Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2025/HS-PT

Ngày 13 tháng 02 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hà.

Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Minh Huệ và bà Nguyễn Thị Thuý Hoàn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa:

Ông Phạm Mạnh Tính - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 16/2025/TLPT-HS ngày 21 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo Trịnh Duy H, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 130/2024/HSST ngày 18 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình.

  1. Bị cáo kháng cáo: Trịnh Duy H, sinh năm 1976 tại Thái Bình; nơi cư trú: Thôn H, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông Trịnh Duy B và bà Hoàng Thị B1; vợ Nguyễn Thị T (đã ly hôn), có 03 con, con lớn sinh năm 2000, con nhỏ sinh năm 2008; vợ Vũ Thị H1 (đã ly hôn); tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Bản án hình sự số 10/2016/HS-ST ngày 16/3/2016, Toà án nhân dân huyện Tuy Đức, tỉnh Đăk Nông xử phạt 03 tháng tù cho hưởng án treo về tội đánh bạc; Quyết định số 81/QĐ-XPVPHC ngày 20/4/2021 của UBND huyện Đ xử phạt vi phạm hành chính phạt tiền về hành vi đánh bạc; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt.
  2. Bị hại: Ông Hoàng Xuân N, sinh năm 1952 (đã chết).
  3. Người đại diện hợp pháp của bị hại:
    • 3.1. Bà Phạm Thị C, sinh năm 1957 (vợ bị hại); nơi cư trú: Thôn T, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Bình.
    • 3.2. Anh Hoàng Thế D, sinh năm 1982 (con bị hại);
    • 3.3. Anh Hoàng Thành T1, sinh năm 1983 (con bị hại);

    Đều trú tại: Thôn L, xã K, huyện H, thành phố Hà Nội.

Những người đại diện hợp pháp của bị hại không kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo nên Toà án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trịnh Duy H làm nghề bơm hút bán cát san lấp cho các công trình trên địa bàn huyện Đ. Ngày 28/3/2024, bị cáo thoả thuận bằng miệng bán cho bà Hoàng Thị L ở thôn B, xã Đ, huyện Đ 140m³ cát để san lấp ao và bị cáo có trách nhiệm bơm hút cát vào ao nhà bà L. Khoảng 08 giờ ngày 01/4/2024, bị cáo tiến hành lắp đặt đường ống đi ngang qua mặt đường trục thôn N, xã Đ để bơm cát vào ao bà L theo thoả thuận. Bị cáo lắp đặt đường ống loại ống bằng vải bạt màu xanh, đường kính 8cm, phía trên đường ống được đặt 02 tấm đệm cao su, mỗi tấm cao 6,5cm, mặt dưới của 02 tấm đệm cao su có 04 miếng cao su làm chân đỡ để cho các phương tiện đi qua. Khi lắp đặt đường ống, bị cáo không báo cáo chính quyền địa phương, không thực hiện các biện pháp cảnh báo cho người và các phương tiện tham gia giao thông đi qua đường ống để đảm bảo an toàn. Khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, ông Hoàng Xuân N điều khiển xe máy điện đi qua đường ống hút cát do bị cáo lắp đặt, ông N bị mất thăng bằng, loạng choạng ngã xuống đường. Khám nghiệm hiện trường sau tai nạn, xe máy điện của ông N đổ nghiêng, thành trái xe tỳ xuống mặt đường, trên mặt đường để lại nhiều vết cà trượt của xe máy điện gây nên. Hậu quả làm ông N bị ngã, chấn thương vùng đầu, ngực, lưng, hông, tay và tử vong.

Tại kết luận giám định tử thi số 448/KLGĐTT-KTHS ngày 18/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Ông Hoàng Xuân N chết do chấn thương sọ não.

Bản án hình sự sơ thẩm số 130/2024/HSST ngày 18 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình quyết định:

Tuyên bố: Bị cáo Trịnh Duy H phạm tội “Cản trở giao thông đường bộ”.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 261; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trịnh Duy H 01 (một) năm 03 tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo H chấp hành hình phạt tù.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí.

Ngày 25 tháng 12 năm 2024, bị cáo Trịnh Duy H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin được hưởng án treo. Bị cáo kháng cáo bổ sung xin thay đổi sang hình phạt cải tạo không giam giữ.

Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị cáo Trịnh Duy H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung án sơ thẩm đã tuyên. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được giảm hình phạt và xin được hưởng án treo với lý do: Do nhận thức còn hạn chế nên đã không thực hiện các biện pháp bảo đảm an toàn khi lắp đặt các dụng cụ trên đường giao thông, gây tai nạn. Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho gia đình bị hại, đồng thời người đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xin giảm hình phạt cho bị cáo. Mặt khác, hiện nay hoàn cảnh gia đình bị cáo rất khó khăn, bị cáo đã ly hôn vợ nên một mình phải nuôi hai con nhỏ mà bị cáo đang là lao động chính trong gia đình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình sau khi phân tích toàn bộ nội dung vụ án, xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân cũng như nội dung kháng cáo của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm đ khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trịnh Duy H, sửa bản án sơ thẩm theo hướng xử phạt bị cáo từ 18 đến 24 tháng cải tạo không giam giữ và khấu trừ thu nhập của bị cáo từ 300.000 đồng – 400.000 đồng/1 tháng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Kháng cáo của bị cáo Trịnh Duy H gửi đến Tòa án trong thời hạn luật định là hợp lệ, được chấp nhận xem xét theo trình tự xét xử phúc thẩm.
  2. Xét hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã xác định. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ do cơ quan điều tra đã thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, có đủ căn cứ xác định: Bị cáo Trịnh Duy H lắp đặt trái phép đường ống bơm hút cát ngang qua trục đường thôn N gây cản trở giao thông đường bộ nên khoảng 13 giờ 30 phút ngày 28/3/2024, ông Hoàng Xuân N đi qua đoạn ống hút cát này đã bị ngã và tử vong do chấn thương sọ não. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự an toàn công cộng và hậu quả đã gây thiệt hại tính mạng của người khác. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên bố bị cáo Trịnh Duy H phạm tội “Cản trở giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 261 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
  3. Xét kháng cáo của bị cáo Trịnh Duy H thì thấy: Sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối hận, đã bồi thường thiệt hại cho bị hại và người đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Mặt khác, trong vụ án này bị hại cũng có một phần lỗi đó là khi tham gia giao thông có sử dụng rượu bia. Hiện tại, bị cáo đang là lao động chính trong gia đình, đã ly hôn vợ nên một mình phải nuôi dưỡng 02 con đang trong độ tuổi đi học. Bản thân bị cáo có nhân thân xấu nhưng đều đã được xoá án tích và lần phạm tội này thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên Hội đồng xét xử xét thấy, việc bị cáo bị Toà án cấp sơ thẩm xử phạt 01 năm 03 tháng tù, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội là quá nghiêm khắc, không phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Do vậy, Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, đang phải nuôi hai con nhỏ chưa thành niên nên chấp nhận kháng cáo của bị cáo, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên chưa cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà chỉ cần xử phạt bị cáo với hình phạt cải tạo không giam giữ 01 năm 06 tháng và giao bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát, giáo dục cũng đủ để răn đe, giáo dục bị cáo. Xét thấy, bị cáo có công việc, thu nhập ổn định từ 6.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng/1 tháng nên cần khấu trừ thu nhập của bị cáo là 300.000 đồng/1 tháng. Bị cáo tự nguyện nộp tiền khấu trừ thu nhập một lần nên buộc bị cáo phải nộp tiền khấu trừ thu nhập một lần là: 18 tháng x 300.000 đồng = 5.400.000 đồng.
  4. Về án phí: Kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm đ khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trịnh Duy H, sửa Bản án sơ thẩm số 130/2024/HSST ngày 18 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình.
    • 1.1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trịnh Duy H phạm tội “Cản trở giao thông đường bộ”.
    • 1.2. Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 261; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36; Điều 50 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trịnh Duy H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ, thời gian cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện Đ nhận được Quyết định thi hành án.

    Khấu trừ thu nhập một lần của bị cáo Trịnh Duy H trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ là 5.400.000 đồng để sung Ngân sách Nhà nước.

    Giao bị cáo Trịnh Duy H cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ.

    Trường hợp, người bị xử phạt cải tạo không giam giữ thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 Luật Thi hành án Hình sự.

  2. Về án phí phúc thẩm: Căn cứ điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, bị cáo Trịnh Duy H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
  3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án 13/02/2025.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - TAND, VKSND, CA huyện Đông Hưng;
  • - Bị cáo;
  • - UBND xã Đông Cường;
  • - Người đại diện hợp pháp của bị hại;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Đỗ Thị Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 18/2025/HS-PT ngày 13/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về hình sự phúc thẩm

  • Số bản án: 18/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 13/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trịnh Duy Hùng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger