Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2025/HS-PT

Ngày: 16 – 04 – 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẠC LIÊU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Minh Tấn

Các Thẩm phán: Ông Trần Minh Tân

Ông Bùi Anh Tuấn

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hà Trang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà Dương Thục Trinh - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 24/2025/TLPT-HS ngày 10 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo Trần Thái N do có kháng cáo của bị cáo Trần Thái N đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 46/2024/HS-ST ngày 18 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu.

- Bị cáo có kháng cáo: Trần Thái N, sinh ngày 14 tháng 01 năm 1994 tại Bạc Liêu.

Nơi cư trú: ấp M, xã L, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu; nghề nghiệp: nuôi tôm; Trình độ văn hóa (học vấn): 11/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn Q và bà Trần Thùy T; có vợ và 03 con; tiền án: không; tiền sự: 01 lần, ngày 15 tháng 3 năm 2023 bị Công an huyện Đ ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Cố ý làm hư hỏng tài sản” với số tiền 4.000.000 đồng. (Có mặt)

- Người bào chữa cho bị cáo: ông Phạm Quang C, là Luật sư của Công ty L, thuộc Đoàn luật sư tỉnh B. (Có mặt)

Ngoài ra vụ án còn có các bị cáo Trần Văn Q, Trần Thùy T; bị hại không kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Để có tiền nuôi tôm công nghiệp ông Quách Văn Ú cố cho bị cáo Q và bị cáo T phần đất diện tích 6.500m² (thực tế chỉ có khoảng 3000m², gồm khoảng 2000m² đất vườn và khoảng 1000m² là ao nuôi tôm), thời hạn 03 năm, với số tiền 53.110.000đ và ông Ú vẫn là người canh tác trên phần đất cố.

Hết thời hạn 03 năm cố đất, bị cáo Q đã nhiều lần đến nhà đòi tiền nhưng ông Ú không có tiền để trả, nên vào khoảng 11 giờ ngày 19 tháng 8 năm 2023, các bị cáo đã đến nhà ông Ú đòi tiền cố đất nhưng ông Ú không có tiền trả và hai bên có cự cãi và bị cáo T yêu cầu lấy đất lại làm.

Từ đó, bị cáo Q kêu bị cáo T đưa tiền nhờ người đi mua thuốc, khi nhận được thuốc, bị cáo Q kêu bị cáo N đem đổ vào ao nuôi tôm của ông Ú đang canh tác để lấy đất lại làm, hậu quả là tôm, cua, cá của ông Ú bị chết.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 50/HĐ, ngày 10 tháng 9 năm 2023 của Hội đồng định giả tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Đ kết luận: Tổng giá trị tài sản tôm, cua, cá thiệt hại là 7.130.400đ.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 46/2024/HS-ST ngày 18 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu, đã quyết định:

  1. Tuyên bố các bị cáo Trần Văn Q, Trần Thùy T, Trần Thái N phạm tội “Hủy hoại tài sản”.
  2. Căn cứ khoản 1 Điều 178; điểm b, i, s khoản 1 và 2 Điều 51; Điều 65; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Văn Q và bị cáo Trần Thùy T, mỗi bị cáo 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo.
  3. Căn cứ khoản 1 Điều 178; điểm b, i, s khoản 1 và 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật hình sự: xử phạt bị cáo Trần Thái N 06 (sáu) tháng tù.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo.

Sau khi xét xử sơ thẩm, vào ngày 23 tháng 12 năm 2024 bị cáo N kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu phát biểu quan điểm giải quyết vụ án như sau: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm.
  • - Người bào chữa cho bị cáo phát biểu ý kiến tranh luận:
    • + Tội danh và khung hình phạt không có ý kiến.
    • + Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét ngoài các tình tiết giảm nhẹ b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự như bản án sơ thẩm đã áp dụng thì bị cáo được hưởng thêm tình tiết điểm g khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, ông Q1 là ông nội của bị cáo được tặng huân chương; có nhân thân tốt, không có tình tiết tăng nặng. Đề nghị Hội đồng xét xử dưới mức thấp nhất khung hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.
  • - Bị cáo không có ý kiến tranh luận bổ sung và giữ nguyên kháng cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Mặc dù phần đất này gia đình các bị cáo đã nhận cố từ ông Ú nhưng vẫn giao cho ông Ú canh tác, việc các bị cáo sử dụng thuốc làm chết tôm, cua, cá là nhằm mục đích lấy lại đất nhận cố để canh tác nhưng sự việc này không được sự đồng ý của ông Ú; đồng thời các tài sản này vẫn thuộc quyền sở hữu của ông Ú. Cho nên, các bị cáo vẫn phải chịu trách nhiệm khi gây thiệt hại tôm, cua, cá có giá trị 7.130.400đ, là hành vi hủy hoại tài sản. Từ đó, cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo về tội “Hủy hoại tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 của Bộ luật Hình sự là phù hợp với quy định của pháp luật.

[2] Tại cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo như tự nguyện bồi thường thiệt hại; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị hại xin miễn truy cứu đối với bị cáo; được quy định tại điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Trong quá trình xét xử phúc thẩm bị cáo cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ mới theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, đó là ông nội của bị cáo là người có công, được tặng huân chương.

[3] Xét ý kiến người bào chữa và kháng cáo của bị cáo: người bào chữa cho rằng hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn về kinh tế và đang nuôi con nhỏ nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Việc đề nghị của người bào chữa là không phù hợp, bởi: trường hợp bị cáo không phải là đặc biệt khó khăn, mà cũng không phải vì hoàn cảnh mà bị cáo phạm tội; việc bị cáo phạm tội là hủy hoại tài sản của người khác, hành vi này không nhằm phục vụ cho hoàn cảnh và không có liên quan đến từ hoàn cảnh khó khăn. Bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị xử phạt hành chính về hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản người khác nên không đủ điều kiện để hưởng án treo. Bên cạnh đó, việc cấp sơ thẩm đã tuyên phạt bị cáo mức khởi điểm của khung hình phạt và phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ của bị cáo; cho nên Hội đồng xét xử không chấp nhận ý kiến của người bào chữa và kháng cáo của bị cáo về việc đề nghị giảm hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.

[4] Đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp nên được Hội đồng xét xử ghi nhận.

[5] Bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm là 200.000đ.

[6] Các phần quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Thái N.

Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 46/2024/HS-ST ngày 18 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu, đã quyết định:

2. Tuyên bố bị cáo Trần Thái N phạm tội “Hủy hoại tài sản”.

3. Căn cứ vào khoản 1 Điều 178; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Trần Thái N 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày bị bắt đi chấp hành án.

4. Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Buộc bị cáo Trần Thái N nộp án phí hình sự phúc thẩm 200.000đ.

5. Căn cứ vào Điều 343 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Các phần quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, không có liên quan đến kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

6. Căn cứ vào khoản 2 Điều 355 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Gửi Viện kiểm sát cùng cấp;
  • - Gửi Cơ quan THA hình sự có thẩm quyền;
  • - Gửi CQĐT, VKS, TA xét xử sơ thẩm;
  • - Gửi nơi đang giam giữ bị cáo (nếu có);
  • - Gửi người kháng cáo;
  • - Gửi người có liên quan đến kháng cáo hoặc kháng nghị (nếu có);
  • - Gửi Cơ quan THA dân sự có thẩm quyền (nếu có);
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Minh Tấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 18/2025/HS-PT ngày 16/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẠC LIÊU về hình sự phúc thẩm (hủy hoại tài sản)

  • Số bản án: 18/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Hủy hoại tài sản)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 16/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẠC LIÊU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: y
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger