TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 18/2025/HS-PT Ngày: 20 - 3 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Hải.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Mạnh Hùng và ông Trần Công Đoàn.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Mừng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đào - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 25/2025/HS-PT ngày 25/02/2025 đối với các bị cáo Vũ Văn L và Nguyễn Văn T, do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số14/2025/HS-ST ngày 23/01/2025 của Tòa án nhân dân huyện Lý Nhân.
- Các bị cáo có kháng cáo:
- Vũ Văn L, sinh năm 2002 tại tỉnh Hà Nam; nơi ĐKHKTT: thôn A, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng; Chỗ ở hiện nay: thôn K, xã H, huyện L, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Vũ Quốc Đ và bà Nguyễn Thị Đ1; có vợ là Phạm Thị C và có 01 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 18/12/2024 đến ngày 26/12/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
- Nguyễn Văn T, sinh năm 2003 tại tỉnh Hà Nam; nơi ĐKHKTT: thôn D, thị trấn L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng; chỗ ở hiện nay: thôn K, xã H, huyện L, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn Đ2 và bà Bùi Thị T1; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 18/12/2024 đến ngày 26/12/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
- Trong vụ án còn có 9 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị, Toà án không triệu tập, gồm:
- Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1972.
- Anh Nguyễn Văn T2, sinh năm 2000.
- Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 2001.
- Ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1964.
- Bà Bùi Thị T1, sinh năm 1983.
- Bà Nguyễn Thị Đ1, sinh năm 1976.
- Ông Vũ Quốc Đ, sinh năm 1973.
Cùng địa chỉ: thôn K, xã H, huyện L, tỉnh Hà Nam.
- Anh Nguyễn Văn M, sinh năm 2003.
- Ông Nguyễn Văn M1, sinh năm 1974.
Cùng địa chỉ: thôn P, xã H, huyện L, tỉnh Hà Nam.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Với mục đích thu lợi bất chính nên khoảng đầu tháng 11/2024, Vũ Văn L và Nguyễn Văn T cùng rủ nhau mua pháo nổ về bán lại kiếm lời. L và T thỏa thuận mỗi người góp 6.000.000 đồng để mua pháo nổ trên mạng về bán, lãi được bao nhiêu sẽ chia đôi. T dùng điện thoại truy cập vào mạng xã hội Facebook sử dụng tài khoản mang tên “Nguyễn Văn T” tìm và đặt mua của 01 người trên mạng (không nhớ tên tài khoản, nhân thân, lai lịch) 14 giàn pháo hoa nổ, loại 49 quả với giá 820.000 đồng/giàn thì người này đồng ý và hẹn giao pháo ở khu vực nhà máy nước thuộc xã H, huyện L, tỉnh Hà Nam và T sẽ trả bằng tiền mặt cho người bán.
Sau khi mua được pháo, T mang toàn bộ số pháo trên đưa cho L cất giữ tại nhà L để bán lại kiếm lời. Sau đó L và T tự giới thiệu với người quen biết cùng xã về việc mình có pháo để bán, ai cần mua thì liên hệ. Trong khoảng thời gian từ tháng 11 đến tháng 12/2024, Nguyễn Văn T đã bán cho ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1972 (ở cùng thôn) 03 giàn pháo hoa nổ, loại 49 quả với giá 1.450.000 đồng/giàn; bán cho anh Nguyễn Văn M, sinh năm 2003, trú tại: thôn P, xã H 02 giàn pháo hoa nổ, loại 49 quả với giá 1.200.000 đồng/giàn; bán cho anh Nguyễn Văn T, sinh năm 2001 (ở cùng thôn) 02 giàn pháo hoa nổ, loại 49 quả với giá 1.450.000 đồng/giàn; Vũ Văn L bán cho anh Nguyễn Văn T2, sinh năm 2000 (ở cùng thôn) 02 giàn pháo hoa nổ, loại 49 quả với giá 1.500.000 đồng/giàn.
Chiều ngày 17/12/2024, một người đàn ông tên Q (không rõ nhân thân, lai lịch) ở xã H, huyện L nhắn tin qua mạng xã hội Facebook cho Vũ Văn L hỏi mua 04 giàn pháo hoa nổ thì L đồng ý và hẹn tối cùng ngày sẽ giao hàng. Sau khi được L thông báo về việc bán pháo cho Q, khoảng 22 giờ ngày 17/12/2024, T điều khiển xe mô tô BKS: 90B4 - 003.91 đi đến nhà đón L để cùng mang pháo đi bán. L lấy từ trong nhà 01 thùng catton bên trong có 04 giàn pháo hoa nổ, loại 49 quả mang ra để ở yên xe BKS: 90B4 - 003.91 giữa vị trí ngồi của L và T. Sau đó T điều khiển xe mô tô chở L ngồi sau ôm thùng pháo hoa nổ đi bán. Trên đường đi đến địa phận thôn K, xã H, huyện L thì bị Tổ công tác của Đội Cảnh sát điều tra về tội phạm hình sự - kinh tế ma túy Công an huyện L phối hợp với Công an xã H đang làm nhiệm vụ tuần tra phát hiện có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu dừng xe để kiểm tra. Nguyễn Văn T và Vũ Văn L khai nhận đang mang pháo hoa nổ đi bán. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ của Nguyễn Văn T, Vũ Văn L 04 hộp chữ nhật đều có KT(18x10x18)cm, các mặt đều được dán giấy nilon, trên giấy có các ký tự “T4049”; “49”; “Made in China” được niêm phong trong thùng catton ký hiệu QT1. Ngoài ra còn thu giữ của Nguyễn Văn T 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vario, BKS: 90B4 - 003.91.
Khám xét chỗ ở của Nguyễn Văn T không thu giữ đồ vật, tài liệu liên quan. Khám xét chỗ ở của Vũ Văn L thu giữ trên mặt tủ lạnh (tủ đông) góc nhà ăn 01 hộp hình chữ nhật KT(17x17x10)cm, vỏ ngoài có bọc nilon có họa tiết, nhiều màu sắc khác nhau, ký hiệu “49 Shots” và nhiều chữ nước ngoài, được niêm phong trong hộp catton ký hiệu KX01.
Ngày 18/12/2024, ông Nguyễn Văn H tự nguyện giao nộp 01 hộp hình chữ nhật KT(17x17x10)cm, vỏ ngoài bằng nilon có họa tiết, nhiều màu sắc khác nhau, có chữ nước ngoài, ký hiệu “49 Shots"; 02 hộp hình chữ nhật KT(17,5x17,5x10)cm vỏ ngoài bằng nilon có họa tiết nhiều màu sắc khác nhau, có chữ nước ngoài, được niêm phong trong hộp catton ký hiệu TN01.
Ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1964 (bố đẻ anh Nguyễn Văn T2) tự nguyện giao nộp 01 hộp hình chữ nhật KT(17x17x10)cm, vỏ ngoài bằng nilon có họa tiết nhiều màu sắc khác nhau, có chữ nước ngoài, ký hiệu “49 Shots”; 01 hộp hình chữ nhật KT(17,5x17,5x10)cm vỏ ngoài bằng nilon có họa tiết nhiều màu sắc khác nhau, có chữ nước ngoài, được niêm phong trong hộp catton ký hiệu GN2.
Anh Nguyễn Văn T tự nguyện giao nộp 02 hộp hình chữ nhật KT(18x10x18)cm, trên các mặt của hộp có dán giấy nilon nhiều hoa văn màu sắc khác nhau, chữ nước ngoài, có ký tự “T4049” “49”, “Made in China”, được niêm phong trong hộp catton ký hiệu GN1.
Ông Nguyễn Văn M1, sinh năm 1974 (bố đẻ anh Nguyễn Văn M) tự nguyện giao nộp 02 hộp hình chữ nhật KT(17x17x10)cm, vỏ ngoài bằng nilon có họa tiết nhiều màu sắc khác nhau, có chữ nước ngoài, ký hiệu “49 Shots”, được niêm phong trong hộp catton ký hiệu TN.
Bà Bùi Thị T1, sinh năm 1983 (mẹ đẻ Nguyễn Văn T) giao nộp 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 90000330 nhãn hiệu Honda Vario, Biển kiểm soát 90B4 - 003.91 mang tên Bùi Thị T1 để phục vụ điều tra.
Đối với 02 chiếc điện thoại mà Nguyễn Văn T và Vũ Văn L sử dụng để liên lạc, mua, bán pháo: T khai chiếc điện thoại bị hỏng nên đã bỏ đi; L khai đã làm rơi điện thoại trên đường đi bán pháo tối ngày 17/12/2024 nên Cơ quan CSĐT - Công an huyện L không thu giữ được.
Tại bản kết luận giám định số 86/KL-KTHS ngày 23/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh N, kết luận: “Mẫu ký hiệu QT1 là pháo nổ (loại pháo hoa nổ). Tổng khối lượng là 7,328kg, Mẫu ký hiệu KX01 là pháo nổ (loại pháo hoa nổ). Tổng khối lượng là 1,501kg; Mẫu ký hiệu TN01 là pháo nổ (loại pháo hoa nổ). Tổng khối lượng là 5,165kg; Mẫu ký hiệu GN1 là pháo nổ (loại pháo hoa nổ). Tổng khối lượng là 3,477kg; Mẫu ký hiệu GN2 là pháo nổ (loại pháo hoa nổ). Tổng khối lượng là 3,375kg; Mẫu ký hiệu TN là pháo nổ (loại pháo hoa nổ). Tổng khối lượng là 3,333kg".
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vario BKS: 90B4 - 003.91; 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 90000330 mang tên Bùi Thị T1, tài liệu điều tra xác định là giấy tờ, tài sản hợp pháp của bà Bùi Thị T1 (mẹ đẻ Nguyễn Văn T). Ngày 17/12/2024, T tự ý lấy xe mô tô điều khiển đi bán pháo nổ, bà T1 hoàn toàn không biết. Ngày 02/01/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe mô tô cùng giấy tờ trên cho bà Bùi Thị Tuyết .
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 14/2025/HS-ST ngày 23 tháng 01 năm 2025 của Toà án nhân dân huyện Lý Nhân quyết định.
Căn cứ điểm c khoản 1, khoản 4 Điều 190;điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 35; Điều 47; Điều 58; Điều 38Bộ luật Hình sự.Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tuyên bố Vũ Văn L và Nguyễn Văn T phạm tội “Buôn bán hàng cấm”. Xử phạt:
Vũ Văn L 18 (Mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 18/12/2024 đến ngày 26/12/2024.
Nguyễn Văn T 18 (Mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 18/12/2024 đến ngày 26/12/2024.
Phạt tiền Vũ Văn L và Nguyễn Văn T mỗi bị cáo 7.000.000 đồng nộp ngân sách Nhà nước.
Tịch thu và tiêu huỷ: Toàn bộ số pháo hoa nổ được hoàn trả sau giám định (niêm phong trong các hộp bìa catton ký hiệu QT1; KX01; TN; TN01; GN1; GN2).
Truy thu nộp Ngân sách nhà nước: Số tiền 12.650.000 (Mười hai triệu sáu trăm năm mươi nghìn) đồng. Trong đó truy thu bị cáo Vũ Văn L 6.325.000 (Sáu triệu ba trăm hai mươi lăm nghìn) đồng và Nguyễn Văn T 6.325.000 (Sáu triệu ba trăm hai mươi lăm nghìn) đồng. Đối với số tiền mà các bị cáo Vũ Văn L và Nguyễn Văn T đã nộp (mỗi bị cáo nộp 12.500.000 (Mười hai triệu năm trăm nghìn) đồng) theo biên lai thu số 0000995 và biên lai thu số 0000996 ngày 16/01/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lý Nhân được đối trừ khi thi hành án. Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Trong thời hạn luật định các bị cáo Vũ Văn L và Nguyễn Văn T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam: Trong giai đoạn xét xử phúc thẩm, các bị cáo xuất trình thêm một số tình tiết giảm nhẹ hình phạt theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Không chấp nhận kháng cáo giảm nhẹ hình phạt; chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của các bị cáo Vũ Văn L và Nguyễn Văn T. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 14/2025/HS-ST ngày 23 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Lý Nhân.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố các bị cáo Vũ Văn L và Nguyễn Văn T phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
Xử phạt bị cáo Vũ Văn L 18 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (20/3/2025).
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 18 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (20/3/2025).
Giao các bị cáo Vũ Văn L và Nguyễn Văn T cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện L, tỉnh Hà Nam giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Án phí hình sự phúc thẩm các bị cáo không phải chịu.
Các bị cáo đều thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như trong bản án sơ thẩm đã xác định; nhất trí với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho các bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của các bị cáo Vũ Văn L và Nguyễn Văn T trong thời hạn luật định, nội dung đảm bảo theo quy định tại khoản 2 Điều 332 Bộ luật tố tụng hình sự nên là hợp lệ, được Hội đồng xét xử xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.
[2] Về tội danh: Lời khai của các bị cáo tại phiên toà phúc thẩm phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Do đó đủ cơ sở kết luận: Hồi 22 giờ 30 phút ngày 17/12/2024, tại thôn K, xã H, huyện L, tỉnh Hà Nam, Nguyễn Văn T điều khiển xe mô tô BKS: 90B4 - 003.91 chở Vũ Văn L đang trên đường mang theo 4 hộp pháp hoa nổ có khối lượng 7,328 kg để bán thì bị Tổ công tác của Đội cảnh sát điều tra về tội phạm hình sự - kinh tế - ma túy Công an huyện L phối hợp với Công an xã H phát hiện, bắt quả tang. Khám xét nơi ở của Vũ Văn L thu giữ 1,501kg pháo hoa nổ. Ngoài ra Nguyễn Văn T và Vũ Văn L trước đó đã bán 09 hộp pháo hoa nổ, loại 49 quả có tổng khối lượng 15,350kg cho ông Nguyễn Văn H, anh Nguyễn Văn T2, anh Nguyễn Văn T và anh Nguyễn Văn M thu lợi bất chính số tiền 5.270.000. Tổng khối lượng pháo hoa nổ Nguyễn Văn T và Vũ Văn L cất giữ để bán và đã bán là 24,179kg. Toà án cấp sơ thẩm tuyên bố các bị cáo phạm tội “Buôn bán hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 190 là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
[3] Về kháng cáo của các bị cáo.
[3.1] Về kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện nộp lại số tiền tiền thu lợi bất chính nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tòa án nhân dân huyện Lý Nhân đã căn cứ nhân thân, tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, từ đó quyết định xử phạt mỗi bị cáo 18 tháng tù là phù hợp. Vì vậy, kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Vũ Văn L và Nguyễn Văn T không có căn cứ chấp nhận.
[3.2] Về kháng cáo xin được hưởng án treo: Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo Vũ Văn L có đơn trình bày gia đình có hoàn cảnh khó khăn, bản thân là lao động chính, con còn nhỏ; bị cáo có ông nội là Vũ Việt H2 được tặng Huy chương chiến sỹ vẻ vang, bà nội là Nguyễn Thị L1 được tặng Huân chương kháng chiến, bà ngoại là Nguyễn Thị Q1 được tặng Huy chương kháng chiến hạng nhì, ông ngoại là Nguyễn Văn T3 được tặng Huy chương chiến sỹ vẻ vang. Mẹ đẻ của bị cáo Vũ Văn L là chị ruột của bố bị cáo Nguyễn Văn T nên các bị cáo Vũ Văn L và Nguyễn Văn T được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xét thấy các bị cáo có nhân thân tốt, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ, trong đó có tình tiết giảm nhẹ mới, vì vậy cho các bị cáo Vũ Văn L và Nguyễn Văn T được hưởng án treo cũng đủ điều kiện giáo dục, cải tạo các bị cáo trở thành người tốt, có ích cho gia đình và xã hội. Kháng cáo xin hưởng án treo của các bị cáo được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.
[4] Về án phí hình sự phúc thẩm: Các bị cáo không phải chịu.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị cấp phúc thẩm không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Không chấp nhận kháng cáo giảm nhẹ hình phạt, chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của các bị cáo Vũ Văn L và Nguyễn Văn T; sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 14/2025/HS-ST ngày 23 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Lý Nhân.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Tuyên bố các bị cáo Vũ Văn L và Nguyễn Văn T phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
- Xử phạt:
Bị cáo Vũ Văn L 18 (mười tám) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 (ba mươi sáu) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (20/3/2025).
Bị cáo Nguyễn Văn T 18 (mười tám) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 (ba mươi sáu) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (20/3/2025).
Giao các bị cáo Vũ Văn L và Nguyễn Văn T cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện L, tỉnh Hà Nam giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Án phí hình sự phúc thẩm các bị cáo không phải chịu.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thanh Hải |
Bản án số 18/2025/HS-PT ngày 20/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM về hình sự (buôn bán hàng cấm)
- Số bản án: 18/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Buôn bán hàng cấm)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 20/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Sau khi xét xử sơ thẩm, các bị cáo kháng cáo xin hưởng án treo
