|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 18/2025/HS-PT Ngày 25-02-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Hiếu
Các Thẩm phán: Ông Đào Trọng Hải
Bà Nguyễn Thị Ly
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thanh Trúc – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Nghiêm Thị Lan Hương – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 181/2024/TLPT-HS ngày 08/11/2024 đối với bị cáo Lê Văn C và đồng phạm do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 172/2024/HSST ngày 27/9/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
- Các bị cáo có kháng cáo:
-
Lê Văn C, sinh năm 1993, tại tỉnh Thanh Hóa; Nơi đăng ký thường trú: Tổ H, ấp C, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai; Nơi cư trú: Không rõ ràng; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn Q và bà Trịnh Thị T (đã chết); bị cáo chưa có vợ con;
Tiền án: Tại Bản án số 50/2015/HSST ngày 19/5/2015 của Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai đã xử phạt 10 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, bị cáo chưa chấp hành xong án phí.
Tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 14/9/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. (Có mặt)
-
Nguyễn Phong P (tên gọi khác: Q1), sinh năm 1995; tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nơi đăng ký thường trú: Thôn C, xã T, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; chỗ ở: không rõ ràng; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Thanh P1 và bà Bùi Thị T1; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Tại Bản án số: 83/2024/HS-ST ngày 02/7/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã xử phạt 30 tháng tù về các tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
Bị cáo bị bắt trong một vụ án khác vào ngày 14/11/2023, hiện đang chấp hành án tại Trại giam X (Có mặt).
Ngoài ra, trong vụ án còn có bị cáo khác, bị hại nhưng không kháng cáo và không liên quan đến kháng cáo nên Tòa không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn P2, Nguyễn Phong P, Lê Văn C là bạn bè với nhau. Vào ngày 10/9/2023, P và C đến phòng trọ của P2 ở xã T, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu chơi. Lúc này, do cả ba không có tiền tiêu xài nên P2 rủ C và P đi tìm kiếm tài sản để trộm cắp thì C và P đồng ý. P2 chuẩn bị một túi màu đen bên trong có 01 cây kéo cắt sắt; 02 cây kìm cắt sắt rồi điều khiển xe mô tô hiệu Wave màu đỏ (không rõ biển số), còn C điều khiển xe mô tô hiệu Jupiter màu đen (không rõ biển số) chở P đi quanh địa bàn xã T, thị xã P. Đến khoảng 03 giờ ngày 11/9/2023, khi cả nhóm đi đến nhà của chị Lê Thị T2 tại ấp E, xã T, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu phát hiện trong sân nhà có chiếc xe mô tô hiệu Honda, loại xe Lead, màu đỏ nâu, BKS 72E1 – 794.26 nên cả nhóm dừng xe lại đi đến một con hẻm gần đó. P2 nói P ở lại trông xe, còn P2 và C đi dọc theo hông căn nhà ra phía sau rồi dùng kéo cắt tấm tôn cửa, dùng kìm cắt dây xích để vào trong nhà. Sau đó, C dọn dẹp đồ hai bên lối đi rồi mở cửa để P2 đi lên trước sân nhà dắt chiếc xe mô tô trên ra ngoài theo lối cửa sau đi đến chỗ P đang đứng đợi. Sau đó, C ngồi lên xe mô tô vừa trộm được để P2 điều khiển xe mô tô Wave đẩy về phòng trọ của P2 cất dấu. Ngày hôm sau, P2 đưa biển số xe 59Y3-976.92 cho C để thay thế biển số của xe L vừa trộm được. Đến khoảng 02 giờ ngày 14/9/2023, P2, C điểu khiển xe mô tô Lead trên đi đến huyện Đ để trộm cắp tài sản, lúc này P2 xuống xe đi bộ để tìm kiếm tài sản còn C dắt bộ xe đi một mình thì bị Công an xã P, huyện Đ nghi ngờ nên mời C về trụ sở làm việc, còn P2 chạy thoát. Quá trình làm việc tại cơ quan Công an các bị cáo C, P2, P đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như trên.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 188/KL ngày 14/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự của Ủy ban nhân dân thị xã P đã kết luận: 01 xe máy Honda Lead, màu đỏ - nâu, BKS 72E1- 794.26, số máy: JF89E0317015, số khung: RLHJF7936MZ010123, mua mới vào ngày 24/3/2021. Tại thời điểm ngày 11/9/2023 tài sản có giá trị là 22.500.000 đồng (Hai mươi hai triệu, năm trăm nghìn đồng).
2. Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 172/2024/HSST ngày 27/9/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã quyết định:
Tuyên bố các bị cáo Lê Văn C, Nguyễn Phong P phạm tội “Trộm cắp tài sản”
+ Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 173; Điều 38; Điều 17; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự:
- Xử phạt bị cáo Lê Văn C 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tính từ ngày 14/9/2023.
+ Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 173; Điều 38; Điều 17; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 55; Điều 56 của Bộ luật Hình sự:
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Phong P 02 (Hai) năm tù. Tổng hợp hình phạt 30 (Ba mươi) tháng tù của Bản án số: 83/2024/HS-ST ngày 02/7/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Buộc bị cáo Nguyễn Phong P phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là: 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù, tính từ ngày 14/11/2023.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên xử bị cáo Nguyễn Văn P2, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
3. Ngày 07/10/2024, bị cáo Lê Văn C có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Ngày 08/11/2024, bị cáo Nguyễn Phong P có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
4. Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình và giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Các bị cáo có kháng cáo trong thời hạn luật định nên được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Về nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Lê Văn C 02 năm 06 tháng tù, bị cáo Nguyễn Phong P 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là phù hợp, đúng người, đúng tội. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào mới làm căn cứ giảm nhẹ hình phạt. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên xử không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
5. Các bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, nói lời sau cùng thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức hình phạt đối với các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
Đơn kháng cáo của các bị cáo Lê Văn C và Nguyễn Phong P làm và gửi trong thời hạn luật định nên hợp lệ, Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về tội danh và điều luật áp dụng:
Tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 03 giờ ngày 11/9/2023 tại ấp E, xã T, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu các bị cáo Nguyễn Văn P2, Lê Văn C, Nguyễn Phong P đã có hành vi lén lút lấy 01 xe máy Honda Lead, màu đỏ -nâu, BKS 72E1- 794.26 có giá trị 22.500.000₫ (Hai mươi hai triệu năm trăm ngàn đồng) của bà Lê Thị T2.
Hành vi nêu trên của các bị cáo Lê Văn C, Nguyễn Phong P đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo với tội danh nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo:
Hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo C có 01 tiền án về tội “Cố ý gây thương tích”; bị cáo P thì ngày 02/7/2024 bị Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xử phạt 30 tháng tù về các tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”; tài sản trộm cắp có giá trị lớn, các bị cáo thực hiện thủ đoạn rất nguy hiểm như chuẩn bị một túi màu đen bên trong có 01 cây kéo cắt sắt, 02 cây kìm cắt sắt; dùng kéo cắt tấm tôn cửa, dùng kìm cắt dây xích để vào trong nhà lấy tài sản, bị cáo C còn dọn dẹp đồ hai bên lối đi rồi mở cửa để P2 đi lên trước sân nhà dắt chiếc xe mô tô; sau khi lấy được xe mô tô thì C còn dùng chiếc xe trên để đi trộm cắp tiếp, tuy nhiên trên đường đi đã bị bắt giữ. Toà án cấp sơ thẩm khi lượng hình đã xem xét đầy đủ tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của các bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân và tuyên xử bị cáo Lê Văn C 02 năm 06 tháng tù, bị cáo Nguyễn Phong P 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là phù hợp. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào mới làm căn cứ giảm nhẹ hình phạt.
Do đó, Hội đồng xét xử thống nhất không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[4] Về án phí hình sự phúc thẩm:
Do kháng cáo không được chấp nhận nên các bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
1. Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Lê Văn C, Nguyễn Phong P; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 172/2024/HS-ST ngày 27/9/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Tuyên bố các bị cáo Lê Văn C, Nguyễn Phong P phạm tội “Trộm cắp tài sản”
- - Căn cứ: Khoản 1 Điều 173; Điều 17; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Lê Văn C 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 14/9/2023.
- - Căn cứ: Khoản 1 Điều 173; Điều 17; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Phong P 02 (Hai) năm tù.
- Căn cứ Điều 55; Điều 56 Bộ luật Hình sự: Tổng hợp hình phạt 30 (Ba mươi) tháng tù của Bản án số: 83/2024/HS-ST ngày 02/7/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Buộc bị cáo Nguyễn Phong P phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là: 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 14/11/2023.
2. Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 172/2024/HSST ngày 27/9/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
3. Án phí hình sự phúc thẩm: Các bị cáo Lê Văn C, Nguyễn Phong P mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thành Hiếu |
Bản án số 18/2025/HS-PT ngày 25/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU về hình sự phúc thẩm (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 18/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 25/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Văn C và đồng phạm
