|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3- ĐÀ NẴNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 18/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 20 tháng 8 năm 2025
“V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 –ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Hồng Thủy
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Tý
- Bà Nguyễn Thị Hồng
- Thư ký phiên tòa: Bà Lương Lê Ngọc Linh– Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3 - Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Mai Phương - Kiểm sát viên.
Trong ngày 20 tháng 8 năm 2025 tại Hội trường xét xử (cơ sở 1), Tòa án nhân dân khu vực 3 - Đà Nẵng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 111/2025/TLST - HNGĐ ngày 27 tháng 3 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2025/QĐXX- HNGĐ ngày 18 tháng 7 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 04/2025/QĐST - HNGĐ ngày 04 tháng 8 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trịnh Nguyệt K – Sinh năm 1993; Địa chỉ: Tổ B, phường T (cũ), nay là phường T, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.
- Bị đơn: Ông Trịnh Văn T – Sinh năm 1986; Địa chỉ: Địa chỉ: Tổ B, phường T (cũ), nay là phường T, thành phố Đà Nẵng. (Vắng mặt lần thứ hai).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện gửi đến Tòa án, bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Trịnh Nguyệt K trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Trịnh Nguyệt K và ông Trịnh Văn T kết hôn năm 2019, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Thanh Hóa (nay là xá H, tỉnh Thanh Hóa). Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện. Trong quá trình chung sống với nhau, bà K và ông T thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng không hòa hợp, hay cải vã, ông T thường xuyên bỏ nhà đi, không quan tâm, chăm sóc và không có trách nhiệm với gia đình và vợ con. Ông bà đã sống ly thân từ năm 2023 đến nay. Nay bà K nhận thấy không còn tình cảm với ông T, mâu thuẫn vợ chồng đã quá trầm trọng không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông T.
- Về quan hệ con chung: Bà K xác nhận, bà và ông T có 01 con chung tên Trịnh Minh A - Sinh ngày 27/12/2021. Ly hôn, bà K có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung và không yêu cầu ông T cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Hiện nay, con chung đang sống cùng với bà K tại địa chỉ tổ B, phường T (cũ), nay là phường T, thành phố Đà Nẵng.
- Về tài sản chung: Bà K xác nhận bà và ông T tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Về nợ chung: Bà K xác nhận bà và ông T không nợ ai và không ai nợ vợ chồng bà.
* Bị đơn ông Trịnh Văn T: Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tống đạt Thông báo thụ lý vụ án, Giấy triệu tập lấy lời khai, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo hoãn phiên họp họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và tiến hành các thủ tục đăng tin tìm kiếm trên phương tiện thông tin đại chúng nhưng ông T vắng mặt cũng như không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà K nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của ông T.
* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3:
- Về thủ tục tố tụng:
+ Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:
Quá trình Tòa án thụ lý giải quyết cũng như tại phiên tòa ngày hôm nay Thẩm phán, HĐXX và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, việc giải quyết vụ án được thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự, đảm bảo cho các đương sự được thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình.
+ Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:
Quá trình Tòa án thụ lý giải quyết cũng như tại phiên tòa ngày hôm nay nguyên đơn đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 70, 71, 234 Bộ luật tố tụng dân sự. Còn bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không có ý kiến trình bày quan điểm về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và không tham gia quá trình tố tụng là không thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 70, 72, 234 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về quan điểm đối với việc giải quyết vụ án: Đối với yêu cầu xin ly hôn và nuôi con chung của bà Trịnh Nguyệt K đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng 56,81,82,83 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của bà K. Đề nghị HĐXX xử cho bà K ly hôn với ông Trịnh Văn T và giao con chung tên Trịnh Minh A - Sinh ngày 27/12/2021 cho bà K trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ tuổi trưởng thành (18 tuổi), bà K không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, đây là vụ án tranh chấp ly hôn, nuôi con chung, bị đơn ông Trịnh Văn T có cư trú tại khu V, thành phố Đà Nẵng nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 3, Đà Nẵng. Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án nhân dân khu vực 3 đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông Trịnh Văn T vẫn vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Trịnh Văn T theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự .
[2] Về nội dung tranh chấp của vụ án:
Tại phiên toà bà Trịnh Nguyệt K giữ nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân khu vực 3, Đà Nẵng giải quyết cho bà K được ly hôn ông Trịnh Văn T.
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Trịnh Nguyệt K và ông Trịnh Văn T xây dựng gia đình vào năm 2019, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Thanh Hóa (nay là xá H, tỉnh Thanh Hóa). Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có thời gian tìm hiểu yêu thương nhau. Việc kết hôn giữa bà K và ông T là hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc và không trái với quy định của pháp luật nên quan hệ hôn nhân giữa bà K và ông T là hoàn toàn hợp pháp.
Xét thấy trong đơn khởi kiện gửi đến Tòa án, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, bà K xác nhận trong quá trình chung sống vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân chủ yếu là do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau, nguyên nhân là do vợ chồng hay cải vã, ông T đi hay bỏ nhà đi, không quan tâm đến gia đình, vợ con. Hiện nay, bà K và ông T đã sống ly thân được hơn 02 năm. Bà K xác định không còn tình cảm vợ chồng với ông T nên mong muốn được ly hôn.
Trong quá trình giải quyết vụ án, tại các phiên hòa giải cũng như tại phiên tòa hôm nay, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông Trịnh Văn T đều vắng mặt và cũng không trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu ly hôn của bà V. Điều này thể hiện ông T không có thiện chí muốn hàn gắn hạnh phúc gia đình. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn của vợ chồng bà K và ông T đã đến mức trầm trọng, đời sống chung thực tế đã không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần áp dụng Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của bà Trịnh Nguyệt K đối với ông Trịnh Văn T.
[2.2] Về quan hệ con chung: Bà Trịnh Nguyệt K và ông Trịnh Văn T có 01 con chung tên Trịnh Minh A - Sinh ngày 27/12/2021. Quá trình giải quyết vụ án, bà K xác nhận con chung đang sống ổn định với bà nên bà có nguyện vọng nuôi dưỡng con đến khi đủ tuổi trưởng thành và không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung.
Xét yêu cầu giao con chung của bà K thì thấy: Trong quá trình giải quyết vụ án, ông T vắng mặt và không có ý kiến gì về việc bà K có nguyện vọng trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con. Ngoài ra, hiện nay các con chung của ông T và bà K đang được bà K trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng rất cần sự chăm sóc của mẹ nên xử chấp nhận theo nguyện vọng của bà K, giao chung cho bà K chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con đủ tuổi thành niên (18 tuổi). Bà K không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con và ông T không có ý kiến gì về vấn đề này nên HĐXX xét xử không xem xét.
[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Bà Trịnh Nguyệt K xác định, bà và ông T không có. Quá trình giải quyết vụ án ông T vắng mặt và không có ý kiến gì đối với vấn đề tài sản chung và nợ chung nên HĐXX không đề cập. Nếu sau này, bà K và ông T có tranh chấp về phần tài sản chung và nợ chung thì có quyền khởi kiện bằng vụ án dân sự khác.
[3] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Trịnh Nguyệt K phải chịu 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 227, 235, 266 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 51, 56, 58, 81, 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện về việc “Ly hôn, nuôi con chung” của bà Trịnh Nguyệt K đối với ông Trịnh Văn T.
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Trịnh Nguyệt K – Sinh năm 1993 được ly hôn ông Trịnh Văn T – Sinh năm 1986.
(Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 46 ngày 27/12/2019 của Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Thanh Hóa không còn giá trị kể từ ngày Bản án này có hiệu lực pháp luật).
2. Về quan hệ con chung: Giao con chung tên con chung tên Trịnh Minh A - Sinh ngày 27/12/2021 cho bà Trịnh Nguyệt K trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cho đến khi con chung trưởng thành, đủ 18 tuổi. Ông Trịnh Văn T không cấp dưỡng nuôi con.
Các bên đương sự có mọi quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật. Khi vì lợi ích con chung, các bên đương sự có quyền xin thay đổi người nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
3. Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Trịnh Nguyệt K phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0006289 ngày 26/3/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Thanh Khê, Đà Nẵng (Nay là phòng thi hành án dân sự khu vực 3, Đà Nẵng). Bà K đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết công khai.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa |
|
|
Trương Thị Hồng Thủy |
Nơi nhận:
- - Các đương sự;
- - VKSND khu vực 3 ;
- - Phòng THADS khu vực 3 ;
- - Sở tư pháp;
- - UBND xã Hợp Thành, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hoá (Nay là Hợp Tiến, tỉnh Thanh Hoà);
- - Lưu hồ sơ vụ án.
Bản án số 18/2025/HNGĐ-ST ngày 20/08/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – ĐÀ NẴNG về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung
- Số bản án: 18/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/08/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận đơn khởi kiện về việc “Ly hôn, nuôi con chung” của bà Trịnh Nguyệt K đối với ông Trịnh Văn T.
