Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LỤC NAM

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 21 - 02 - 2025

V/v: Ly hôn giữa chị Quỳnh và

anh Điệp.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lự

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tiến Chỉnh, ông Nguyễn Hữu Thái.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Huân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tuyết Mai - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 304/2024/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 10 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn, con chung”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 135/2024/QĐXX-ST ngày 30 tháng 12 năm 2024 và theo quyết định hoãn phiên tòa số 13/2025/QĐHPT - ST ngày 24/01/2024 giữa:

Nguyên đơn: Chị Lường Thị Như Q, sinh năm 1998 (có mặt)

Địa chỉ: Bản Đ, xã N, huyện M, tỉnh Sơn La.

Bị đơn: Anh Trần Văn Đ, sinh năm 1991 (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn B, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và trong các lời khai chị Lường Thị Như Q là nguyên đơn trình bày: Chị kết hôn với anh Trần Văn Đ năm 2018, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, trước khi kết hôn hai bên có thời gian tìm hiểu và tự nguyện kết hôn, sau khi kết hôn thì vợ chồng sống chung cùng bố mẹ chồng tại N, cuộc sống vợ chồng ban đầu có hạnh phúc được hai năm thì vợ chồng không sống chung với nhau, chồng chị đi làm công ty không hay về nhà và ít quan tâm hỏi han đến vợ con, thời gian ở cùng nhau ít nên chồng chị đã chơi bời không chú tâm đến gia đình, nảy sinh nhiều mâu thuẫn. Do không có tiếng nói chung hay xảy ra cãi vã, gia đình hai bên đã nhiều lần hòa giải nhưng không thành. Do không hòa giải được nên vợ chồng chị đã thỏa thuận cho nhau thời gian và sống ly thân từ cuối năm 2022 cho đến nay hôn và đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn.

Về con chung: Anh chị có một con chung Trần Bảo L, sinh ngày 14 tháng 01 năm 2019. Hiện nay con chung đang ở với chị. Nguyện vọng của chị là được nuôi con, chị hiện đang làm công nhân thu nhập 9.000.000đ/tháng đủ điều kiện để nuôi con. Cấp dưỡng nuôi con không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về tài sản chung công nợ chung: Không yêu cầu tòa án giải quyết.

Tại phiên toà chị Q vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Về phía bị đơn anh Trần Văn Đ, Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều nhần nhưng anh Đ không đến Tòa án để trình bày quan điểm đối với yêu cầu khởi kiện của chị Q. Toà án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý, giấy triệu tập, thông báo phiên họp kiểm tra việc tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải. Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng anh Đ vẫn vắng mặt.

Tại phiên tòa hôm nay anh Trần Văn Đ vắng mặt.

Biên bản xác minh ngày 15 tháng 11 năm 2024, ông Nguyễn Văn T, trưởng công an xã N, cho biết, anh Trần Văn Đ, sinh năm 1991, có đăng ký hộ khẩu thường trú tại Ba gò, xã N, huyện L, Bắc Giang, hiện nay anh Đ đang đi làm công ty tại Bắc Ninh, cụ thể địa chỉ ở đâu thì địa phương không nắm được. Chỉ ngày nghỉ và ngày lễ mới về nhà.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm, phát biểu ý kiến:

Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến trước khi mở phiên tòa Thẩm phán và Thư ký tòa án tuân theo đúng trình tự tố tụng. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử sơ thẩm thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về phía các đương sự, nguyên đơn chấp hành nghiêm chỉnh quyền và nghĩa vụ của mình, bị đơn chưa chấp hành nghiêm chỉnh.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, 56, 81,82,83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147; Điều 227; 228; 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/UBTVQH ngày 30/12/2016 xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Lường Thị Như Q được ly hôn anh Trần Văn Đ.

2. Về nuôi con chung: Giao cho chị Q nuôi con Trần Bảo L, sinh ngày 14/01/2019. Cấp dưỡng nuôi con không đề nghị Tòa án giải quyết. Sau khi ly hôn anh Đ được quyền thăm nom con chung không ai được cản trở anh thực hiện quyền này.

Ngoài ra còn đề xuất về án phí và quyền kháng cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra chứng cứ tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, HĐXX nhận thấy:

[1] Về tố tụng: Đơn khởi kiện của chị Lường Thị Như Q và các tài liệu nộp kèm theo đơn khởi kiện là hợp lệ, đảm bảo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về hình thức nội dung đơn khởi kiện. Anh Đ là bị đơn có hộ khẩu thường trú tại Thôn B, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Do đó Tòa án nhân dân huyện Lục Nam thụ lý và giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền. Về phía anh Đ tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng anh Đ không đến Tòa án làm việc cũng như tham gia phiên tòa xét xử. Toà án đã xác minh với chính quyền địa phương nơi anh Ð sinh sống, hiện nay anh Đ đi làm công ty tại Bắc Ninh chỉ ngày nghỉ, ngày lễ, ngày tết mới về nhà, Toà án cũng gửi công văn đến phòng X và nhận được công văn trả lời anh Đ không có thông tin xuất cảnh vì vậy. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228 BLTTDS, HĐXX đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Về nội dung: Chị Q kết hôn với anh Đ năm 2018 trên cơ sở tự nguyện và hợp pháp. Anh chị có đăng ký kết hôn. Cưới xong anh chị về chung sống với nhau ngay và hòa thuận được thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống không có tiếng nói chung cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, không xây dựng hạnh phúc được với nhau, chị Q đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đ, anh Đ biết chị Q gửi đơn ly hôn nhưng anh Đ không đến Tòa án làm việc cũng không đưa ra ý kiến điều đó chứng tỏ anh không có ý định hàn gắn tình cảm. Tại phiên toà chị Q vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. HĐXX thấy cuộc sống vợ chồng giữa chị Q anh Đ mâu thuẫn trầm trọng mục đích hôn nhân không đạt được anh chị đã sống ly thân từ năm 2022 cho đến nay vì vậy cần cho chị Q được ly hôn anh Đ là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

[3] Về con chung: Anh chị có 1 con chung cháu Trần Bảo L, sinh ngày 14/01/2018 hiện cháu đang ở với ở với chị Q. Sau khi ly hôn chị có nguyện vọng được nuôi con. Xét thấy yêu cầu, nguyện vọng của đương sự là chính đáng. Xét thấy là phù hợp với quy định tại Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình. Giao cho chị Q nuôi con Trần Bảo L cấp dưỡng nuôi con chị Q không đề nghị Tòa án giải quyết. Sau khi ly hôn anh Đ được quyền thăm nom con chung không ai được cản trở anh thực hiện quyền này.

[4] Về tài sản, công nợ: Chị Q không đề nghị Tòa án giải quyết, nên HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết.

[5] Về án phí: Chị Q phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81,82,83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2015; Điều 26, Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 272 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về xử lý án phí, lệ phí, tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Lường Thị Như Q được ly hôn anh Trần Văn Đ.

2. Về nuôi con chung: Giao cho chị Lường Thị Như Q nuôi con Trần Bảo L, sinh ngày 14/091/2019. Cấp dưỡng nuôi con không đề nghị Tòa án giải quyết. Sau khi ly hôn anh Đ được quyền thăm nom con chung không ai được cản trở anh thực hiện quyền này.

3.Về án phí: Chị Lường Thị Như Q phải chịu 300.000đ tiền án phí ly hôn nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp tại chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Nam ngày 15/10/2024 theo biên lai thu số 0008479.

4. Về quyền kháng cáo: Báo cho các đương sự có mặt được quyền kháng cáo 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hợp lệ bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND huyện Lục Nam;
  • - Chi cục THADS huyện Lục Nam;
  • - UBND xã Nghĩa Phương;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Lự

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 18/2025/HNGĐ-ST ngày 21/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG về ly hôn

  • Số bản án: 18/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger