|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHƯỚC TỈNH TIỀN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 18/2025/HNGĐ-ST Ngày 24-6-2025 V/v “Tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHƯỚC, TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Thạch Hải Âu.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Thanh Dũ.
- Ông Lê Văn Thưởng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đông –Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Không tham gia.
Vào ngày 24 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 57/2025/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 4 năm 2025 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 19/2025/QĐST-HNGĐ ngày 13 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Bà NGUYỄN THỊ Q, sinh năm 1977.
Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang.
-
Bị đơn: Ông NGUYỄN VĂN M, sinh năm 1977.
Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang.
(Bà Q xin vắng mặt; ông M có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Q trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Q và ông M được sự tác hợp của gia đình rồi tiến tới hôn nhân từ năm 1995. Ông, bà có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện T, tỉnh Long An theo giấy chứng nhận kết hôn số 98 ngày 16/8/2022.
Trong đời sống hôn nhân giữa bà Q và ông M nhiều lần không tìm được tiếng nói chung dẫn đến phát sinh nhiều mâu thuẫn. Năm 2020, bà Q đã nộp đơn ra Tòa yêu cầu giải quyết ly hôn, nhưng sau đó rút lại đơn khởi kiện. Từ năm 2019 cho đến nay, bà Q và ông M đã sống ly thân, không còn quan tâm đến nhau.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Q yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Văn M.
- - Về con chung: Giữa bà và ông M có 02 con chung là Nguyễn Thị Kiều M1, sinh năm 1996 và Nguyễn Thị Kiều T, sinh năm 2006, cả 02 đã thành niên, nên không yêu cầu giải quyết.
- - Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- - Về nợ chung: Không có.
* Tại phiên tòa:
- - Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Q có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và giữ nguyên các yêu cầu khởi kiện.
- - Bị đơn ông Nguyễn Văn M thừa nhận vợ chồng đã ly thân từ năm 2019 cho đến nay. Ngay cả khi làm đám cưới cho con gái lớn là Nguyễn Thị Kiều M1, bà Q cũng tự ý tổ chức bên gia đình bà Q. Trong thời kì hôn nhân, vợ chồng có vay tiền để mua một chiếc xe máy, do bà Q sử dụng, ông đề nghị bà Q phải gặp trao đổi với ông thì mới đồng ý việc ly hôn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng: Nguyên đơn bà Q yêu cầu ly hôn với ông M, có nơi cư trú tại Ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này là “tranh chấp ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang theo quy định tại Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về sự vắng mặt của các đương sự: Nguyên đơn bà Q có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào quy định tại Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà Q.
[2]. Về quan hệ hôn nhân: Bà Q và ông M được gia đình tác hợp tiến tới hôn nhân. Ông, bà đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện T, tỉnh Long An theo giấy chứng nhận kết hôn số 98 ngày 16/8/2002. Như vậy, hôn nhân của ông, bà là hôn nhân hợp pháp.
Tại phiên tòa, ông M thừa nhận vợ, chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, vợ chồng không thể tìm được tiếng nói chung. Từ năm 2019, ông, bà đã sống ly thân cho đến nay. Trong thời gian ly thân cũng không trao đổi, tìm cách gì để hàn gắn tình cảm. Năm 2020, bà Q có nộp đơn ly hôn một lần, sau khi lên làm việc do hai vợ chồng còn nhiều vấn đề chưa thống nhất nên đã rút lại đơn khởi kiện. Từ đó đến nay cũng không thay đổi gì. Điều này chứng tỏ hôn nhân của ông, bà đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào Khoản 1 Điều 51 và Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn ông Nguyễn Văn M của bà Nguyễn Thị Q.
[3]. Về con chung: Quá trình sống chung, bà Q và ông M có 02 con chung là là Nguyễn Thị Kiều M1, sinh năm 1996 và Nguyễn Thị Kiều T, sinh năm 2006, cả 02 đã thành niên và đủ điều kiện đảm bảo cuộc sống, do đó Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[4]. Về tài sản chung, nợ chung: Tại phiên tòa, ông M trình bày trong thời kì hôn nhân, có vay tiền để mua chiếc xe máy do bà Q đang sử dụng. Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án, không ai yêu cầu giải quyết về tài sản chung, nợ chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Trường hợp sau này có phát sinh tranh chấp thì có thể yêu cầu Tòa án giải quyết bằng vụ án khác.
[5]. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Q phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Đ a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[6]. Về quyền kháng cáo: Bà Q và ông M có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các Điều 271, 272 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 1 Điều 51, Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình;
- - Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 227, 266, 267, 271, 272 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Áp dụng Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Q. Cho ly hôn giữa bà Nguyễn Thị Q và ông Nguyễn Văn M.
- Về án phí: Bà Nguyễn Thị Q phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí bà Q đã nộp theo biên lai thu số 0003960 ngày 28/3/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang, xem như bà Q đã hoàn thành xong nghĩa vụ chịu án phí sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Q có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án tống đạt hợp lệ bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định, ông Phan Văn C có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA Thạch Hải Âu |
Bản án số 18/2025/HNGĐ-ST ngày 24/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHƯỚC, TỈNH TIỀN GIANG về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 18/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHƯỚC, TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận cho ly bà Q ly hôn ông M/.
