Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN QUỲNH PHỤ

TỈNH THÁI BÌNH

Bản án số: 18/2025/HNGĐ-ST

Ngày 19 tháng 3 năm 2025

“V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con chung"

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Quốc Doanh.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Đinh Thế Cần;
  2. Bà Nguyễn Thị Hường.

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Vũ Minh Thành - Thư ký Toà án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Vũ Công Huân - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 230/2024/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 11 năm 2024 về tranh chấp hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2025/QĐXX-ST ngày 25/02/2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 15/2025/QĐST-HNGĐ ngày 13 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:

  • Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị L, sinh năm 1976
  • Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1976

Cùng cư trú: Thôn Đ, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình.

(Chị L có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Đ vắng mặt không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, các tài liệu chứng cứ đã xuất trình thì nguyên đơn chị Hoàng Thị L có yêu cầu khởi kiện và trình bày tại đơn xin xét xử vắng mặt như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn Đ tự do, tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn vào ngày 19/8/1998 tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại xã Q và lao động tự do. Quá trình chung sống đến tháng 5/2016 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp bất đồng quan điểm sống. Vợ chồng ly thân từ tháng 5/2016 đến nay mỗi người sống một nơi. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn mục đích hôn nhân không đạt được chị đề nghị Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ giải quyết cho chị được ly hôn anh Đ.

Về con chung: Chị L và anh Đ có 02 con chung là Nguyễn Hải L1, sinh ngày 27/9/2007 và Nguyễn Thị N, sinh ngày 09/7/1999. Ly hôn chị L đề nghị con N đã trưởng thành không yêu cầu tòa án giải quyết, chị L xin được nuôi cháu L1 và không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con chung. Hiện tại chị L không có thai nghén gì. Chị L đang lao động tự do, thu nhập 01 tháng là 8.000.000 đồng/tháng.

Về tài sản chung: Chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh Nguyễn Văn Đ vắng mặt không có ý kiến trình bày.

Tại biên bản lấy lời khai cháu Nguyễn Hải L1 trình bày: Cháu Nguyễn Hải L1, sinh ngày 27/9/2007 là con đẻ của chị Hoàng Thị L và anh Nguyễn Văn Đ. Hiện cháu L1 đang học lớp 12A2 trường Trung học phổ thông N1, huyện Q, tỉnh Thái Bình. Nếu chị L, anh Đ ly hôn thì cháu L1 có nguyện vọng ở cùng chị Hoàng Thị L.

- Tại biên bản xác minh với gia đình anh Nguyễn Văn Đ thể hiện: Chị Hoàng Thị L và anh Nguyễn Văn Đ là vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q vào ngày 19/8/1998. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống tại gia đình anh Đ và lao động tự do. Quá trình chung sống đến tháng 5/2016 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp, hiện chị L và anh Đ đã sống ly thân từ tháng 05/2016 cho đến nay mỗi người sống một nơi. Nay chị L có đơn xin ly hôn đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Về con chung: Chị L và anh Đ có 02 con chung là Nguyễn Hải L1, sinh ngày 27/9/2007 và Nguyễn Thị N, sinh ngày 09/7/1999, ly hôn đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật. Về tài sản chung: Gia đình không nắm rõ.

Hiện anh Đ làm nghề lái xe thường thì sáng đi, tối về. Gia đình đã nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án gửi cho anh Đ và đã giao lại, thông báo cho anh Đ biết việc chị L xin ly hôn. Quan điểm của anh Đ là muốn vợ chồng đoàn tụ nếu chị L kiên quyết ly hôn thì giải quyết theo nguyện vọng chị L. Anh Đ đề nghị giao con chung cho chị L nuôi dưỡng, anh không phải cấp dưỡng nuôi con chung, vợ chồng không có tài sản chung.

- Tại biên bản xác minh với cơ sở thôn Đ, xã Q; cán bộ tư pháp xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình thể hiện:

Chị Hoàng Thị L và anh Nguyễn Văn Đ là vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q vào ngày 19/8/1998. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống tại xã Q và lao động tự do. Quá trình chung sống có phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp, vợ chồng đã ly thân từ năm 2016 cho đến nay mỗi người sống một nơi. Nay chị L có đơn xin ly hôn đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Về con chung: Chị L và anh Đ có 02 con chung là Nguyễn Hải L1, sinh ngày 27/9/2007 và Nguyễn Thị N, sinh ngày 09/7/1999, ly hôn đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật. Về tài sản chung: Cơ sở không nắm rõ.

