TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 18/2025/HNGĐ-ST
ngày 18/03/2025
V/v “Tranh chấp về
Hôn nhân và gia đình”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH – TỈNH NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Thái
Các Hội thẩm nhân dân: ông Trần Quốc Đấu – ông Nguyễn Công Thẩm
Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Mai An – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vinh, Nghệ An
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh tham gia phiên tòa: ông Trần Văn Hội - Kiểm sát viên.
Trong ngày 18/03/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 402/2024/TLST - HNGĐ ngày 12/11/2024 về tranh chấp Hôn nhân và gia đình. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số:06/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 10/02/2025, theo Quyết định hoãn phiên tòa số 11/2025/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Vũ Đại D – sinh năm 1983
Nơi ĐKNKTT: K, phường Đ, thành phố V, Nghệ An
Có mặt.
Bị đơn: Bà Trần Thị Ngọc O – sinh 1988
Nơi ĐKNKTT: khối A, phường T, thành phố V, Nghệ An
Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Căn cứ vào đơn khởi kiện và những lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án, tại đơn xin xét xử vắng mặt nguyên đơn là ông Vũ Đại D trình bày:
Về quan hệ tình cảm:
Ông Vũ Đại D và bà Trần Thị Ngọc O kết hôn ngày 04 tháng 8 năm 2014. Hôn nhân tự nguyện tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại UBND phường T, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Trong quá trình chung sống do mâu thuẫn kéo dài nhiều năm hai vợ chồng không có tiếng nói chung thời gian từ tháng 7 năm 2018 đến nay, cả hai đã tranh luận thẳng thắn với nhau nhiều lần trong nhiều năm nhưng không thành không giải quyết được vấn đề mâu thuẫn. Sống ly thân từ tháng 8 năm 2018 cho đến nay.
Ông Vũ Đại D xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã kéo dài và trầm trọng, tình cảm thực sự không còn nữa nên làm đơn xin ly hôn, yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông D được ly hôn với bà Trần Thị Ngọc O để sớm ổn định cuộc sống của bản thân và yên tâm làm ăn nuôi dạy các con trưởng thành.
Về con chung:
Vợ chồng có 01 con chung là cháu Vũ Diệp Thảo C, sinh ngày 19/7/2017, hiện đang đang sống cùng bà T, khi ly hôn ông S đồng ý để con chung cho bà T trực tiếp nuôi dương, ông D cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 3.000.000 đồng kể từ tháng 4/2025.
Về tài sản chung:
Vợ chồng tự thỏa thuận phân chia không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn là bà Trần Thị Ngọc O, vắng mặt tại phiên tòa, quá trình tố tụng trình bày:
Về quan hệ tình cảm:
Bà Trần Thị Ngọc O thừa nhận hai bên không còn tình cảm, tiếng nói chung, đã sống ly thân.
Về con chung:
Vợ chồng có 01 con chung là cháu Vũ Diệp Thảo C, sinh năm 2017 đang sống với bà T tại khối A, phường T, thành phố V.
Về tài sản chung:
Vợ chồng tự thỏa thuận phân chia không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án như sau: Toà án thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, Thẩm phán, Hội đồng xét xử thực hiện các bước tố tụng đúng theo quy định của pháp luật, nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng, bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng. Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của đương sự, kiểm sát viên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An theo khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa, Tòa án đã chuyển giao quyết định hoãn phiên tòa đúng quy định nên xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định của pháp luật.
[2] Về quan hệ hôn nhân:
Ông Vũ Đại D và bà Trần Thị Ngọc O tự nguyện đi đến hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố V, tỉnh Nghệ An ngày 04/08/2014, như vậy là hợp pháp cần được bảo vệ. Tuy nhiên, trong quá trình chung sống do mâu thuẫn kéo dài nhiều năm hai vợ chồng không có tiếng nói chung, vợ chồng sống ly thân từ tháng 8 năm 2018 cho đến nay. Quá trình tố tụng, bà Trần Thị Ngọc O thừa nhận hai bên không còn tình cảm, đã sống ly thân. Xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa Ông Vũ Đại D và bà Trần Thị Ngọc O đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Vũ Đại D. Cần xử cho ông Vũ Đại D được ly hôn với bà Trần Thị Ngọc O.
[3] Về con chung:
Vợ chồng có 01 con chung là cháu Vũ Diệp Thảo C, sinh ngày 19/7/2017, hiện đang đang sống cùng bà T, khi ly hôn ông D đồng ý để con chung cho bà T trực tiếp nuôi dương, ông D cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 3.000.000 đồng kể từ tháng 4/2025. Quá trình tố tụng bà T thừa nhận đang trực tiếp chăm sóc con chung. Xét thấy, nguyện vọng của các đương sự là chính đáng, nên Hội đồng xét xử chấp nhận, giao cháu Vũ Diệp Thảo C, sinh ngày 19/7/2017 cho bà Trần Thị Ngọc O trực tiếp nuôi dưỡng trưởng thành. Buộc ông Vũ Đại D cấp dưỡng nuôi con cùng bà T mỗi tháng 3.000.000 đồng, kể từ tháng 4 năm 2025 cho đến khi cháu đủ tuổi trưởng thành.
[4] Về tài sản chung:
Các bên thỏa thuận tự phân chia không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.
Tại phiên tòa kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét về quan hệ hôn nhân, nuôi con chung. Xét thấy, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà là có căn cứ theo quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm:
Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5, 6 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ông Vũ Đại D phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm, chịu án phí cấp dưỡng nuôi con chung.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147; điều 202; khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228; khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, điều 107, 110, 117 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5, 6 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Vũ Đại D và xử như sau:
[1] Về quan hệ hôn nhân:
Xử cho ông Vũ Đại D được ly hôn với bà Trần Thị Ngọc O.
[2] Về con chung:
Giao con chung cháu Vũ Diệp Thảo C, sinh ngày 19/7/2017 cho bà Trần Thị Ngọc O trực tiếp nuôi dưỡng trưởng thành. Buộc ông Vũ Đại D phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng bà Trần Thị Ngọc O số tiền 3.000.000 đồng (ba triệu đồng chẵn)/ tháng kể từ tháng 4 năm 2025 cho đến khi cháu đủ tuổi trưởng thành.
Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án đối với khoản tiền cấp dưỡng nuôi con cho đến khi thi hành xong. Hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
[3] Về tài sản chung:
Các bên thửa thuận tự phân chia không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.
[5] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, án phí cấp dưỡng nuôi con chung:
Ông Vũ Đại D phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) ông Vũ Đại D đã nộp tạm ứng án phí theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004893 ngày 07/11/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Vinh, Nghệ An. Ông Vũ Đại D phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con chung.
[6] Về quyền kháng cáo:
Ông Vũ Đại D có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bà Trần Thị Ngọc O có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc niêm yết bản án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Hữu Thái |
Bản án số 18/2025/HNGĐ-ST ngày 18/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH – TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp về hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 18/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về Hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH – TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
