căn cứ chấp nhận.
Về nguồn gốc ma túy Vì Văn N và Vì Văn T khai mua của một người đàn ông tên C không biết họ, địa chỉ với số tiền 400.000 đồng. Ngoài lời khai của Vì Văn N và Vì Văn T không còn nguồn tài liệu, chứng cứ nào khác để xác minh, điều tra, xử lý.
[8] Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo do là người dân tộc sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố Vì Văn N phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Xử phạt bị cáo Vì Văn N 40 (bốn mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 22/8/2025.
Không phạt Bổ sung - Phạt tiền đối với bị cáo.
-
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 179, khoản 1 Điều 119 của Luật Tư pháp người chưa thành niên:
Tuyên bố Vì Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Xử phạt bị cáo Vì Văn T 33 (ba mươi ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 22/8/2025.
Không phạt Bổ sung - Phạt tiền đối với bị cáo.
-
Về vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu huỷ: 01 mảnh giấy trắng (được niêm phong theo biên bản mở niêm phong cân tịnh vật chứng, lấy mẫu giám định và niêm phong vật chứng ngày 22/8/2025).
Tịch thu sung nộp ngân sách Nhà nước 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Winnerx, màu đen, BKS 26B2-760.47, số máy KC34E1256882; số khung RLHKC3707MY114916, xe cũ qua sử dụng, thu của Vì Văn N. Do là phương tiện sử dụng đi mua ma túy.
Theo biên bản giao nhận vật chứng chuyển cho Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1 - Sơn La.
-
Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về Án phí, lệ phí Tòa án.
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.
Các bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 04/12/2025.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Minh Tuấn |
Bản án số 18/2025/HS-ST ngày 04/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - SƠN LA về tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 18/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án Vì Văn Nguyên và Đp
