|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K TỈNH HƯNG YÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 18/2025/HNGĐ - ST
Ngày: 26/6/2025
“V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K, TỈNH HƯNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đào Duy Trĩnh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Quang Binh và bà Vũ Thị Liên.
Thư ký phiên toà: Bà Phan Huyền Trang - Thư ký Toà án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Động tham gia phiên tòa: Ông Dương Sơn Tùng - Kiểm sát viên.
Ngày 26/6/2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện K, tỉnh Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 01/2025/TLST- HNGĐ ngày 02/01/2025, về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 03/06/2025, giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Anh Trần Đình N - sinh năm 1984.
HKTT: thôn T, xã N, huyện K, tỉnh Hưng Yên.
Nơi ở hiện nay: thôn T, xã H, huyện K, Hưng Yên.
-
Bị đơn: Chị Ngô Thị T, sinh năm 1984.
HKTT: thôn T, xã N, huyện K, tỉnh Hưng Yên.
Trú tại: thôn T, xã H, huyện K, Hưng Yên.
Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H.
-
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- 1.3 Cháu Trần Đình K, sinh ngày: 05/6/2014;
- 2.3 Cháu Trần Đình T1, sinh ngày: 11/11/2016.
- Trú tại: thôn T, xã H, huyện K, tỉnh Hưng Yên.
- * Người đại diện cho cháu K, T1: Anh Trần Đình N và chị Ngô Thị T là bố, mẹ các cháu.
- 3.3 Ngân hàng TMCP Đ.
- Đại diện theo pháp luật: Ông Lê Ngọc L, Chức vụ: Tổng giám đốc.
- Địa chỉ: T, số A, T, Phường L, quận H, thành phố Hà Nội.
- Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Việt H, Chức vụ: Trưởng phòng quản lý rủi ro - Ngân hàng TMCP Đ, Chi nhánh H4.
- Địa chỉ: Số B, N, phường H, thành phố H, tỉnh Hưng Yên.
-
4.3 Ngân hàng TMCP C.
Đại diện theo pháp luật: Ông Trần Minh B, Chức vụ: Chủ tịch HĐQT.
Địa chỉ: Số A, T, quận H, thành phố Hà Nội.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Lưu Đình H1, Chức vụ: Trưởng phòng G.
Địa chỉ: Thị trấn L, huyện K, tỉnh Hưng Yên.
-
5.3 Ông Bùi Tiến T2, sinh năm 1957.
Trú tại: Thôn T, xã N, huyện K, tỉnh Hưng Yên
-
6.3 Ông Nguyễn Quang D, sinh năm 1973.
Trú tại: Thôn L, xã V, huyện K, tỉnh Hưng Yên.
Nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn anh Trần Đình N trình bày: Anh kết hôn với chị Ngô Thị T trên cơ sở tự do tìm hiểu và hoàn toàn tự nguyện đã được UBND xã N đăng ký kết hôn ngày 13/9/2013.
Quá trình chung sống diễn ra bình thường, nhưng đến đầu năm 2024 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng có sự bất đồng quan điểm, lối sống, vợ chồng không có tiếng nói chung, gia đình hai bên có biết nhưng để cho hai vợ chồng tự quyết định. Do cuộc sống vợ chồng bế tắc và không có giải pháp gì để khắc phục mâu thuẫn nên vợ chồng ly thân từ tháng 6/2024, cả hai không còn quan tâm, chăm sóc nhau, kinh tế vợ chồng hoàn toàn độc lập. Do vi phạm pháp luật hiện chị T đang bị tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh H. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn, anh đề nghị được ly hôn với chị T để sớm ổn định cuộc sống.
Trong quá trình tham gia tố tụng, bị đơn chị Ngô Thị T trình bày: Về quá trình tìm hiểu, đăng ký kết hôn và chung sống đúng như anh N trình bày.
Chị khẳng định, quá trình chung sống vợ chồng không xảy ra mâu thuẫn gì sâu sắc, vợ chồng vẫn chung sống cho đến khi chị bị bắt tạm giam từ ngày 19/01/2025, chị không mong muốn ly hôn mà đề nghị nếu ba năm sau anh N muốn ly hôn thì chị nhất trí, trường hợp không được chấp thuận chị đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
Về con chung: Cả hai khẳng định, vợ chồng có 02 con chung là cháu Trần Đình K, sinh ngày 05/6/2014 và cháu Trần Đình T1, sinh ngày 11/11/2016, hiện nay các cháu đang sinh sống cùng anh N.
Anh N có nguyện vọng được tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng cả hai con chung và không yêu cầu chị T phải đóng góp nuôi con chung.
Chị T không có quan điểm về nuôi con chung, nhưng nếu anh chị ly hôn do điều kiện thực tế chị không đủ điều kiện về nuôi con chung nên đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
Về tài sản chung:
Anh Trần Đình N xác định: Quá trình chung sống vợ chồng anh, chị có tạo lập được số tài sản chung của vợ chồng cụ thể như sau:
- - Quyền sử dụng đất ở là thửa đất số 398, tờ bản đồ số 15, có diện tích là 64 m² tại thôn T, xã H, huyện K, tỉnh Hưng Yên, thửa đất này đã được Sở tài nguyên và môi trường tỉnh H cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CG 470437 ngày 08/02/2018 mang tên Trần Đình N và Ngô Thị T. Trên đất hiện nay chỉ có ngôi nhà cấp 4 lợp mái tôn.
- - Thửa đất số 397, tờ bản đồ số 15, diện tích 64m² tại thôn T, xã H đã được Sở tài nguyên và môi trường tỉnh H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 366379 ngày 15/5/2018, mang tên Trần Đình N và Ngô Thị T. Trên đất cũng có 01 ngôi nhà cấp 4 lợp mái tôn.
Về công nợ:
Anh Trần Đình N có quan điểm trình bày:
- Do có nhu cầu vốn để làm ăn nên anh, chị có vay của Ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh H4 số tiền là 5.000.000.000 đồng.
- - Quyền sử dụng đất ở là thửa đất số 398, tờ bản đồ số 15, có diện tích là 64 m² tại thôn T, xã H, huyện K, tỉnh Hưng Yên, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CG 470437 ngày 08/02/2018 mang tên Trần Đình N và Ngô Thị T
- - Thửa đất số 397, tờ bản đồ số 15, diện tích 64m² tại thôn T, xã H. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 366379 mang tên Trần Đình N và Ngô Thị T.
- - Thửa đất số 400, tờ bản đồ số 15, diện tích 94,6m tại thôn T, xã H, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất CT 422643 mang tên Trần Đình N. (Có giá trị khoảng 2.500.000.000 đồng)
- Do có nhu cầu vốn để làm ăn nên anh, chị có vay của Ngân hàng TMCP C - Phòng giao dịch huyện G số tiền là 2.500.000.000 đồng.
- - Thửa đất số 426, tờ bản đồ số 14, diện tích 55m² tại thôn T, xã H, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DI 985251 mang tên Trần Đình N.
- - Thửa đất số 402, tờ bản đồ số 15, diện tích 188 m² tại thôn T, xã H, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DĐ 413455 mang tên Trần Đình N.
- - Thửa đất số 53, tờ bản đồ số 18, diện tích 185 m² tại thôn T, xã N, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AI 021622 mang tên Trần Đình N.
- Do nhu cầu cần vốn anh, chị có vay của ông Bùi Tiến T2, sinh năm 1957, địa chỉ thôn T, xã N, huyện K, tỉnh Hưng Yên số tiền 1.600.000.000 đồng, lãi suất là 0,8%/tháng, chưa trả được tiền gốc.
- Do nhu cầu cần vốn ngày 12/02/2021, anh, chị có vay của ông Nguyễn Quang D, sinh năm 1973, trú tại thôn L, xã V, huyện K, tỉnh Hưng Yên số tiền 3.500.000.000 đồng, lãi suất là 0,8%/tháng, chưa trả được tiền gốc.
Tài sản thế chấp gồm:
Tải thế chấp gồm:
Quá trình giải quyết anh yêu cầu Tòa án giải quyết phân chia tài sản chung, công nợ của vợ chồng theo quy định của pháp luật. Đối với khoản nợ của anh Bùi Tiến T2 và anh Nguyễn Quang D, anh cam kết không yêu cầu chị T có trách nhiệm mà sẽ tự mình trả nợ. Ngày 03/6/2025, anh có đơn đề nghị rút yêu cầu khởi kiện đối với việc phân chia tài sản chung, công nợ chung của vợ chồng.
Về công sức đóng góp chung và về đất canh tác nông nghiệp của vợ chồng anh không yêu cầu đặt ra giải quyết.
Chị Ngô Thị T có quan điểm: Do điều kiện thực tế, chị không thể tham gia tố tụng được nên chị không yêu cầu phân chia tài sản chung, công nợ, công sức đóng góp chung và về đất canh tác nông nghiệp của vợ chồng trong vụ án này, khi nào đủ điều kiện chị sẽ yêu cầu giải quyết trong vụ án khác.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quan điểm trình bày:
- Cháu Trần Đình K và Trần Đình T1 đều có quan điểm trình bày: Các cháu là con của anh Trần Đình N và chị Ngô Thị T, các cháu không rõ nguyên nhân nhưng trong cuộc sống hàng ngày bố, mẹ các cháu thường xuyên cãi nhau. Các cháu đều mong muốn bố, mẹ đoàn tụ nhưng nếu bố, mẹ các cháu ly hôn, các cháu đều có nguyện vọng được ở cùng với bố, vì bố các cháu có đủ điều kiện để nuôi dạy các cháu.
- Ngân hàng TMCP C, Chi nhánh H4:
- Tại Công văn số 365/BIDV.HY, ngày 28/03/2025, Ngân hàng TMCP Đ – Chi nhánh H4 xác định: Đến thời điểm hiện tại ông Trần Văn N1 và bà Ngô Thị T đã thực hiện xong toàn bộ nghĩa vụ tài chính đối với Ngân hàng TMCP Đ – Chi nhánh H4. Vì vậy Ngân hàng đề nghị Tòa án không giải quyết về nghĩa vụ nợ và tài sản bảo đảm của ông Trần Văn N1 và bà Ngô Thị T trong vụ án.
- Tại Văn bản trình bày ý kiến ngày 01/4/2024, ông Nguyễn Quang D có quan điểm: Vợ chồng anh Trần Văn N1 và chị Ngô Thị T có vay của anh 3.500.000.000 đồng, lãi xuất 0,8%/tháng để kinh doanh, hiện chưa trả nhưng anh không yêu cầu Tòa án đặt ra giải quyết trong vụ án này mà sẽ để các bên tự thỏa thuận, giải quyết với nhau. Anh đề nghị vắng mặt trong quá trình giải quyết, xét xử vụ án.
- Tại Văn bản trình bày ý kiến ngày 07/4/2024, ông Bùi Tiến T2 có quan điểm: Vợ chồng anh Trần Văn N1 và chị Ngô Thị T có vay của ông 1.600.000.000 đồng, lãi xuất 0,8%/tháng để kinh doanh, hiện chưa trả nhưng ông không yêu cầu Tòa án đặt ra giải quyết trong vụ án này mà sẽ để các bên tự thỏa thuận, giải quyết với nhau. Ông đề nghị vắng mặt trong quá trình giải quyết, xét xử vụ án.
Hiện tại ông Trần Văn N1 và bà Ngô Thị T có vay của Ngân hàng TMCP C - Phòng giao dịch huyện G số tiền là 2.500.000.000 đồng. Để đảm bảo cho khoản vay, ông, bà có thế chấp quyền sử dụng thửa đất số 426, tờ bản đồ số 14, diện tích 55m² tại thôn T, xã H, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DI 985251 mang tên Trần Đình N; quyền sử dụng thửa đất số 402, tờ bản đồ số 15, diện tích 188 m² tại thôn T, xã H, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DĐ 413455 mang tên Trần Đình N và quyền sử dụng thửa đất số 53, tờ bản đồ số 18, diện tích 185 m² tại thôn T, xã N, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AI 021622 mang tên Trần Đình N. Ngân hàng yêu cầu ông Trần Văn N1 và bà Ngô Thị T phải tiếp tục thực hiện và hoàn thiện nghĩa vụ trả nợ trước khi thực hiện thủ tục ly hôn, phân chia tài sản tại Tòa án.
Tại Công văn số 225/CV - CNHY - KĐ, ngày 22/05/2025, Ngân hàng TMCP C xác định: Đến thời điểm hiện tại ông Trần Văn N1 và bà Ngô Thị T đã thực hiện xong toàn bộ nghĩa vụ tài chính đối với TMCP C - Chi nhánh H4. Vì vậy Ngân hàng đề nghị Tòa án không giải quyết về nghĩa vụ nợ và tài sản bảo đảm của ông Trần Văn N1 và bà Ngô Thị T trong vụ án.
Kết quả xác minh ngày 25/4/2025 tại UBND xã N xác định: Anh Trần Đình N và chị Ngô Thị Thanh kết H2 trên cơ sở tự nguyện và đã đăng ký kết hôn tại UBND xã N ngày 13/9/2013. Sau khi kết hôn anh, chị chung sống tại thôn T, xã N nhưng sau đó chuyển đến thôn T, xã H sinh sống, quá trình chung sống vợ chồng anh, chị phát sinh mâu thuẫn hay không chính quyền địa phương không nắm rõ. Về con chung, anh, chị có hai con chung là cháu Trần Đình K, sinh ngày 05/6/2014 và cháu Trần Đình T1, sinh ngày 11/11/2016. Về tài sản chung, công nợ chung, công sức đóng góp chung với hai bên gia đình và đất canh tác nông nghiệp của hai vợ chồng, địa phương không nắm rõ. Việc anh N xin được ly hôn với chị T đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
Do điều kiện thực tế và công việc anh Trần Đình N và chị Ngô Thị T đều có đơn đề nghị vắng mặt trong quá trình xét xử vụ án.
Tại phiên tòa:
- - Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt do đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K, tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến như sau:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.
- Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 28, Điều 35,Điều 39; khoản 2 Điều 144; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19; Điều 51; Điều 56; Điều 57; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Toà án. Xử: Về hôn nhân chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về con chung: Giao cháu Trần Đình K, sinh ngày 05/6/2014 và cháu Trần Đình T1, sinh ngày 11/11/2016 cho anh N tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, việc đóng góp nuôi con chung không đặt ra giải quyết. Về tài sản chung; Công nợ chung của vợ chồng; Đất canh tác nông nghiệp 03 và công sức đóng góp của vợ chồng đối với hai bên gia đình: Không đặt ra giải quyết. Về án phí: Anh N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng. Hội đồng xét xử nhận định:
- Về thủ tục tố tụng: Ngày 27/12/2024, anh Trần Đình N có đơn khởi kiện chị Ngô Thị T, xin được ly hôn và giải quyết về con chung cũng như các vấn đề có liên quan. Chị Ngô Thị Thanh H3 đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H nhưng có hộ khẩu thường trú tại thôn T xã N huyện K tỉnh Hưng Yên, trú tại thôn T xã H huyện K tỉnh Hưng Yên. Như vậy, Tòa án nhân dân huyện K thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 28; Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, căn cứ điều 227; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Trần Đình N và chị Ngô Thị Thanh kết H2 trên cơ sở tự do tìm hiểu và hoàn toàn tự nguyện, anh chị đã được UBND xã N, huyện K, tỉnh Hưng Yên đăng ký kết hôn vào ngày 13/9/2013, do đó đã xác lập quan hệ vợ chồng hợp pháp. Quá trình giải quyết, anh N khẳng định vợ chồng không hạnh phúc, phát sinh mâu thuẫn dẫn đến ly thân, do vi phạm pháp luật, chị T hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H, cả hai không còn quan tâm, chăm sóc nhau phù hợp với lời khai của các con anh, chị là cháu K và cháu T1. Quá trình giải quyết, anh N cương quyết xin ly hôn, chị T đề nghị được giải quyết ly hôn sau ba năm nhưng cũng có quan điểm trường hợp không được chấp thuận chị đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử nhận thấy cuộc sống, hạnh phúc gia đình anh, chị đang ở trong tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, chị T không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của người vợ theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân gia đình, nên căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình, cho anh N được ly hôn với chị T để cả hai sớm tạo lập cuộc sống mới.
