|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 18/2025/HNGĐ-ST Ngày 27 - 02 - 2025 V/v tranh chấp Ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Trương Quang Tú.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Hiệu.
Bà Phạm Thị Lan.
- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thúy Hằng - là thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 123/2024/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 101/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Thu H, sinh năm: 2003.
HKTT: Lực Điền, Minh C, Y, Hưng Yên.
- Bị đơn: Anh Hu J – C1 (Hồ Thụy T), sinh năm: 1984.
Địa chỉ: Số F, N, khu D, thôn Đ, xã D, huyện N, Đài Loan.
Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 04 tháng 11 năm 2024 và bản tự khai đề ngày 05 tháng 11 năm 2024, nguyên đơn chị Trần Thu H trình bày:
Chị và anh Hu J – Chung kết hôn trên cơ sở tự nguyện có tìm hiểu, có đăng ký kết hôn và được UBND huyện Y, tỉnh Hưng Yên cấp giấy chứng nhận kết hôn số 03 ngày 25/4/2024.
Thời gian đầu kết hôn vợ chồng anh chị chung sống hạnh phúc, hòa thuận. Sau đó anh Hu J-C1 đã quay lại Đài Loan để sinh sống và làm việc. Trong quá trình anh Hu J-C1 sinh sống và làm việc tại Đài Loan, do tính chất công việc và khoảng cách vị trí địa lý xa xôi nên vợ chồng không thể dành thời gian vun đắp và chăm lo cho hạnh phúc gia đình. Điều này khiến cho cuộc sống vợ chồng gặp nhiều khó khăn, tình cảm dần phai nhạt, không còn như lúc ban đầu, mục đích hôn nhân không đạt được. Mặc dù anh chị đã nhiều lần nói chuyện để hàn gắn, được hai bên gia đình động viên, khuyên bảo nhưng không có kết quả, điều này làm ảnh hưởng đến cuộc sống của hai vợ chồng.
Nay, chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên xem xét, giải quyết cho chị được ly hôn với anh Hu J-C1 để chị sớm ổn định cuộc sống.
Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, chị và anh Hu J-C1 không có con chung nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về tài sản chung: Chị và anh Hu J-C1 thống nhất tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung và các nghĩa vụ tài chính khác: Chị và anh Hu J-C1 không có nợ chung và không cho ai vay nợ nên không đề nghị Tòa án giải quyết.
Về án phí ly hôn và các chi phí tố tụng khác: Chị Trần Thu H xin chịu toàn bộ án phí.
Tại bản tự khai đề ngày 16/10/2024 và ngày 21/01/2025 bị đơn anh Hu J – C1 (Hồ Thụy T) trình bày:
Về điều kiện, thời gian, nơi đăng ký kết hôn như chị H trình bày. Thời gian đầu anh chị hạnh phúc, sau đó anh Hu J – C1 quay lại Đài Loan để sinh sống và làm việc. Do tính chất công việc và khoảng cách vị trí địa lý xa xôi nên vợ chồng không thề dành thời gian vun đắp và chăm lo cho hạnh phúc gia đình. Điều này khiến cho cuộc sống gia đình gặp nhiều khó khăn, tình cảm dần phai nhạt, không còn như lúc ban đầu, mục đích hôn nhân không đạt được. Mặc dù anh chị đã nhiều lần nói chuyện để hàn gắn, được hai bên gia đình động viên khuyên bảo nhưng không có kết quả điều này ảnh hưởng đến cuộc sống của hai vợ chồng. Nay anh nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên xem xét, giải quyết cho anh được ly hôn với chị H.
Về con chung và tài sản chung: Anh Hu J – C1 xác định vợ chồng không có con chung, không có tài sản chung nên không yêu cầu giải quyết.
Về án phí và chi phí tố tụng: Anh đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa: Các đương sự đều đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.
Chủ tọa thay mặt Hội đồng xét xử công bố tóm tắt nội dung vụ án, lời khai của đương sự cũng như các tài liệu khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên phát biểu ý kiến:
Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án. Nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về quyền và nghĩa vụ, Tòa án đã thực hiện việc thông báo và tống đạt văn bản tố tụng theo đúng quy định của pháp luật, những người tham gia tố tụng đều đề nghị Tòa án xét xử vụ án vắng mặt, đề nghị Tòa án xét xử vụ án theo thủ tục chung.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của chị Trần Thu H. Áp dụng Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình, Điều 147 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự. Xử: Công nhận chị H và anh Hu J - C1 thuận tình ly hôn. Con chung: không có. Không giải quyết về tài sản, nghĩa vụ chung. Chấp nhận sự tự nguyện của chị H chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Trên cơ sở xem xét, đánh giá toàn diện, khách quan, đầy đủ các chứng cứ, lời trình bầy của các đương sự, và quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Nguyên đơn chị Trần Thu H có hộ khẩu thường trú tại L, M, Y, Hưng Yên. Bị đơn anh Hu J – C1; Địa chỉ: Số F, N, khu D, thôn Đ, xã D, huyện N, Đài Loan. Căn cứ theo Điều 35, và điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên.
[2] Nguyên đơn, bị đơn đều đề nghị xét xử vắng mặt nên Tòa án xét xử vụ án theo Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Chị Trần Thu H và anh Hu J – Chung kết hôn tự nguyện và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện Y, tỉnh Hưng Yên vào ngày 25/4/2024 nên hôn nhân của anh chị được pháp luật công nhận. Sự thừa nhận của anh chị đã có căn cứ xác định vợ chồng chung sống thời gian ngắn đã sống mỗi người một nơi không quan tâm chăm lo đến nhau chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng đã thực sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không kéo dài do đó việc anh chị đều đề nghị được ly hôn là phù hợp với thực tế hôn nhân của vợ chồng nên sẽ công nhận sự thuận tình ly hôn cho anh chị.
[4] Chị Trần Thu H và anh Hu J - C1 đều công nhận vợ chồng không có con chung, thời gian chung sống vợ chồng không có tài sản, nghĩa vụ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết do đó không đặt ra để xem xét.
[5] Quan điểm chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm của chị Trần Thu H là tự nguyện và phù hợp pháp luật nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, Điều 147, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình. Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16 tháng 5 năm 2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:
- Quan hệ hôn nhân: Công nhận chị Trần Thu H và anh Hu J – C1 thuận tình ly hôn.
- Về con, tài sản, nghĩa vụ chung và các vấn đề khác: Không giải quyết.
- Án phí: Chị Trần Thu H phải chịu 150.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo Biên lai thu số 0000078 ngày 08 tháng 11 năm 2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hưng Yên; hoàn trả chị Hằng số tiền thừa là 150.000 đồng.
- Quyền kháng cáo: Chị Trần Thu H được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Anh Hu J – C1 được quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trương Quang Tú |
Bản án số 18/2025/HNGĐ-ST ngày 27/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 18/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn
