|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH TỈNH CÀ MAU Bản án số: 18/2025/HNGĐ-ST Ngày: 18-02-2025 Về việc “Xin ly hôn” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Nghi.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đỗ Minh Lắm.
Ông Trần Công Đẳng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Gia Mẫn là Thư ký Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau.
Ngày 18 tháng 02 năm 2025 tại Tòa án nhân dân huyện U Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 401/2024/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 11 năm 2024 về việc “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Sơn Mộng M, sinh năm 1993 (có đơn xin vắng mặt).
Nơi cư trú: Ấp R, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà M: Bà Nguyễn Thị Cẩm H, sinh năm 1984 (có mặt).
Địa chỉ: Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh C.
Bị đơn: Ông Nguyễn Thế S, sinh năm 1992 (có mặt).
Nơi cư trú: Ấp A, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 30 tháng 10 năm 2024, bà Sơn Mộng M trình bày:
Về hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Thế S tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau vào ngày 17/12/2015. Vợ chồng chung sống hạnh phúc và có 01 người con chung nhưng thời gian gần đây vợ chồng luôn bất đồng quan điểm với nhau trong cách sống dẫn đến phát sinh nhiều mâu thuẫn không thể hàn gắn nên bà và ông S đã ly thân với nhau từ năm 2020 đến nay. Nay bà và ông Nguyễn Thế S không còn tình cảm, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc nên yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Thế S.
Về nuôi con chung: Bà và ông Nguyễn Thế S có 01 người con chung tên Nguyễn Quốc K, sinh ngày 19/6/2017. Sau khi ly hôn bà yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung và không yêu cầu ông S cấp dưỡng.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có không yêu cầu giải quyết.
* Tại phiên tòa ông Nguyễn Thế S trình bày: Ông và bà S Mộng Mơ tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2015 có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Trong quá trình chung sống vợ chồng cũng phát sinh mâu thuẫn và đã ly thân từ năm 2020 cho đến nay. Nay bà M xin ly hôn ông đồng ý ly hôn với bà M.
Về nuôi con chung: Ông và bà S Mộng Mơ có 01 người con chung tên Nguyễn Quốc K, sinh ngày 19/6/2017 hiện đang sống cùng với ông và cha mẹ ông. Sau khi ly hôn ông yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung và không yêu cấp dưỡng.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.
* Tại phiên tòa người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Sơn Mộng M đề nghị: Áp dụng khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81, điều 82 và điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 7 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao: Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Sơn Mộng M với ông Nguyễn Thế S; Về nuôi con chung: Xem xét theo nguyện vọng của con chung tên Nguyễn Quốc K, sinh ngày 19/6/2017.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Bà Sơn Mộng M khởi kiện yêu cầu xin ly hôn với ông Nguyễn Thế S, địa chỉ cư trú: Ấp A, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Ngày 06/02/2025, bà Sơn Mộng M có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự xét xử vắng mặt đối với bà M.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về hôn nhân: Bà Sơn Mộng M và ông Nguyễn Thế S tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau nên hôn nhân giữa bà M và ông S là hôn nhân hợp pháp được pháp luật thừa nhận. Bà M xác định vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian nhưng thời gian gần đây vợ chồng luôn bất đồng quan điểm với nhau trong cách sống dẫn đến phát sinh nhiều mâu thuẫn không thể hàn gắn nên bà và ông S đã ly thân với nhau từ năm 2020 đến nay và hiện bà không còn tình cảm với ông S nên yêu cầu ly hôn. Tại phiên tòa ông Nguyễn Thế S đồng ý ly hôn với bà Sơn Mộng M. Từ đó, cho thấy thuẫn giữa bà M và ông S đã mâu thuẫn trầm trọng, cuộc sống hôn nhân không thể hàn gắn được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Sơn Mộng M về việc xin ly hôn với ông Nguyễn Thế S.
Cho bà Sơn Mộng M được ly hôn với ông Nguyễn Thế S (bà M và ông S có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau theo giấy chứng nhận kết hôn số 145/2015 ngày 17/12/2015).
[2.2] Về nuôi con chung: Bà Sơn Mộng M và ông Nguyễn Thế S có 01 người con chung tên Nguyễn Quốc K, sinh ngày 19/6/2017. Bà M và ông S đều có yêu cầu được nuôi con chung. Mặc dù, bà M có công việc và chổ ở ổn định đảm bảo điều kiện để nuôi con chung và tại đơn trình bày nguyện vọng ngày 20/12/2024 con chung tên Nguyễn Quốc K có nguyện vọng ở với bà M. Tuy nhiên, từ khi ly hôn cho đến nay con chung sống cùng với ông Nguyễn Thế S và tại đơn nguyện vọng ngày 17/02/2025 con chung tên Nguyễn Quốc K, sinh ngày 19/6/2017 thay đổi ý kiến và có nguyện vọng được ở với ông Nguyễn Thế S vì con chung Nguyễn Quốc K xác định trước đây có nguyện vọng ở với bà M nhưng bà M không trực tiếp chăm sóc cho con chung nên con chung Nguyễn Quốc K có nguyện vọng ở với ông S vì ông S có điều kiện chăm sóc hơn. Do đó, Hội đồng xét xử giao con chung cho ông Nguyễn Thế S trực tiếp nuôi là phù hợp với nguyện vọng của con chung.
Bà Sơn Mộng M không trực tiếp nuôi con chung có quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở bà M thực hiện quyền này nhưng bà M không được lạm dụng quyền thăm con để cản trở việc chăm sóc, nuôi dưỡng con của ông Nguyễn Thế S.
[2.3] Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Ông Nguyễn Thế S không yêu cầu nên không xem xét.
[2.4] Về tài sản chung, nợ chung: Không có không yêu cầu nên không xem xét.
[3] Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm bà Sơn Mộng M phải chịu 300.000 đồng. Ngày 04 tháng 11 năm 2024, bà M đã dự nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0006792 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện U Minh được chuyển thu.
[4] Về quyền kháng cáo: Bản án sơ thẩm ông Nguyễn Thế S có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bà Sơn Mộng M có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Áp dụng các Điều 53, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Sơn Mộng M về việc xin ly hôn với ông Nguyễn Thế S.
Cho bà Sơn Mộng M được ly hôn với ông Nguyễn Thế S (bà M và ông S có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau theo giấy chứng nhận kết hôn số 145/2015 ngày 17/12/2015).
Về nuôi con chung: Giao con chung tên Nguyễn Quốc K, sinh ngày 19/6/2017 cho ông Nguyễn Thế S trực tiếp nuôi.
Bà Sơn Mộng M không trực tiếp nuôi con chung có quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở bà M thực hiện quyền này nhưng bà M không được lạm dụng quyền thăm con để cản trở việc chăm sóc, nuôi dưỡng con của ông Nguyễn Thế S.
Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm bà Sơn Mộng M phải chịu 300.000 đồng. Ngày 04 tháng 11 năm 2024, bà M đã dự nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0006792 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện U Minh được chuyển thu.
Bản án sơ thẩm ông Nguyễn Thế S có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bà Sơn Mộng M có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hồng Nghi |
Bản án số 18/2025/HNGĐ-ST ngày 18/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH, TỈNH CÀ MAU về xin ly hôn
- Số bản án: 18/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xin ly hôn