- Về con chung: Vợ chồng anh, chị có hai con chung là cháu Trần Đình K, sinh ngày 05/6/2014 và cháu Trần Đình T1, sinh ngày 11/11/2016, hiện cả hai cháu đang sinh sống cùng anh N. Quá trình giải quyết, anh N có nguyện vọng được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cả hai con chung, cả hai cháu đều có nguyện vọng được chung sống cùng anh N, chị T có quan điểm vì điều kiện thực tế chị không đủ đảm bảo để chăm sóc, nuôi dưỡng các cháu nên đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật. Xét thấy nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung của anh N là chính đáng, cả hai cháu thường xuyên sinh sống cùng anh N, cuộc sống ổn định và đảm bảo, anh N có đủ điều kiện chăm sóc cả hai cháu nên căn cứ vào nguyện vọng và điều kiện thực tế cần giao cháu K, T1 cho anh N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp như quan điểm trình bày của anh N và nguyện vọng của cháu K, T1 cũng như quan điểm, đề nghị của Viện kiểm sát và quy định tại Điều 6 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao là có căn cứ nên cần chấp nhận. Do anh N không yêu cầu việc đóng góp nuôi con chung nên không đặt ra xem xét giải quyết. Sau khi ly hôn chị T có quyền xin thay đổi nuôi con; quyền đi lại thăm và chăm sóc con chung, không ai được cản trở.
- Về tài sản chung, công nợ chung:
Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết anh Trần Đình N đề nghị phân chia công nợ chung, tài sản chung của vợ chồng nhưng sau đó anh có đơn đề nghị rút yêu cầu phân chia tài sản, công nợ của vợ chồng, bị đơn không có yêu cầu giải quyết, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Ngân hàng TMCP Đ; Ngân hàng TMCP C xác định vợ chồng anh N không còn nợ Ngân hàng; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Bùi Tiến T2 và ông Nguyễn Quang D đều có đơn trình bày không yêu cầu giải quyết công nợ của các ông trong vụ án. Căn cứ vào khoản 4 Điều 70; khoản 2 Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự việc rút yêu cầu của anh N là hoàn toàn tự nguyện nên cần được chấp nhận.
Do nguyên đơn rút yêu cầu khởi kiện, bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra giải quyết trong vụ án này, khi nào các bên đương sự yêu cầu sẽ làm đơn để xem xét giải quyết trong vụ kiện dân sự khác.
- Về công sức đóng góp chung và về đất nông nghiệp: Do nguyên đơn, bị đơn không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết, khi nào các bên đương sự yêu cầu sẽ làm đơn để xem xét giải quyết trong vụ kiện dân sự khác.
- Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Toà án. Anh Trần Đình N phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, đối trừ số tiền 60.500.000 đồng anh đã nộp theo Biên lai thu số 0001672, ngày 30/12/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện K, anh N còn được nhận lại 60.200.000 đồng.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51; Điều 56; Điều 57; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử;
- Về quan hệ hôn nhân: Cho anh Trần Đình N được ly hôn với chị Ngô Thị T.
- Về nuôi con chung: Giao cháu Trần Đình K, sinh ngày 05/6/2014 và cháu Trần Đình T1, sinh ngày 11/11/2016 cho anh N tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng. Việc đóng góp nuôi con chung không đặt ra giải quyết.
Sau khi ly hôn, chị T có quyền xin thay đổi nuôi con; quyền đi lại thăm và chăm sóc con chung theo quy định của pháp luật.
- Về tài sản chung;công nợ chung, công sức đóng góp chung và về đất nông nghiệp của hai vợ chồng: Không đặt ra giải quyết, khi nào các bên đương sự yêu cầu sẽ làm đơn để xem xét giải quyết trong vụ kiện dân sự khác.
- Đối với khoản vay anh N trình bày, do anh N và các bên liên quan không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết, khi nào một trong các bên yêu cầu sẽ làm đơn để xem xét giải quyết trong vụ kiện dân sự khác.
- Về án phí: Anh Trần Đình N phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm ly hôn, đối trừ số tiền tạm ứng án phí anh đã nộp là 60.500.000 đồng tại Biên lai thu số 0001672 ngày 30/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện K. Anh N còn được nhận lại 60.200.000 đồng (Sáu mươi triệu hai trăm nghìn đồng).
- Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (26/6/2025). Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đào Duy Trĩnh |
Bản án số 18/2025/HNGĐ - ST ngày 26/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K, TỈNH HƯNG YÊN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 18/2025/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K, TỈNH HƯNG YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án HNGD số 18 ngày 26/6/2025 giữa anh N và chị T