- Tại phiên toà, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình phát biểu quan điểm: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Nguyên đơn đã chấp hành đúng pháp luật trong quá trình tham gia tố tụng. Bị đơn không tham gia tố tụng là thể hiện chấp hành chưa tốt pháp luật tố tụng dân sự. Về ý kiến giải quyết vụ án, Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án giải quyết theo hướng: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Hoàng Thị L: Xử cho chị L được ly hôn anh Đ; giao con chung Nguyễn Hải L1, sinh ngày 27/9/2007 cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung 18 tuổi, anh Đ không phải góp cấp dưỡng nuôi con chung do chị L không yêu cầu. Anh Đ có quyền đi lại thăm nom con chung; Chị L phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Đại diện Viện kiểm sát không có yêu cầu, kiến nghị gì thêm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung giữa chị Hoàng Thị L và anh Nguyễn Văn Đ là tranh chấp hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn có địa chỉ thường trú tại xã Q, huyện Q nên Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh Đ như: Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa... nhưng anh Đ vắng mặt không có lý do, chị L có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện việc thu thập chứng cứ, xác minh về tình trạng hôn nhân, điều kiện nuôi dưỡng con chung và địa chỉ của bị đơn, vì vậy Viện kiểm sát tham gia phiên toà là đúng theo Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy, quan hệ hôn nhân của chị L, anh Đ được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình vào ngày 19/8/1998 là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn và chung sống được một thời gian thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 5/2016 đến nay không quan tâm đến nhau. Quá trình Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án, mặc dù biết được việc chị L đề nghị ly hôn; anh Đ không đồng ý ly hôn nhưng anh Đ cũng không có biện pháp nào để hàn gắn quan hệ hôn nhân, mỗi người sống một nơi. Như vậy, có cơ sở để xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa chị L, anh Đ đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị L, xử cho chị được ly hôn anh Đ là phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

[3] Về quan hệ con chung: Chị Hoàng Thị L và anh Nguyễn Văn Đ có 02 con chung là Nguyễn Hải L1, sinh ngày 27/9/2007 và Nguyễn Thị N, sinh ngày 09/7/1999. Ly hôn Chị L, anh Đ đều đề nghị giao con chung cho chị L nuôi dưỡng, anh Đ không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Xét thấy, nguyện vọng nuôi con chung của chị L là chính đáng, chị L có công việc, thu nhập ổn định, cháu L1 có nguyện vọng ở cùng chị L. Do đó, để đảm bảo quyền lợi tốt nhất của con chung, Hội đồng xét xử cần giao cho chị Hoàng Thị L trực tiếp nuôi con Nguyễn Hải L1, sinh ngày 27/9/2007; anh Đ không phải cấp dưỡng nuôi con chung, đối với Nguyễn Thị N, sinh ngày 09/7/1999 đã trưởng thành và tự lập nên không đặt ra giải quyết. Anh Đ có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung.

[4] Về tài sản chung, nợ chung: Chị Hoàng Thị L, anh Nguyễn Văn Đ không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

[5] Về án phí và quyền kháng cáo: Chị Hoàng Thị L phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật; các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Hoàng Thị L được ly hôn anh Nguyễn Văn Đ.
  2. Về quan hệ con chung: Xử giao cho chị Hoàng Thị L trực tiếp nuôi con Nguyễn Hải L1, sinh ngày 27/9/2007; anh Nguyễn Văn Đ không phải cấp dưỡng nuôi con chung, đối với con Nguyễn Thị N, sinh ngày 09/7/1999 đã trưởng thành và tự lập nên không đặt ra giải quyết. Anh Đ có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung. Hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, yêu cầu thay đổi về cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
  3. Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra giải quyết.
  4. Về án phí: Chị Hoàng Thị L phải nộp 300.000₫ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) chị L đã nộp theo Biên lai thu số 0004910 ngày 01/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình được chuyển thành tiền án phí dân sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Chị Hoàng Thị L, anh Nguyễn Văn Đ có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết hợp lệ bản án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - VKSND huyện Quỳnh Phụ;
  • - Chi cục THADS h. Quỳnh Phụ;
  • - UBND xã Q, huyện Quỳnh Phụ;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Quốc Doanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 18/2025/HNGĐ-ST ngày 19/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 18/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hôn nhân và gia đình giữa chị L và anh D
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger