Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THANH HOÁ


CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 18/2025/HS-PT

Ngày: 28/02/2025

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thu Hương

Các Thẩm phán:

Ông Mai Nam Tiến

Bà Lê Thị Tố Như

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tài - Thư ký Tòa án tỉnh Thanh Hóa

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 08/TLPT-HS ngày 07 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo Nguyễn Văn N và đồng phạm, do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 81/2024/HS-ST ngày 28 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hoằng Hoá, tỉnh Thanh Hóa.

Các bị cáo có kháng cáo:

  1. Bị cáo Nguyễn Văn N; sinh ngày 16 tháng 4 năm 1998 tại xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; số CCCD: [...]; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn B L, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn T và bà Hoàng Thị L; Vợ, con: Chưa; tiền sự, tiền án: Không;
  2. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/11/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Có mặt.

  3. Bị cáo Hoàng Ngọc B; sinh ngày 13 tháng 11 năm 2002 tại xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; số CCCD: [...]; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn B L, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Sinh viên; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hoàng Ngọc T1, con bà Nguyễn Thị T2 (đã chết); Vợ, con: Chưa; Tiền sự, tiền án: Không;
  4. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/11/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Có mặt.

  5. Bị cáo Lê Khả C; sinh ngày 10 tháng 10 năm 1997 tại xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; số CCCD: [...]; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn B, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Khả D và bà Lê Thị T3; Vợ: Nguyễn Thị Phương L1 và có 02 con, lớn sinh năm 2021, nhỏ sinh năm 2023; Tiền sự, tiền án: Không;
  6. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/11/2023, đến ngày 28/12/2023 được thay thế biện pháp tạm giam bằng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

  1. Theo Cáo trạng và Bản án sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
  2. Ngày 19/11/2023, Tổ công tác của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm Công an tỉnh T phối hợp cùng Công an huyện H làm nhiệm vụ tại thôn A L, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa, phát hiện Lê Khả C đang điều khiển xe môtô nhãn hiệu YAMAHA EXCITER màu xanh, biển kiểm soát 36B8-772.16 chở 01 thùng cát tông màu vàng, bên ngoài có chữ “DHG PHARMA", bên trong thùng có 06 giàn, bọc bên ngoài bằng giấy có chữ nước ngoài dạng khối hình vuông có các kích thước như sau: 02 giàn có kích thước (10x14x14)cm bên ngoài có chữ nước ngoài và ghi chữ "KS4-3612", 04 giàn có kích thước (10x17x17)cm bên ngoài có ghi chữ nước ngoài và chữ "KS4-4911L". Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng vật chứng thu giữ. Lê Khả C khai nhận 06 giàn trên là pháo nổ đang đem đi bán cho 01 đối tượng có số điện thoại 0948.017.xxx tại khu vực cây xăng D1 thuộc thôn A L, xã H, huyện H. Lê Khả C còn khai báo ngoài số pháo thu giữ trên, C đang cất giấu 05 giàn pháo tại nhà ở thôn B, xã H, huyện H. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H tiến hành khám xét khẩn cấp nhà ở của C thu giữ 05 giàn hình chữ nhật có kích thước (10x17x17)cm bên ngoài có chữ nước ngoài và ghi chữ “KS4-4911A"; 02 giàn có kích thước (10x14x14)cm bên ngoài có chữ nước ngoài ghi chữ "KS4-3612"; Lê Khả C khai nhận toàn bộ số pháo trên là nhờ Nguyễn Văn N mua giúp.

    Cơ quan Cảnh sát điều tra triệu tập Nguyễn Văn N để làm việc và tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của N ở thôn B L, xã H, huyện H thu giữ 01 giàn hình chữ nhật có kích thước (11x31x25,5)cm được bọc giấy, trên giấy có ghi chữ nước ngoài và có dòng chữ “138 SHOTS CAKE"; 01 ống hình trụ dài 29,5cm đường kính 5,5cm có gắn dây cháy chậm. Nguyễn Văn N đầu thú, khai báo ngoài số pháo cất giấu tại nhà, N đang cất giấu tại nhà của Hoàng Ngọc B một số giàn pháo; Hoàng Ngọc B ra đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội và giao nộp gồm: 24 giàn hình chữ nhật có kích thước (10x17x17)cm được bọc giấy, trên giấy có ghi chữ nước ngoài và có dòng chữ: 15 giàn ghi KS4-4911A; 07 giàn ghi KS4-4911L; 02 giàn ghi KS4-49B và 03 giàn hình chữ nhật có kích thước khoảng (20x18x18)cm được bọc giấy, trên giấy có ghi chữ nước ngoài và có dòng chữ “KS8-1615L”. Hoàng Ngọc B khai báo ngoài việc cho Nguyễn Văn N cất giấu số pháo bị thu giữ ở trên, trước đó B đã bán hộ N 07 giàn pháo cho Vũ Đình H được số tiền 10.000.000 đồng, N cho B số tiền 300.000 đồng.

    Cơ quan Cảnh sát điều tra triệu tập Vũ Đình H để làm việc; Vũ Đình H khai mua hộ pháo cho Lê Gia L2, sau khi mua được đã đưa cho Lê Gia L2; L2 ra đầu thú và giao nộp 07 giàn pháo đã nhờ H mua hộ, cụ thể 05 giàn chữ nhật kích thước (10x17x17)cm bọc bên ngoài bằng giấy có chữ nước ngoài và có dòng chữ (03 giàn ghi KS4-49A; 03 giàn ghi KS4-49B; 01 giàn ghi KS4- 4911A).

    Quá trình điều tra xác định: Do nảy sinh ý định buôn bán pháo hoa nổ, Nguyễn Văn N, Lê Khả C, Nguyễn Văn L3 tham gia nhóm trên mạng xã hội Zalo có tên “Pháo Tết Uy Tín năm 2023" do Nguyễn Quốc H1 lập ra với mục đích trao đổi, buôn bán pháo nổ; từ đó, N, C, L3, H1 quen biết và liên lạc với nhau để mua pháo. Cụ thể:

    • Ngày 17/10/2023 N mua của Nguyễn Quốc H1 27 giàn pháo loại 49 ống phóng, với giá mỗi giàn là 750.000 đồng; N chuyển số tiền 20.550.000 đồng (trong đó có 300.000 đồng tiền cước) vào số tài khoản 9704229209197570849 tại Ngân hàng M cho H1, đến ngày 22/10/2023 N nhận được số pháo H1 gửi; số pháo này N đã bán một phần, phần còn lại là 05 giàn Hoàng Ngọc B lấy từ N bán cho Vũ Đình H, số lượng 8,3kg, số tiền 7.000.000 đồng.
    • Cuối tháng 10/2023, Nguyễn Văn N hỏi mua của Nguyễn Văn L3 03 giàn pháo loại 16 ống phóng có khối lượng 9,6 kg, với giá 1.600.000 đồng một giàn, 03 giàn pháo loại 138 ống phóng có khối lượng 4,3kg, với giá 2.100.000 đồng một giàn và 02 ống phóng tầm cao có khối lượng 0,3kg với giá 650.000 đồng một ống; tổng 14,2kg trị giá 12.400.000 đồng. Sau khi hai bên thống nhất giá cả và số lượng pháo mà N đặt mua của L3; để có pháo bán cho N, L3 sử dụng tài khoản Facebook tên "Gia cát khổng minh" liên hệ với Nguyễn Hoàng K ở ấp V, xã V, huyện A, tỉnh An Giang sử dụng tài khoản Facebook "Nguyễn Hoàng N1" để đặt mua pháo; Lượng và K thỏa thuận 01 giàn pháo loại 16 ống giá 1.100.000 đồng; 01 giàn pháo loại 138 ống giá 1.800.000 đồng và 01 ống phóng tầm cao giá 550.000 đồng; Lượng cho K địa chỉ của N để K gửi trực tiếp pháo cho N; sau khi nhận lời Lượng, K đến khu vực biên giới Việt Nam - Campuchia tìm mua pháo của một người đàn ông không quen biết được số pháo L3 đặt mua; sau khi mua được pháo, K chia thành 02 lần để chuyển cho Nghĩa qua công ty chuyển phát hàng; nhận được pháo, N chuyển số tiền 12.400.000 đồng từ số tài khoản của N cho L3 và L3 chuyển từ tài khoản của L3 cho K số tiền 9.800.000 đồng.
    • Ngoài số pháo Nguyễn Văn L3 đặt mua của K cho N ở trên, trước đó L3 còn mua 01 giàn pháo loại 49 ống phóng khối lượng 1,6 kg của Nguyễn Quốc H1 với giá 750.000 đồng và 02 ống pháo tầm cao của Nguyễn Văn K1 có khối lượng 2,8 kg với giá 550.000 đồng/1 ống để sử dụng; L3 đã chuyển số tiền 750.000 đồng cho H1 và 1.100.000 đồng cho K1.
    • Ngày 04/11/2023, N nhắn tin cho Nguyễn Quốc H1 sử dụng tài khoản Zalo có số điện thoại 0978.727.xxx hỏi mua pháo thì biết Lê Khả C cũng có ý định mua pháo; N đã liên hệ rủ C cùng mua chung pháo của H1 để giảm tiền cước vận chuyển; C đồng ý, theo thỏa thuận C mua 10 giàn pháo loại 49 ống phóng, 05 giàn pháo loại 36 ống phóng, sau đó N đã nhắn tin với Nguyễn Quốc H1 để đặt mua pháo; N đặt mua một thùng nguyên 27 dàn pháo loại 49 ống phóng, giá 750.000 đồng/giàn và một thùng trong đó có 10 giàn loại 36 ống phóng, giá 680.000 đồng/giàn, còn lại là loại 49 ống phóng. Tổng số tiền là 42.500.000 đồng, ngày 06/11/2023 N chuyển vào tài khoản của H1 số tiền 25.000.000 đồng và thống nhất số tiền còn lại khi nào nhận được hàng chuyển sau; đến khoảng 17h ngày 09/11/2023, N nhận được cuộc gọi từ số điện thoại 0905.006.xxx đến số điện thoại của N nói “Hàng sắp tới cây xăng N2"; do N đang đi làm nên đã điện thoại cho C ra cây xăng N3 để đón xe lấy hàng; C điều khiển xe môtô ra cây xăng N2 đứng đợi; một lúc sau có một xe ôtô khách do anh Nguyễn Văn H2, trú tại thôn Đ, xã B, huyện C, tỉnh Gia Lai điều khiển đi đến và giao cho C 02 thùng cát tông dán kín; C đem 02 thùng về nhà cất giấu; đến khoảng 22h cùng ngày, N đến nhà C rồi cùng nhau mở 02 chiếc thùng ra kiểm số lượng thì thấy tổng cộng 42 giàn pháo loại 49 ống phóng và 16 giàn pháo loại 36 ống phóng; trong đó C 10 giàn pháo loại 49 ống phóng và 05 giàn pháo loại 36 ống có khối lượng 18,2kg với giá 10.900.000 đồng; số pháo còn lại N đem về để tại nhà sau đó đem đến nhà Hoàng Ngọc B cất giấu nhằm mục đích để bán và sử dụng, có khối lượng là 42,94kg; trong số pháo mà N gửi tại nhà B, B đã lấy 02 giàn loại 49 ống phóng bán cho H với số tiền 3.000.000 đồng, số lượng 3,34kg. Ngày 10/11/2023, N chuyển số tiền còn lại cho Nguyễn Quốc H1 là 17.500.000 đồng vào tài khoản số 9704229209197570849. Tổng số pháo còn lại thu giữ của C và Nghĩa là 61,14kg.

    Để bán được pháo, Nghĩa nổ thử từng loại để lấy hình ảnh quảng cáo, sau đó N lên mạng xã hội Facebook đăng bán; ngoài ra, N nói với B nếu Bắc bán được pháo thì sẽ trích tiền cho B.

    Đối với Vũ Đình H, do làm việc cùng với B và B nói có pháo hoa bán nên khi Lê Gia L2 nhờ H mua hộ 07 giàn pháo loại 49 ống phóng, H hỏi B và B đồng ý về lấy pháo của N đem bán cho H; do N chỉ còn 05 giàn pháo loại 49 ống phóng số lượng 8,3kg nên B tạm giao cho H 05 giàn với giá mỗi giàn là 1.400.000 đồng; H nhận pháo của B rồi đem về đưa lại cho Lê Gia L2 và lấy của L2 số tiền 7.000.000 đồng đem về đưa cho B; đến ngày 09/11/2023, N mua thêm được lô pháo mới, B tiếp tục lấy của N 02 giàn pháo loại 49 ống phóng số lượng 3,34kg đem giao cho H; lần này, Bắc bán mỗi giàn pháo với giá 1.500.000 đồng; H đem pháo đưa lại cho L2; L2 nhận pháo rồi trả cho H số tiền 3.000.000 đồng và H lại gửi lại số tiền này cho B; B đem tiền bán pháo đưa cho N, N cho B 300.000 đồng.

    Theo lời khai của Lê Gia L2, L2 nhờ H mua pháo giúp cho Trịnh Văn H3, sinh năm 1978, trú tại số B T, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; sau khi mua đủ 07 giàn pháo, L2 đã đưa cho Trịnh Văn H3; đến ngày 21/11/2023, biết hành vi của mình bị phát hiện, L2 đã lấy lại pháo từ H3 để giao nộp lại cho cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H. Quá trình điều tra, Trịnh Văn H3 không nhận việc nhờ L2 mua pháo; cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã xác minh và tiến hành đối chất giữa L2 và H3 nhưng không có căn cứ về việc L2 mua giúp H3 số pháo trên.

    Đối với Lê Khả C sau khi mua được pháo, C cũng đốt thử để lấy hình ảnh quảng cáo và rao bán trên mạng xã hội; ngày 18/11/2023 C bán được cho một người đàn ông không quen biết sử dụng số điện thoại 0948.017.xxx một giàn pháo loại 49 ống phóng với giá 1.200.000 đồng; ngày 19/11/2023 người này tiếp tục đặt mua của C 04 giàn pháo loại 49 ống phóng và 02 giàn pháo loại 36 ống phóng; đến khoảng 17h cùng ngày, tại khu vực cây xăng T5 thuộc địa phận thôn A L, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa, khi C đang chờ giao pháo thì bị cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H phát hiện, bắt quả tang.

    Kết luận giám định số 4248/KL-KTHS ngày 23/11/2023 của Phòng K2 Công an tỉnh T kết luận:

    • Mẫu vật của thùng cát tông niêm phong, ký hiệu M1 gửi giám định đều là loại pháo hoa nổ (thuộc pháo nổ), tổng khối lượng là 8,2kg (Số pháo thu giữ khi bắt quả tang Lê Khả C).
    • Mẫu vật của thùng cát tông niêm phong, ký hiệu M2 gửi giám định đều là loại pháo hoa nổ (thuộc pháo nổ), tổng khối lượng là 10kg (Số pháo thu giữ tại nhà Lê Khả C).
    • Mẫu vật của thùng cát tông niêm phong, ký hiệu M3 gửi giám định đều là loại pháo hoa nổ (thuộc pháo nổ). Giàn pháo loại 138 ống phóng có khối lượng 4,3kg, ống pháo phóng tầm cao có khối lượng 0,3kg, tổng khối lượng là 4,6kg (Số pháo thu giữ tại nhà Nguyễn Văn N).
    • Mẫu vật của thùng cát tông niêm phong, ký hiệu M4 gửi giám định đều là loại pháo hoa nổ (thuộc pháo nổ), tổng khối lượng là 49,2kg, trong đó: 24 giàn pháo loại 49 ống phóng có khối lượng 39,6kg; 03 giàn pháo loại 16 ống phóng có khối lượng 9,6kg. (Số pháo thu giữ tại nhà Hoàng Ngọc B).
    • Mẫu vật của thùng cát tông niêm phong, ký hiệu M5 gửi giám định đều là loại pháo hoa nổ (thuộc pháo nổ), tổng khối lượng là 8,3kg (Số pháo thu giữ do Lê Gia L2 giao nộp).
    • Mẫu vật của thùng cát tông niêm phong, ký hiệu M6 gửi giám định đều là loại pháo hoa nổ (thuộc pháo nổ), tổng khối lượng là 3,34kg (Số pháo thu giữ do Lê Gia L2 giao nộp).

    Cơ quan Cảnh sát điều tra trưng cầu Phòng K2 Công an tỉnh T giám định đối với vật chứng Nguyễn Văn L3 giao nộp. Kết luận giám định số 4529/KL-KTHS ngày 15/12/2023 của Phòng K2 Công an tỉnh T kết luận:

    • 01 khối giàn, kích thước (16,5x16,5x12) cm, bên ngoài bọc giấy nhiều màu sắc có in chữ nước ngoài và dòng chữ “KR5-4911”, bên ngoài có 49 vệt hình trụ tròn được liên kết với nhau, mỗi vệt dài 12cm, đường kính 2,4cm gửi giám định là loại pháo hoa nổ (thuộc pháo nổ). Tổng khối lượng là 1,6kg.
    • 01 ống hình trụ tròn vỏ bằng giấy, trên vỏ ghi chữ JANGAN DIPEGANG DI TANGGAN 8 SHOTS, dài 87cm, đường kính 5,5cm gửi giám định là pháo hoa nổ (thuộc pháo nổ). Khối lượng là 1,4kg.
    • 01 ống hình trụ tròn bằng giấy, trên vỏ ghi chữ BIG Boom2r8shots, dài 87cm, đường kính 5,5cm gửi giám định là loại pháo hoa nổ (thuộc pháo nổ); khối lượng của ống pháo trên là 1,4kg.

