|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 18/2025/HNGĐ-ST Ngày: 25 - 02 - 2025 V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Tuân .
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Công Gia và bà Nguyễn Thị Xuân.
Thư ký phiên tòa: Ông Đoàn Văn Năng – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Liên – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 02 năm 2025, tại Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 421/2024/TLST- HNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2024, về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 04 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Tạ Thị H, sinh năm 1992.
Bị đơn: Anh Phan Văn Q, sinh năm 1985.
Cùng nơi cư trú: Tổ B, Ấp D, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
(Các đương sự vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại Đơn khởi kiện ghi ngày 30/8/2024, Đơn xin thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện ghi ngày 03/01/2025 và lời khai trong thời gian chuẩn bị xét xử vụ án, nguyên đơn chị Tạ Thị H trình bày:
Chị và anh Phan Văn Q tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai vào năm 2013. Quá trình sống chung đến năm 2017 thì xảy ra mâu thuẫn, cãi vã do bất đồng quan điểm. Chị và anh Q không còn sống chung từ năm 2021 cho đến nay. Năm 2021, chị đã khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn nhưng được hòa giải nên chị đã rút đơn khởi kiện, tuy nhiên vợ chồng vẫn không trở về chung sống với nhau. Đến nay, do vợ chồng không còn sống chung với nhau đã lâu, tình cảm vợ chồng không còn nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với anh Phan Văn Q.
Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Chị và anh Q có 02 con chung là Phan Hoài A, sinh ngày 28/4/2008 và Phan Thị Thúy A1, sinh ngày 07/11/2013. Khi ly hôn, chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung và yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi hai con, mỗi tháng 1.500.000 đồng/cháu.
Về tài sản chung: Chị và anh Q tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Chị và anh Q không có nợ của cá nhân, tổ chức nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Tại Bản tự khai và Đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải, đề nghị vắng mặt tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và xét xử vắng mặt ghi ngày 03/01/2025, bị đơn anh Phan Văn Q trình bày:
Anh và chị H chung sống đến năm 2021 thì sống ly thân cho đến nay, do vợ chồng sống chung nhưng không hòa hợp. Nay chị H yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn thì anh đồng ý ly hôn.
Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Anh và chị H có 02 con chung là Phan Hoài A, sinh ngày 28/4/2008 và Phan Thị Thúy A1, sinh ngày 07/11/2013. Khi ly hôn, anh đồng ý giao cả hai con cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, anh đồng ý cấp dưỡng nuôi 02 con, mỗi tháng 1.500.000 đồng/cháu.
Về tài sản chung: Anh và chị H không có tài sản chung nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Anh và chị H không có nợ của cá nhân, tổ chức nào nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến như sau:
- Về việc tuân theo pháp luật: Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án Thẩm phán đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử tuân thủ đúng trình tự tố tụng theo quy định đối với một phiên tòa sơ thẩm.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ: Điều 131 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; 85, 89, 91, 92, 93 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; Điều 28, 35, 39, 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn: Cho chị Tạ Thị H được ly hôn với anh Phan Văn Q; về con chung: Giao cháu Phan Hoài A, sinh ngày 28/4/2008 và Phan Thị Thúy A1, sinh ngày 07/11/2013 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng và anh Q phải cấp dưỡng nuôi 02 con, mỗi tháng 1.500.000 đồng/ cháu; về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết; về án phí: Nguyên đơn phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm về ly hôn và bị đơn phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm về cấp dưỡng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về áp dụng pháp luật tố tụng:
[1.1] Xác định thẩm quyền giải quyết: Anh Phan Văn Q cư trú tại Ấp D, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Vì vậy, căn cứ theo điểm a, khoản 1 Điều 35 và điểm a, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự xác định vụ án thuộc thẩm quyền thụ lý, giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
[1.2] Xác định quan hệ pháp luật: Chị H yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Q và được trực tiếp nuôi con chung chưa thành niên. Vì vậy, quan hệ pháp luật được xác định là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
[1.3] Xác định tư cách đương sự: Chị H khởi kiện đối với anh Q. Căn cứ theo khoản 2, khoản 3 Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự xác định chị H là nguyên đơn, anh Q là bị đơn trong vụ án.
[1.4] Tại phiên tòa, các đương sự vắng mặt nhưng đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228, 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự quyết định xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.
[2] Về áp dụng pháp luật nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhận thấy:
[2.1] Về hôn nhân: Chị H và anh Q tự nguyện kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 82, ngày 14 tháng 9 năm 2013. Do đó, hôn nhân giữa chị H và anh Q là hợp pháp. Chị H yêu cầu ly hôn thì Tòa án căn cứ Luật hôn nhân gia đình để giải quyết.
Trên cơ sở lời khai của đương sự và tài liệu, chứng cứ thu thập trong quá trình tiến hành tố tụng thể hiện: Sau khi kết hôn, các đương sự có xảy ra mâu thuẫn, cãi vã với nhau và do bất đồng quan điểm; Các đương sự sống không hạnh phúc và đã sống ly thân từ năm 2021 cho đến nay. Tình cảm vợ chồng không còn nên chị H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, anh Q cũng đồng ý ly hôn với chị H. Tuy nhiên, do các đương sự vắng mặt tại phiên tòa nên Tòa án không ghi nhận sự thuận tình ly hôn giữa các đương sự.
Từ những đánh giá nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Các đương sự đã vi phạm nghiêm trọng về nghĩa vụ thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ giữa vợ và chồng; vi phạm nghĩa vụ sống chung của vợ chồng được quy định tại Điều 19 của Luật hôn nhân và gia đình, làm hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung của vợ chồng không được liên tục, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
[2.2] Về con chung và cấp dưỡng nuôi con chung: Chị H và anh Q có 02 con chung là Phan Hoài A, sinh ngày 28/4/2008 và Phan Thị Thúy A1, sinh ngày 07/11/2013. Khi ly hôn, chị H yêu cầu được trực tiếp nuôi các con chung. Xét thấy, từ khi vợ chồng sống ly thân cháu Hoài A và cháu T đều do chị H trực tiếp nuôi dưỡng và đều có nguyện vọng được sống cùng với chị H. Anh Q cũng đồng ý giao hai con cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng. Vì vậy, giao cháu Hoài A và cháu Thúy A1 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng là có cơ sở, đúng pháp luật. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi 02 con, mỗi tháng 1.500.000 đồng/ cháu, anh Q cũng đồng ý với yêu cầu của chị H. Vì vậy, anh Q phải cấp dưỡng nuôi 02 con, mỗi tháng 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng)/ cháu. Thời điểm cấp dưỡng tính từ khi bản án có hiệu lực cho đến khi con chung đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.
[2.3] Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.
[2.4] Về nợ chung: Các đương sự khai không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
[3] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về yêu cầu ly hôn và bị đơn phải chịu án phí về cấp dưỡng theo quy định của pháp luật.
[4] Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 144; Điều 147; khoản 1 Điều 228; Điều 235, 238, 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
- Điều 39 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84, 107, 108, 110, 116, 117 và Điều 131 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- Điều 9, Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000;
- Điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Tạ Thị H.
Về hôn nhân: Chị Tạ Thị H được ly hôn với anh Phan Văn Q.
Về con và cấp dưỡng nuôi con: Giao cháu Phan Hoài A, sinh ngày 28/4/2008 và Phan Thị Thúy A1, sinh ngày 07/11/2013 cho chị Tạ Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Anh Phan Văn Q phải cấp dưỡng nuôi 02 con, mỗi tháng 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng)/cháu. Thời điểm cấp dưỡng tính từ khi bản án có hiệu lực cho đến khi các con đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.
Anh Phan Văn Q có quyền qua lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung chị Tạ Thị H và anh Phan Văn Q có quyền xin thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không giải quyết.
Về nợ chung: Không giải quyết.
Về án phí: Chị Tạ Thị H phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hôn nhân và gia đình về ly hôn nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí chị H đã nộp tại biên lai thu số 0013441 ngày 03/10/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai, chị Tạ Thị H đã nộp đủ.
Anh Phan Văn Q phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hôn nhân và gia đình về nghĩa vụ cấp dưỡng.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của luật.
|
Nơi nhận:
|
THAY MẶT HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Tuân |
Bản án số 18/2025/HNGĐ-ST ngày 25/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 18/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị và anh Phan Văn Q tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Ph, huyện T, tỉnh Đồng Nai vào năm 2013. Quá trình sống chung đến năm 2017 thì xảy ra mâu thuẫn, cãi vã do bất đồng quan điểm. Chị và anh Q không còn sống chung từ năm 2021 cho đến nay. Năm 2021, chị đã khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn nhưng được hòa giải nên chị đã rút đơn khởi kiện, tuy nhiên vợ chồng vẫn không trở về chung sống với nhau. Đến nay, do vợ chồng không còn sống chung với nhau đã lâu, tình cảm vợ chồng không còn nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với anh Phan Văn Q
