|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KON TUM Bản án số: 18/2025/HS-PT Ngày: 26/6/2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH KON TUM
- Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Như Mai.
Các Thẩm phán: Ông Vũ Văn Thuấn.
Ông Nguyễn Văn Pho.
- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Thúy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Kon Tum tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Trúc Mai và bà Nguyễn Thị Bích P - Kiểm sát viên.
Trong ngày 26/6/2025 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Kon Tum xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 37/2025/TLPT-HS ngày 29/5/2025 đối với bị cáo Phạm Văn T, do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 09/2025/HS-ST ngày 22/4/2025 của Tòa án nhân dân huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum.
- Bị cáo có kháng cáo:
Phạm Văn T; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 28 tháng 4 năm 1997 tại Quảng Nam; Nơi cư trú: Thôn T, xã I, thành phố K, tỉnh Kon Tum; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Thẻ căn cước công dân số: [...], cấp ngày 28 tháng 6 năm 2021, nơi cấp: Cục C về TTXH - Bộ C1; Con ông Phạm Văn S, sinh năm: 1971 và bà Phạm Thị T1, sinh năm: 1976, cha mẹ bị cáo hiện đạng sinh sống tại thôn T, xã I, thành phố K, tỉnh Kon Tum; Gia đình bị cáo có hai chị em lớn nhất sinh năm 1995 nhỏ nhất sinh năm 1997, bị cáo là người con thứ hai; Bị cáo chưa có vợ con.
Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt).
Bị hại: Chị Y H, sinh ngày 06/07/1981; địa chỉ: Thôn V, xã Đ, huyện K, tỉnh Kon Tum (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm, vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 17 giờ 00 phút ngày 19/10/2024, bị cáo Phạm Văn T được chị Trần Thị L liên hệ thuê chở hai con gái của chị là Đinh Trần Quỳnh A và Đinh Trần Hoàng A1 từ Tp K lên thị trấn M, huyện K thì bị cáo T đồng ý. Sau đó bị cáo T điều khiển xe ô tô BKS 82A-092.85 đến nhà chị L tại C D, Tp K, tỉnh Kon Tum đón hai con gái của chị L rồi đi theo Quốc lộ B hướng Tp K đi huyện K. Đến khoảng 18 giờ, bị cáo T điều khiển xe ô tô đến đoạn đường thuộc thôn A thị trấn Đ (gần ngã ba trước cổng chào đi vào thị trấn Đ), phía bên phải đường (theo hướng đi của ô tô) có biển hiệu báo “Đi chậm”, liền sau đó là một trụ đèn chớp màu vàng, trên trụ đèn có gắn 02 biển cảnh báo có chữ “Chú ý quan sát” nhưng T không giảm tốc độ, khi thấy xe ô tô BKS: 82A-083.44 do anh Đào Viết V (SN:1994, Trú tại: thôn A, thị trấn Đ, huyện Đ) điều khiển phía trước cùng chiều T đã điều khiển xe ô tô đi vượt lên phía trước xe anh V rồi đi vào khu vực ngã ba trước cổng chào thị trấn Đ với vận tốc từ 74,97 km/h đến 76,46 km/h; khi xe ô tô đi qua khu vực ngã ba thì T phát hiện xe mô tô BKS: 82K1-002.67 do bà Y H điều khiển chở theo cháu Bùi Thanh T2 (SN: 2019: Trú tại: thôn A, thị trấn Đ, huyện K) và anh A D (SN: 2008: Trú tại: thôn V, xã Đ, huyện K) đi từ hướng huyện K về huyện K đang có tín hiệu đèn xi nhan xin qua đường và đang sang đường để đi vào thị trấn Đ. Lúc này, T đánh lái sang bên phải đồng thời đạp phanh (thắng) để tránh xe mô tô của bà Y H nhưng do khoảng cách giữa hai xe gần và T đi với tốc độ cao nên xe ô tô do T điều khiển đã tông vào xe mô tô do bà Y H điều khiển. Hậu quả: Cháu Bùi Thanh T2 chết tại chỗ, bà Y H bị thương được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh K; xe mô tô BKS: 82K1-002.67 và xe ô tô BKS: 82A-092.85 bị hư hỏng.
Kết luận giám định pháp y về tử thi và thương tích:
Tại bản kết luận giám định tử thi số 490/KLGĐTT-KTHS ngày 05/11/2024 của Phòng K - Công an tỉnh K kết luận nguyên nhân chết của cháu Bùi Thanh T2 là đa chấn thương.
Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 17/KLTTCT-TTPY đề ngày 18/02/2025 của Trung tâm pháp y tỉnh K kết luận đối với thương tích của Y H, tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Y H tại thời điểm giám định là: 35% (Ba mươi lăm phần trăm).
Kết quả kiểm tra và xét nghiệm nồng độ cồn, chất ma túy trong cơ thể của người điều khiển phương tiện.
- Đối với anh Phạm Văn T: Tại phiếu kết quả đo nồng độ cồn trong hơi thở của Phòng PC08 - Công an tỉnh K ngày 19/10/2024, kết luận nồng độ cồn trong hơi thở, trong máu của bị can Phạm Văn T là 0 mg/l. Âm tính với các chất kích thích khác.
- Đối với bà Y H: Tại phiếu kết quả xét nghiệm nồng độ cồn của khoa hóa sinh của Bệnh viện Đa khoa tỉnh K ngày 19/10/2024, kết luận E (nồng độ cồn) trong máu của Y H là 61.4 mg/l. Âm tính với các chất kích thích khác.
Với nội dung trên Bản án số 09/2025/HS-ST ngày 22/4/2025 của Tòa án nhân dân huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum đã xét xử sơ thẩm và quyết định như sau:
Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn Trọng phạm T3 “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; Điều 38; điểm b, s, khoản 1, Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn T 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện thi hành án hoặc bắt thi hành án.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về vật chứng, án phí quyền kháng cáo, thời hạn kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 05/5/2025, bị cáo Phạm Văn T kháng cáo toàn bộ bản án số 09/2025/HS-ST ngày 22/4/2025 của Tòa án nhân dân huyện Kon Rẫy xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo. Tại phiên tòa bị cáo thay đổi kháng cáo xin hưởng án treo.
Trước khi xét xử và tại phiên tòa, bị hại chị Y H trình bày đề nghị giữ nguyên mức hình phạt 30 tháng tù mà Tòa án huyện K đã tuyên đối với bị cáo.
Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa: Đơn kháng cáo của bị cáo trong thời hạn luật định, đảm bảo về hình thức và chủ thể kháng cáo. Về nội dung: Tại phiên tòa bị cáo cung cấp Huân chương kháng chiến hạng nhất của ông Phạm Văn L1 và bị cáo khai là ông nội, tuy nhiên không có căn cứ nào thể hiện ông Phạm Văn L1 là ông nội của bị cáo nên không chấp nhận để xem xét. Ngoài ra, cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ, đánh giá đúng tính chất mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo và xử phạt bị cáo mức án 30 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 là phù hợp, đúng pháp luật.
Đề nghị HĐXX áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, 356 BLHS, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Văn T, giữ nguyên bản án 09/2025/HS-ST ngày 22/4/2025 của Tòa án nhân dân huyện Kon Rẫy.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo Phạm Văn T đảm bảo về thời hạn, nội dung và hình thức theo quy định tại các Điều 331, 332 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó, kháng cáo của bị cáo được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về nội dung: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với lời khai của người bị hại, các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 18 giờ ngày 19/10/2024 bị cáo Phạm Văn T điều khiển xe ô tô BKS 82A-092.85 đi trên Quốc lộ B hướng từ thành phố K đi huyện K, đến đoạn đường thuộc thôn A thị trấn Đ khi xe ô tô đi qua khu vực ngã ba thì T phát hiện xe mô tô BKS 82K1-002.67 do bà Y H điều khiển chở theo cháu Bùi Thanh T2 và anh A D đi từ hướng huyện K về huyện K đang có tín hiệu đèn xi nhan xin qua đường và đang sang đường để đi vào thị trấn Đ. Lúc này, T đánh lái sang bên phải đồng thời đạp phanh (thắng) để tránh xe mô tô của bà Y H. Nhưng do khoảng cách giữa hai xe gần và bị cáo T đi với tốc độ cao nên xe ô tô do bị cáo T điều khiển đã tông vào xe mô tô do bà Y H điều khiển. Hậu quả: Cháu Bùi Thanh T2 chết tại chỗ, bà Y H bị thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 35% và 2 xe bị hư hỏng. Hành vi trên của bị cáo Phạm Văn T bị Tòa án nhân dân huyện Kon Rẫy xét xử về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét kháng cáo của bị cáo thấy rằng:
Khi quyết định hình phạt Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, không có tình tiết tăng nặng; bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại Bùi Thanh T2 số tiền 60 triệu đồng, bồi thường cho bà Y H số tiền 50 triệu đồng, bị cáo đã được áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ hình phạt.
Tuy nhiên, trong vụ án này cần xác định bị hại cũng có một phần lỗi khi điều khiển xe mô tô có nồng độ cồn là 61.4 mg/l và chở cháu Bùi Thanh T2 trên xe không đội mũ bảo hiểm theo quy định, do vậy cần áp dụng tình tiết người bị hại có một phần lỗi là tình tiết giảm nhẹ khác quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Đối với tài liệu bị cáo cung cấp là Huân chương kháng chiến hạng nhất của ông Phạm Văn L1 nhưng không có căn cứ xác định là ông nội của bị cáo nên không chấp nhận.
Từ phân tích trên, Hội đồng xét xử chấp nhận một phần đơn kháng cáo của bị cáo Phạm Văn T, sửa án sơ thẩm về hình phạt.
[4] Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận một phần nên bị cáo không phải chịu án phí phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015;
Chấp nhận một phần đơn kháng cáo của bị cáo Phạm Văn T.
Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 09/2025/HS-ST ngày 22/4/2025 của Tòa án nhân dân huyện Kon Rẫy về phần hình phạt.
1. Về tội danh và hình phạt:
Tuyên bố bị cáo Phạm Văn Trọng phạm T3 “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Phạm Văn T 28 (hai tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
2. Về án phí: Căn cứ Điều 135 và Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 2 Điều 21, điểm h khỏan 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Bị cáo Phạm Văn T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (26/6/2025).
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Nguyễn Văn Pho |
Nguyễn Thị Như Mai |
|
Vũ Văn Thuấn |
Nơi nhận:
- - TANDTC;
- - VKSND tỉnh Kon Tum;
- - VKSND huyện Kon Rẫy;
- - TAND huyện Kon Rẫy;
- - Chi cục THADS huyện Kon Rẫy;
- - Công an huyện Kon Rẫy;
- - Phòng hồ sơ Công an tỉnh Kon Tum;
- - UBND xã Ia Chim, tp Kon Tum;
- - Công an xã Ia Chim, tp Kon Tum.
- - Bị cáo;
- - Lưu hồ sơ vụ án.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Như Mai |
Bản án số 18/2025/HS-PT ngày 26/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KON TUM về hình sự phúc thẩm
- Số bản án: 18/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 26/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KON TUM
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