    Vật chứng: Toàn bộ pháo nổ sau giám định và 03 chiếc điện thoại di động đa thu giữ được bảo quản chờ xử lý theo quy định của pháp luật.

  3. Bản án sơ thẩm số: 81/2024/HS-ST ngày 28 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hoằng Hoá, tỉnh Thanh Hóa:
  4. Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 190; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 17; Điều 58 và Điều 47 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn N và Hoàng Ngọc B.

    Điểm g khoản 2 Điều 190; điểm s, u khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58; Điều 54 và Điều 47 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lê Khả C.

    Điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 47 của Bộ luật Hình sự (Điều 38 đối với bị cáo Nguyễn Hoàng K; khoản 1, 2, 5 Điều 65 đối với bị cáo Nguyễn Văn L3).

    Điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1, 2, 5 Điều 65; Điều 47 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Vũ Đình H, Lê Gia L2.

    Điều 106; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Tuyên bố:

    Các bị cáo Nguyễn Văn N, Hoàng Ngọc B, Lê Khả C, Nguyễn Hoàng K, Nguyễn Văn L3 phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.

    Các bị cáo Vũ Đình H, Lê Gia L2 phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.

    Xử phạt:

    • Bị cáo Nguyễn Văn N 06 (Sáu) năm 06 (S) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/11/2023.
    • Bị cáo Hoàng Ngọc B 05 (Năm) năm 09 (Chín) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/11/2023.
    • Bị cáo Lê Khả C 03 (Ba) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án hình sự, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/11/2023 đến ngày 28/12/2023.

    Bản án còn xử phạt đối với Nguyễn Hoàng K, Nguyễn Văn L3, Lê Gia L2, Vũ Đình H, nhưng các bị cáo này không kháng cáo bản án.

    Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn xử lý vật chứng, tuyên án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

  5. Kháng cáo: Ngày 04/12/2024, Nguyễn Văn N, Hoàng Ngọc B kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt; Ngày 10/12/2024, Lê Khả C kháng cáo xin hưởng án treo;
  6. Tại phiên toà phúc thẩm,
    • Các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và giữ nguyên kháng cáo.
    • Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá: Bị cáo Nguyễn Văn N, Lê Khả C có thêm nhiều tài liệu mới, bị cáo Hoàng Ngọc B có thêm 01 tài liệu mới tại cấp phúc thẩm nên có căn cứ chấp nhận kháng cáo của các bị cáo. Đề nghị HĐXX căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c, e khoản 1 Điều 357 BLTTHS, sửa bản án sơ thẩm, giảm cho Nguyễn Văn N từ 07 đến 10 tháng tù; giảm cho Hoàng Ngọc B từ 01 đến 02 tháng tù; giữ nguyên mức hình phạt của Lê Khả C nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách theo quy định của Bộ luật hình sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có căn cứ kết luận:

Ngày 22/10/2023 Nguyễn Văn N mua của Nguyễn Quốc H1 27 giàn pháo hoa nổ loại 49 ống phóng với tổng số tiền 20.250.000 đồng. Trong số pháo trên, Hoàng Ngọc B đã bán giúp N cho Vũ Đình H 05 giàn pháo có khối lượng 8,3kg với giá 7.500.000 đồng. Cuối tháng 10/2023, Nguyễn Văn N mua của Nguyễn Văn L3 03 giàn pháo loại 16 ống phóng, 03 giàn pháo loại 138 ống phóng và 02 cây pháo tầm cao, số lượng 14,2kg với giá 12.400.000 đồng. Số pháo trên Lượng mua của Nguyễn Hoàng K với tổng số tiền 9.800.000 đồng.

Ngày 09/11/2023, Nguyễn Văn N và Lê Khả C mua của Nguyễn Quốc H1 42 giàn pháo loại 49 ống phóng, 16 giàn loại 36 ống phóng với tổng số tiền 42.500.000 đồng, trong đó Lê Khả C mua 10 giàn pháo loại 49 ống phóng, 05 giàn pháo loại 36 ống phóng, còn lại là của N; C được N nhờ đi nhận pháo do H1 gửi xe khách đến; C nhận 02 thùng pháo đem về nhà cất giấu để chờ N về kiểm tra và phân chia theo thỏa thuận từ trước; số pháo nổ còn lại thu giữ của C và Nghĩa là 61,14kg (ngoài số pháo các bị cáo đã trao đổi mua bán, số pháo thu giữ tại nhà của các bị cáo Lê Khả C, Nguyễn Văn N và Hoàng Ngọc B các bị cáo đều thừa nhận việc cất giấu số pháo đó nhằm mục đích để bán); trong đó, Hoàng Ngọc B đã bán giúp Nguyễn Văn N 02 giàn pháo loại 49 ống phóng cho Vũ Đình H với giá 3.000.000 đồng; số pháo này H mua giúp cho Lê Gia L2 có khối lượng 3,34 kg; Lê Khả C đã bán cho một người không quen biết 01 giàn pháo loại 49 ống phóng với giá 1.200.000 đồng, đến ngày 19/11/2023 C đem 04 giàn pháo loại 49 ống phóng và 02 giàn pháo loại 36 ống phóng bán tiếp thì bị bắt quả tang.

Với các hành vi nêu trên, Toà án cấp sơ thẩm tuyên các bị cáo Nguyễn Văn N, Hoàng Ngọc B, Lê Khả C phạm tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 190 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội.

[2]. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo Nguyễn Văn N và Hoàng Ngọc B:

Tại cấp sơ thẩm các bị cáo thành khẩn khai báo, gia đình bị cáo N và bị cáo B đều đang thờ cúng liệt sỹ nên các bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự; các bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên” theo điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS. Toà án sơ thẩm căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội, vai trò, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của mỗi bị cáo để áp dụng hình phạt là phù hợp với quy định của pháp luật.

Tại cấp phúc thẩm, bị cáo N có thêm tài liệu mới gồm: Biên lai thu số tiền 9.900.000đ tiền do ông Nguyễn Văn T (bố đẻ bị cáo) nộp, là tiền truy thu và tiền án phí theo quyết định của bản án sơ thẩm; 01 Giấy xác nhận của BCH Đoàn xã H xác nhận nội dung: Nguyễn Văn Nghĩa là Phó Bí thư Chi đoàn thôn B L từ tháng 02/2017 đến tháng 10/2023, bản thân luôn chấp hành và vận động gia đình cũng như các đoàn viên trong Chi đoàn tuân thủ chính sách, pháp luật và quy định tại địa phương, nêu cao tinh thần xung kích, tình nguyện, tích cực tham gia các hoạt động phong trào do Đ phát động; 01 Giấy xin xác nhận của ông Nguyễn Văn T (bố đẻ bị cáo) trình bày nội dung: Gia đình luôn tích cực tham gia ủng hộ các cuộc vận động tại địa phương như: Ủng hộ ngày công, tiền, nhu yếu phẩm trong việc xây dựng nông thôn mới và ủng hộ covid 19, ủng hộ người nghèo, đồng bào khó khăn vùng lũ... tại địa phương, đơn của ông T có xác nhận của địa phương. Như vậy, bị cáo N có thêm nhiều tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 BLHS.

Bị cáo B có thêm tài liệu mới là Giấy xin xác nhận của ông Hoàng Ngọc T1 (bố đẻ bị cáo B) trình bày: Hoàng Ngọc B luôn chấp hành tốt quy định tại địa phương, tích cực đóng góp, ủng hộ trong dịch covid 19, đóng góp nhiều ngày công lao động cho việc xây dựng nông thôn mới nâng cao, tham gia huấn luyện dân quân tự vệ hàng năm, trình bày của ông T1 có xác nhận của chính quyền địa phương. Do đó, bị cáo B có thêm 01 tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 BLHS.

Xét thấy, các bị cáo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, có thêm tình tiết mới tại cấp phúc thẩm. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo, giảm cho mỗi bị cáo một phần hình phạt theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà.

[3]. Xét kháng cáo của Lê Khả C:

Bị cáo là đồng phạm và có vai trò sau các bị cáo N và B. Tại cấp sơ thẩm, bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ gồm: thành khẩn khai báo, lập công chuộc tội quy định tại điểm s, u (Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H Quyết định khởi tố vụ án hình sự từ thông tin tố giác tội phạm của bị cáo Lê Khả C) khoản 1 Điều 51 BLHS.

Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo xuất trình thêm các tài liệu gồm: Các Giấy chứng nhận hiến máu tình nguyện của bị cáo năm 2020 và 2024; Giấy ghi nhận của UBMTTQ Việt Nam xã H về việc bị cáo đóng góp 5.000.000₫ xây dựng nhà ở cho hộ nghèo, hộ chính sách; 01 Biên lai thu tiền do bị cáo nộp số tiền 1.400.000đ tiền là tiền truy thu và án phí theo quyết định của bản án sơ thẩm; 02 Biên bản tiếp nhận, thu gom vũ khí vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ, pháo và đồ chơi nguy hiểm ngày 04/01/2025 của Công an xã H và ngày 07/02/2025 của Công an huyện H về việc bị cáo giao nộp 01 khẩu súng ngắn, tại phiên toà phúc thẩm bị cáo khai bị cáo đang đi trên đường trục chính của xã H, gặp một số người đang xô xát nhau, bị cáo nhìn thấy khẩu súng văng ra bên đường nên đem đến Công an giao nộp; 01 đơn xin xác nhận gia đình thờ cúng liệt sỹ, có xác nhận của chính quyền địa phương về việc ông Lê Khả D bố đẻ bị cáo thờ cúng liệt sỹ Lê Khả P, nhưng do sức khoẻ yếu nên giao lại việc thờ cúng liệt sỹ cho con trai Lê Khả C thực hiện, có xác nhận của chính quyền địa phương.

Xét thấy, bị cáo không có tình tiết tăng nặng, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS, có nhân thân tốt, đã nhận thức được sai lầm và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, tại cấp phúc thẩm có thêm nhiều tình tiết giảm nhẹ mới, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo tại địa phương nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội. Vì vậy, HĐXX chấp nhận kháng cáo của bị cáo và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, sửa bản án sơ thẩm, giữ nguyên mức hình phạt nhưng cho bị cáo được hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách theo quy định của BLHS.

[4]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[5]. Về án phí: Kháng cáo của các bị cáo được chấp nhận nên không phải chịu án phí phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c, e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án.

  1. Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Văn N, Hoàng Ngọc B, Lê Khả C.
  2. Sửa Bản án sơ thẩm số: 81/2024/HS-ST ngày 28 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hoằng Hoá, tỉnh Thanh Hóa đối với Nguyễn Văn N, Hoàng Ngọc B, Lê Khả C như sau:
    • Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 190; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn N và Hoàng Ngọc B.
    • Xử phạt: Nguyễn Văn N 05 (Năm) năm 08 (T4) tháng tù về tội “Buôn bán hàng cấm”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/11/2023.

      Xử phạt: Hoàng Ngọc B 05 (Năm) năm 07 (B1) tháng tù về tội “Buôn bán hàng cấm”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20/11/2023.

    • Căn cứ Điểm g khoản 2 Điều 190; điểm s, u khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 54 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự
    • Xử phạt Lê Khả C 36 (Ba mươi sáu) tháng tù về tội “Buôn bán hàng cấm”, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 60 (Sáu mươi) tháng, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

    Giao bị cáo Lê Khả C cho UBND xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

    Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  3. Bị cáo Nguyễn Văn N đã nộp 9.700.000đ tiền truy thu và 200.000đ án phí sơ thẩm tại Biên lai thu tiền số 0001799 ngày 09/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoằng Hoá;
  4. Bị cáo Lê Khả C đã nộp 1.200.000đ tiền truy thu và 200.000đ án phí sơ thẩm tại Biên lai thu tiền số 0001798 ngày 04/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoằng Hoá;
  5. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  6. Án phí phúc thẩm: Các Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
  7. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • p7,VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • TAND huyện Hoằng Hoá;
  • Cơ quan thi hành án hình sự;
  • Trại tạm giam Công an Thanh Hoá;
  • Chi cục THADS huyện Hoằng Hoá;
  • UBND xã Hoằng Thịnh, H. Hoằng Hoá;
  • Bị cáo;
  • Lưu HSVA; Tòa HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thu Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 18/2025/HS-PT ngày 28/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về hình sự phúc thẩm (buôn bán hàng cấm)

  • Số bản án: 18/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Buôn bán hàng cấm)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 28/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Buôn bán hàng cấm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger